TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ NGA
TÍCH HỢP HƢỚNG DẪN
HỌC SINH THPT RÚT RA BÀI HỌC
NHẬN THỨC TRONG GIỜ NGHỊ LUẬN
VỀ MỘT TƢ TƢỞNG, ĐẠO LÍ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ NGA
TÍCH HỢP HƢỚNG DẪN
HỌC SINH THPT RÚT RA BÀI HỌC
NHẬN THỨC TRONG GIỜ NGHỊ LUẬN
VỀ MỘT TƢ TƢỞNG, ĐẠO LÍ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. PHẠM KIỀU ANH
HÀ NỘI, 2015
Câu hỏi
ĐHSP
Đại học Sƣ phạm
GD & ĐT
Giáo dục và đào tạo
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
NXB
Nhà xuất bản
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
CHƢƠNG 1 ..............................................................................................................10
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ............................................................10
1.1. Những cơ sở lí luận của tâm lí và giáo dục học .................................................10
1.1.1. Cơ sở giáo dục học ..........................................................................................10
1.1.2. Cơ sở tâm lí học ..............................................................................................13
1.2. Những cơ sở lí luận của nghị luận về một tƣ tƣởng, đạo lí ................................16
1.2.1. Khái niệm nghị luận về một tư tưởng, đạo lí ..................................................16
1.2.2. Đặc điểm của kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí ...............................17
1.3. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................................19
1.3.1. Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí”
ở trường THPT ..........................................................................................................19
1.3.2. Đánh giá chung ...............................................................................................24
CHƢƠNG 2 ..............................................................................................................25
HƢỚNG DẪN HỌC SINH RÚT RA BÀI HỌC NHẬN THỨC .............................25
TRONG GIỜ NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƢ TƢỞNG, ĐẠO LÍ ................................25
2.1. Mục đích của việc dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” ................25
2.2. Cấu trúc bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” .............................................25
2.3. Cơ sở xác định nội dung giáo dục con ngƣời học sinh trong bài “Nghị luận về
một tư tưởng, đạo lí” .................................................................................................26
2.3.1. Những yêu cầu cần đạt trong bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” .........26
2.3.2. Đối tượng được bàn luận trong kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí”...31
2.4. Xác định nội dung kiến thức có thể rút ra bài học nhận thức cho học sinh trong
giờ “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” ...................................................................35
2.4.1. Rút ra bài học nhận thức cho học sinh khi phân tích ngữ liệu .......................35
2.4.2. Giáo dục con người học sinh khi liên hệ bản thân .........................................37
2.4.3 Giáo dục con người học sinh khi thực hiện các bài tập luyện tập ...................37
2.5. Quy trình dạy bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” gắn với mục đích giáo
dục HS .......................................................................................................................40
liên kết giữa các phân môn; giữa các bộ môn có liên quan; giữa các phân môn, bộ
môn có quan hệ hỗ trợ nhau tạo thành một thể thống nhất nhằm tránh tình trạng học
tách biệt, riêng rẽ giữa các phân môn trong bộ môn; qua đó rèn kĩ năng liên môn,
xuyên môn để ngƣời học phát huy khả năng tƣ duy sáng tạo, tƣ duy tổng hợp để vận
dụng vào thực tiễn ở mức độ, bình diện khác nhau. Có rất nhiều hình thức tích hợp
đƣợc đƣa ra, song có ba hình thức cơ bản đó là tích hợp ngang, tích hợp dọc và tích
hợp mở rộng. Đối với môn Ngữ văn, tích hợp mở rộng là sự tích hợp giữa các kiến
thức của bài học Ngữ văn với kiến thức đời sống. Đặc biệt là những phong tục, tập
quán, đạo đức, quan niệm sống mà học sinh (HS) đã tích lũy đƣợc từ xã hội, từ đó
làm giàu vốn hiểu biết và góp phần hình thành nhân cách cho các em. Nhƣ vậy,
thông qua cách tích hợp đơn môn, đa môn, liên môn và xuyên môn, HS sẽ đƣợc
trang bị một vốn tri thức toàn diện cả về kiến thức, kĩ năng cũng nhƣ thái độ một
cách tối ƣu và khoa học nhất tránh đƣợc tình trạng lặp lại kiến thức.
Làm văn là một trong “tam vị nhất thể” của môn Ngữ văn bậc THCS và
THPT. Theo đó, các đơn vị kiến thức thuộc phần Làm văn hiện nay ở THCS, THPT
1
đƣợc triển khai tích hợp với Tiếng Việt và Đọc hiểu văn bản. Dạy học Làm văn theo
quan điểm tích hợp sẽ giúp ích việc dạy học, cái này đƣợc học thông qua cái kia và
ngƣợc lại. Nhƣ vậy, sẽ tránh đƣợc những vƣớng mắc dƣ thừa chồng chéo nội dung
trong quá trình dạy Đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt, Làm văn nhƣ trƣớc đây. Bản chất
của quá trình dạy học làm văn là trang bị cho các em những hiểu biết về các kiểu
văn bản. Từ đó, cung cấp những kĩ năng thiết yếu của việc tạo lập các kiểu văn bản
để các em biết sử dụng những kĩ năng đó trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, cùng với
quan niệm học văn là học những điều cơ bản về cuộc sống, để HS trở thành những
công dân có ích của xã hội, những đơn vị kiến thức và kĩ năng của làm văn cũng có
những phần gắn liền với thực tế cuộc sống. Nghị luận xã hội - trong đó có nghị luận
về một tƣ tƣởng, đạo lí đƣợc triển khai cũng nhằm mục đích đó.
với các thầy cô giáo, bỏ học la cà quán xá, gây gổ đánh nhau, sa vào các tệ nạn xã
hội, thậm chí phạm tội không phải hiếm gặp. Nguyên nhân của tình trạng này thì có
nhiều nhƣng điều dễ nhận thấy ở tuổi “tập” làm ngƣời lớn nhận thức của các em
thƣờng chịu ảnh hƣởng rất lớn của môi trƣờng xung quanh. Trong khi đó, thực tế xã
hội hiện nay vẫn còn một bộ phận ngƣời bị suy thoái đạo đức dƣới tác động tiêu cực
của mặt trái cơ chế kinh tế thị trƣờng. Điều này đã tác động tiêu cực đến việc tu
dƣỡng rèn luyện đạo đức của đa số HS. Chƣơng trình Làm văn hiện nay ở THCS,
THPT không còn là một môn độc lập nhƣ trƣớc nữa mà đƣợc tích hợp với Tiếng Việt
và Đọc hiểu văn bản. Vì vậy, việc tăng cƣờng giáo dục đạo đức, bồi dƣỡng nhân cách
HS hiện nay là vấn đề vô cùng quan trọng, là trách nhiệm của gia đình, nhà trƣờng và
toàn xã hội. Là một sinh viên chuyên ngành sƣ phạm Ngữ văn sẽ trực tiếp giảng dạy
trong nhà trƣờng THPT, tôi nhận thấy việc giáo dục HS cũng là một trong những mục
đích quan trọng trong từng bài cụ thể.
1.3. Trong thời gian gần đây, giáo dục Việt Nam đang từng bƣớc thay đổi
theo tinh thần Nghị quyết IX của Trung ƣơng Đảng, với tinh thần “đổi mới căn bản
và toàn diện” giáo dục. Bàn về định hƣớng đổi mới giáo dục trong giai đoạn sắp tới,
Thứ trƣởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển cho biết: Chương trình đổi
mới tiếp cận theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho người học; không
chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức,
kĩ năng, thái độ, tình cảm, động cơ...vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống
hàng ngày. Tiếp cận theo hướng năng lực đòi hỏi HS làm, vận dụng được gì hơn là
3
HS biết những gì. Tránh tình trạng biết rất nhiều nhưng làm, vận dụng không được
bao nhiêu, biết những điều rất cao siêu, nhưng không làm được những việc hết sức
thiết thực đơn giản trong cuộc sống thường nhật... Nhận định này đã thể hiện khá rõ
vai trò của giáo dục trƣớc đây cũng nhƣ những nhiệm vụ cần thiết trong giai đoạn
sắp tới. Giáo dục Việt Nam trƣớc kia chủ yếu quan tâm tới hệ thống khối lƣợng
Nhƣ vậy, các vấn đề tƣ tƣởng, đạo lí đƣợc con ngƣời vận dụng và ứng xử trong
cuộc sống hiện đại cũng là một phạm vi đƣợc luận bàn trong nghị luận xã hội.
Trong chƣơng trình Ngữ văn, nghị luận về một tƣ tƣởng, đạo lí đƣợc triển khai dạy
từ THCS và THPT. Theo đó, đã có một số nhà khoa học nghiên cứu về việc dạy học
kiểu bài này, có thể kể tới những công trình nhƣ:
Trong cuốn Làm văn do Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) các tác giả đã chỉ rõ
Nghị luận chính trị - xã hội là loại đề yêu cầu bàn bạc về một vấn đề chính trị, đạo
đức, luân lí hay một vấn đề xã hội [16, 229]. Ở đây, các tác giả chỉ ra các phạm trù
của nghị luận xã hội nhƣng chƣa đề ra đƣợc sự thống nhất chung về kiểu văn nghị
luận xã hội. Bên cạnh đó, cuốn sách này các tác giả cũng lƣu ý một số điểm khác
nhau khi làm đề văn nghị luận xã hội với nghị luận văn học, giữa nghị luận về một
hiện tƣợng đời sống với nghị luận về một tƣ tƣởng, đạo lí. Cơ sở để xác định kiểu
bài nghị luận xã hội là Nghị luận chính trị, xã hội là loại đề yêu cầu bàn bạc vấn đề
chính trị, đạo đức, luân lí hay một vấn đề xã hội. Ở đây, các tác giả đã chỉ ra phạm
trù của nghị luận xã hội đó là: Nghị luận chính trị; nghị luận đạo đức, tƣ tƣởng; nghị
luận hiện tƣợng đời sống xã hội. Theo đó, các tác giả Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh
Hiếu, Nguyễn Thành Thi trong công trình này mới tập trung bàn về cách tạo lập văn
bản nghị luận. Các tác giả nhấn mạnh: Đề văn này thuộc loại nào? Nghị luận văn
học hay nghị luận xã hội? Nếu là nghị luận văn học thì thuộc nhóm nào? Nếu là
nghị luận xã hội thì thuộc nhóm nào? [229, 12]. Nhƣ vậy, ở đây các tác giả đã bàn
đến sự khác nhau của các kiểu bài trong đề văn. Việc chỉ ra sự khác nhau đó, cho
chúng ta thấy mỗi kiểu bài có cách tiếp cận, cách tạo lập khác nhau. Nếu là nghị
luận xã hội sẽ có hƣớng tiếp cận của kiểu bài nghị luận xã hội và nếu là nghị luận
văn học thì có hƣớng tiếp cận của kiểu bài nghị luận văn học. Tuy nhiên, những lƣu
ý đó chỉ đƣợc các tác giả nêu một cách khái quát và khi chỉ ra cách làm bài văn nghị
luận các tác giả cũng trình bày cách làm của bài văn nghị luận chung chung chƣa
quan tâm đến cách làm cụ thể của mỗi kiểu bài.
5
6
thầy, đã đề cập đến vấn đề giáo dục con ngƣời học sinh. Trong phần mở đầu, TS.
Phạm Thị Kim Anh viết: “Trong những năm gần đây nhiều câu chuyện buồn liên
tiếp xảy ra như: trò tạt cả chậu a xít vào người thầy vì không được nâng điểm thi,
kiện lại thầy vì bị phạt hít đất trong giờ thể dục ( ở TP. Hồ Chí Minh); rút dây nịt
quất vào đầu, vào mặt thầy giáo đến khi ngất xỉu chỉ vì thầy gọi giám thị mời trò ra
khỏi lớp do đánh cờ, la ó trong giờ học (ở An Giang); lao vào đánh hội đồng thầy
khi bị thầy tát (ở Bình Định),... để thầy bị sa thải và còn biết bao trường hợp trò
chặn đánh thầy giữa đường, ngang nhiên thách thức lại thầy cô giáo, hỗn láo với
thầy cô trong giờ học,... đang làm dư luận xã hội dạy sóng và làm dấy lên nhiều câu
hỏi: “Phải chăng đã đến thời thầy phải sợ trò” [2, 15].
Hiện nay, cùng với nhiệm vụ đổi mới toàn diện giáo dục, Bộ Giáo dục - Đào
tạo đã xác định dạy học các tri thức khoa học phải hƣớng tới nhiệm vụ hình thành
năng lực, các tri thức cũng phải gắn liền với thực tế để các em có thể có những trải
nghiệm sáng tạo; hình thành con ngƣời HS toàn diện ở các phƣơng diện trí, thể, mỹ
để các em trở thành những công dân có ích cho xã hội. Với tinh thần trên, có thể
thấy việc dạy và học các phân môn, trong đó có cả dạy học những tri thức Làm văn
đều có thể gắn với mục đích giáo dục nhân cách HS.
Ta chỉ thấy các tác giả chỉ chú trọng đến cách phân loại, các bƣớc làm văn
nghị luận xã hội, đặc điểm của văn nghị luận song chƣa có tác giả nào đi sâu nghiên
cứu cách dạy các bài nghị luận nói chung và bài nghị luận về một tƣ tƣởng, đạo lí
nói riêng. Trong đó, có sự kết hợp giữa rèn luyện các kĩ năng, bài học nhận thức.
Đặc biệt, chƣa thật sự chú trọng việc kết hợp giáo dục bài học đạo đức cho HS.
Tuy nhiên, trên thực tế, chúng tôi nhận thấy lịch sử nghiên cứu việc dạy học
bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí dƣờng nhƣ chƣa chú trọng tới giáo dục đạo
đức, nhân cách cho HS mà mới chỉ dừng lại ở việc hƣớng dẫn HS biết cách kết hợp
kiến thức và kĩ năng để tạo lập văn bản. Đây chính là những gợi dẫn để tôi triển
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài Bài học nhận thức cho học sinh THPT trong giờ Nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí khóa luận sử dụng các phƣơng pháp sau:
5.1. Phương pháp thống kê
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để phân loại và phân tích kết quả khảo sát
thực trạng của HS trƣớc khi tiến hành thực nghiệm.
8
5.2. Phương pháp hệ thống hóa
Sử dụng phƣơng pháp này nhằm hệ thống hóa các tri thức, lí thuyết về tích
hợp, về các kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội trong SGK Ngữ văn 12.
5.3. Phương pháp so sánh đối chiếu
Phƣơng pháp này sử dụng khi tiến hành so sánh các dạng bài nghị luận xã
hội nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu trong đề tài.
5.4. Phương pháp thực nghiệm
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng khi tổ chức thực nghiệm để chứng minh tính
khả thi của thiết kế, từ đó rút ra kết luận chung, cần thiết cho những đề xuất đƣợc
giới thiệu.
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm 3
chƣơng:
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
CHƢƠNG 2: HƢỚNG DẪN HỌC SINH RÚT RA BÀI HỌC NHẬN
THỨC TRONG GIỜ NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƢ TƢỞNG, ĐẠO LÍ
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
9
10
ngƣời, nhân cách của mỗi ngƣời với tƣ cách là chủ thể hoạt động và giao lƣu đƣợc
hình thành và phát triển. Sự hình thành nhân cách của họ tùy thuộc vào tính chất
của các mối quan hệ của ngƣời đó trong cộng đồng. Nhƣ vậy, nếu cá nhân là khái
niệm chỉ sự khác biệt giữa từng cá thể so với các cá nhân khác trong tập thể, thì
nhân cách là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa các cá nhân. Cá nhân là nhân tố biểu
hiện của giống loài, còn nhân cách vừa là nội dung vừa là cách thức biểu hiện của
mỗi cá nhân riêng biệt. Nhân cách là thế giới quan bên trong của mỗi cá nhân. Một
xã hội tiến bộ là một xã hội mà mỗi cá nhân phát triển nhân cách của mình theo
hƣớng tích cực, phát huy vai trò động lực, chủ thể sáng tạo của mỗi cá nhân. Nhân
cách không phải là bẩm sinh, sẵn có mà đƣợc hình thành và phát triển phụ thuộc
vào ba yếu tố sau đây:
Thứ nhất, nhân cách phải dựa trên tiền đề sinh học và tƣ chất di truyền học,
một cá thể sống phát triển cao nhất của giới hữu sinh.
Thứ hai, môi trƣờng xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển
nhân cách thông qua sự tác động biện chứng của gia đình, nhà trƣờng và xã hội đối
với mỗi cá nhân.
Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân, bao gồm toàn bộ
các yếu tố nhƣ quan điểm, lí luận, niềm tin, định hƣớng giá trị. Yếu tố quyết định để
hình thành thế giới quan cá nhân là tính chất của thời đại, lợi ích, vai trò, địa vị cá
nhân trong xã hội; khả năng thẩm định giá trị đạo đức - nhân văn và kinh nghiệm
của mỗi cá nhân. Dựa trên nền tảng của thế giới quan cá nhân để hình thành các
thuộc tính bên trong về năng lực, về phẩm chất xã hội nhƣ năng lực trí tuệ, chuyên
môn, phẩm chất chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mĩ. Sự hình thành và phát triển
của nhân cách là sự thống nhất của các yếu tố sinh học, tâm lí xã hội để xác lập “cái
tôi” của cá nhân.
Hiểu đƣợc nhân cách con ngƣời là gì và quá trình hình thành nhân cách diễn
là nhiệm vụ của thầy và trò trong suốt quá trình dạy - học.
Giáo dục nhận thức và đạo đức HS có ý nghĩa không nhỏ. Nó giúp cho HS từ
những tri thức khoa học đã học, biết suy nghĩ, đánh giá đúng sai, phải trái, biết soi
lại mình và cũng biết bày tỏ những tâm tƣ của mình. Từ đó, các em biết tự điều
chỉnh hành vi, cách cƣ xử sao cho đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ với
ngƣời khác, biết hƣớng cuộc sống của mình vào những mục tiêu cao cả. Làm văn là
12
một phần kiến thức và kĩ năng mà HS đƣợc học từ Tiểu học đến THPT. Bản chất
của làm văn là giúp cho HS biết cách tạo lập những kiểu văn bản mà con ngƣời
thƣờng sử dụng trong đời sống hàng ngày. Theo đó, khi trình bày những vấn đề của
cuộc sống, con ngƣời cũng cần phải biết thể hiện những suy nghĩ, nhận thức, tình
cảm, thái độ và chính kiến của bản thân về cuộc sống. Văn bản nghị luận, trong đó
có nghị luận xã hội đƣợc giới thiệu trong chƣơng trình cũng nhằm mục đích trên.
Có thể nói, hƣớng dẫn HS tạo lập văn bản nghị luận xã hội trƣớc hết là giúp cho các
em biết và có những kĩ năng thiết yếu tạo lập một kiểu văn bản đƣợc con ngƣời sử
dụng khá phổ biển trong cuộc sống hàng ngày. Hơn nữa, gắn với những vấn đề
thuộc về đời sống xã hội, trong quá trình tạo lập văn bản, ngƣời tạo lập bao giờ
cũng phải thể hiện nhận thức và chính kiến của bản thân. Nhƣ vậy là khi bàn luận
các vấn đề của đời sống xã hội, ngƣời tạo lập ít nhiều đều phải thể hiện bóng dáng
con ngƣời mình. Bởi lẽ, trƣớc những đề bài nghị luận xã hội, HS phải suy nghĩ một
cách nghiêm chỉnh các vấn đề đạo lí, nhân cách con ngƣời. Từ đó phát triển ý thức
tự trao đổi, xây dựng cho mình một nhân cách tốt đẹp. Đây chính là những vốn sống
vô cùng quan trọng trong hành trang mà mỗi thầy cô giáo trang bị cho các em khi
bƣớc vào đời. Chính vì vậy, việc giáo dục đạo đức cho HS là một phần không thể
thiếu trong mỗi giờ học Làm văn. Thông qua một giờ dạy học bài Nghị luận về một
tư tưởng, đạo lí, GV sẽ tích hợp kiến thức, kĩ năng và giáo dục nhân cách cho các
em thông qua việc phân tích ngữ liệu, liên hệ thực tế và khi thực hiện các bài luyện
hiểu đƣợc vị trí của giai đoạn lứa tuổi HS THPT, bối cảnh xã hội, các yếu tố ảnh
hƣởng tới diễn biến tâm lí của lứa tuổi này để từ đó có những định hƣớng dạy học
giáo dục cả về kiến thức, kĩ năng cũng nhƣ hình thành nên những nhân cách tốt cho
bản thân các em.
Giáo dục là một hiện tƣợng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch, ảnh hƣởng tự giác chủ động đến con ngƣời đƣa đến sự hình thành và phát
triển tâm lí, ý thức, nhân cách. Hiểu theo nghĩa rộng, giáo dục là toàn bộ tác động
của gia đình, nhà trƣờng, xã hội bao gồm cả dạy học và các tác động giáo dục khác
đến con ngƣời. Theo nghĩa hẹp thì giáo dục có thể xem nhƣ là quá trình tác động
đến tƣ tƣởng, hành vi của con ngƣời (giáo dục đạo đức, giáo dục lao động, giáo dục
lối sống, hành vi…). Trong sự hình thành và phát triển nhân cách thì giáo dục giữ
vai trò chủ đạo, điều đó đƣợc thể hiện nhƣ sau:
14
Trƣớc hết, giáo dục vạch ra phƣơng hƣớng cho sự hình thành và phát triển
nhân cách vì giáo dục là quá trình tác động có mục tiêu xác định, hình thành một
mẫu ngƣời cụ thể cho xã hội - một mô hình nhân cách phát triển, đáp ứng những
nhu cầu của cuộc sống. Thông qua các mặt nội dung giáo dục, thế hệ trƣớc truyền
lại cho thế hệ sau nền văn hoá xã hội - lịch sử để tạo nên nhân cách của mình.
Không những vậy, giáo dục con ngƣời đƣa thế hệ trẻ vào “vùng phát triển gần”,
vƣơn tới những cái mà thế hệ trẻ sẽ có, tạo cho thế hệ trẻ một sự phát triển nhanh,
mạnh, hƣớng về tƣơng lai. Cũng từ đó, giáo dục có thể phát huy tối đa các mặt
mạnh của các yếu tố khác chi phối sự hình thành nhân cách nhƣ các yếu tố thể chất
(bẩm sinh di truyền), yếu tố hoàn cảnh sống, yếu tố xã hội, đồng thời bù đắp cho
những thiếu hụt, hạn chế do các yếu tố trên sinh ra (nhƣ ngƣời bị khuyết tật, bị bệnh
hoặc có hoàn cảnh không thuận lợi).
Mặt khác, giáo dục có thể uốn nắn những sai lệch về một mặt nào đó so với
các chuẩn mực do tác động tự phát của môi trƣờng gây nên và làm cho nó phát triển
đều làm theo hai thứ đó thì gọi là “đạo”, tự mình có thể bằng lòng với chính mình,
không cần ỷ lại vào người khác thì gọi là “đức”. “Nhân” và “nghĩa” là những danh
xưng đã được khẳng định, “đạo” và “đức” là những từ chưa được khẳng định. Cho
nên nói tới đạo lí thì có sự phân biệt quân tử và tiểu nhân, nói tới đức hạnh thì có sự
khác nhau giữa mĩ đức và ác đức”. Với những cách hiểu về “tƣ tƣởng” và “đạo lí”
nhƣ vậy, có thể khẳng định: Nghị luận về một tƣ tƣởng, đạo lí là bàn về một vấn đề
thuộc lĩnh vực tƣ tƣởng đạo đức, lối sống, quan niệm của con ngƣời. Trƣớc hết, có
thể hiểu tƣ tƣởng là sự kết tinh của những cảm nhận, suy nghĩ về cuộc đời. Đó là
những ý nghĩ, suy nghĩ sâu xa, độc đáo về một vấn đề của đời sống. Còn đạo lí đƣợc
hiểu là những vấn đề về đạo đức, về lí tƣởng. Ngoài ra, đạo lí còn gắn liền với quan
niệm sống, phong tục tập quán, với lối suy nghĩ, thuần phong mĩ tục của ngƣời Việt.
Riêng về phạm trù đạo lí, nội dung bàn luận bao gồm nhiều ý nghĩa, nhiều phƣơng
diện nhƣ đạo làm ngƣời, lẽ phải, trong quan hệ giữa ngƣời với ngƣời, giữa cá nhân và
xã hội. Vấn đề tƣ tƣởng, đạo lí thƣờng đƣợc nêu lên trong các ý kiến, nhận định của
các bậc vĩ nhân, hay nhà thơ, nhà văn..., hoặc nêu ra ở tục ngữ, ca dao. Ta có thể nhận
thấy một số tƣ tƣởng, đạo lí của ngƣời Việt trong một số đề dƣới đây:
Nói về chuyện học, tục ngữ có câu:“Học thầy không tày học bạn”, lại có
câu: “Không thầy đố mày làm nên”. Anh (chị) suy nghĩ nhƣ thế nào trƣớc những lời
khuyên này?
16
Ngoài ra, có thể hiểu tƣ tƣởng nói một cách đơn giản là suy nghĩ, ý nghĩ; tƣ
tƣởng là quan điểm và ý nghĩ chung của con ngƣời đối với hiện thực khách quan và
đối với xã hội. Pa-xcan có câu nói nổi tiếng: “Con người là một cây sậy, nhưng là
cây sậy có tư tưởng, nhờ tư tưởng mà con người bao trùm được vũ trụ”. Nhƣ vậy,
nghị luận về một tƣ tƣởng, đạo lí là một loại văn nghị luận xã hội ngoài các loại nhƣ
nghị luận về một hiện tƣợng đời sống; nghị luận về một vấn đề gắn với văn học.
1.2.2. Đặc điểm của kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
giữa các lĩnh vực đời sống xã hội là một thực tế. Vì vậy, ngƣời làm văn nghị luận về
vấn đề tƣ tƣởng, đạo lí cần huy động đƣợc hiểu biết về các lĩnh vực để lập luận có sức
thuyết phục. Những áng văn nghị luận mẫu mực đều chứng tỏ đều này.
Bài nghị luận về một tƣ tƣởng, đạo lí còn có một mục đích khác là giáo dục
đạo đức nhân cách cho HS, giúp các em rèn luyện kĩ năng lập luận, biết vận dụng
linh hoạt các thao tác lập luận vào từng dạng đề cụ thể. Vì vậy, kiểu bài nghị luận
về một tƣ tƣởng, đạo lí về cơ bản vẫn mang những đặc trƣng chung của một bài
nghị luận xã hội. Song xét ở cấp độ cụ thể thì nó cũng có những nét đặc trƣng riêng
mang những dấu ấn rõ nét. Trong quá trình làm bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo
lí, ngƣời viết phải nắm vững những kiến thức liên quan đến vấn đề cần nghị luận,
không phỏng đoán và thiếu căn cứ khoa học cũng nhƣ thực tiễn. Không những thế,
nội dung của bài văn phải có chiều sâu về trí tuệ trong cách giải thích, lí giải, phân
tích, bình luận, trong liên hệ, liên tƣởng cùng với vốn hiểu biết phong phú về văn
học, văn hóa xã hội; đồng thời cái quan trọng là sự chân thành của ngƣời viết khi
thể hiện cảm xúc qua việc trình bày một nội dung nào đó. Bài văn đã chứng tỏ đƣợc
khả năng quan sát, khả năng phát hiện vấn đề, khả năng giải quyết vấn đề theo cách
của riêng mình, khả năng huy động vốn sống cùng với tri thức văn hóa.
Xét về cấu trúc, cũng giống nhƣ kết cấu của một bài văn nghị luận thông
thƣờng, một bài văn nghị luận về một tƣ tƣởng, đạo lí gồm ba phần: đặt vấn đề, giải
quyết vấn đề và kết thúc vấn đề. Cụ thể hơn khi tiến hành thực hiện lập luận trong
kiểu bài này, ngƣời tạo lập cần đảm bảo ba bƣớc cụ thể nhƣ sau:
Bƣớc 1: Giải thích khái niệm; Bƣớc 2: phân tích, lí giải; Bƣớc 3: bình luận,
đánh giá.
Làm văn nghị luận xã hội về một tƣ tƣởng, đạo lí yêu cầu HS phải đọc và
hiểu đƣợc yêu cầu của đề. Trong đề việc trích dẫn câu nói, những câu châm ngôn
18