Đẩy mạnh huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Hòa An – Cao Bằng - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
1.2.3.3 Mạng lưới chi nhánh, trình độ, nghiệp vụ cán bộ công nhân viên
của ngân hàng...............................................................................18
a, Chi phí huy động ..............................................................................19
- Xác định lãi suất huy động dựa theo tỷ lệ lạm phát và thu nhập kì vọng
của người gửi tiền ....................................................................................................20
- Xác định lãi suất huy động dựa trên lãi suất gốc...................................20
- Xác định lãi suất huy động dựa trên lãi suất của tài sản sinh lãi...........21
1.3.1.2 Nhân sự và công nghệ thông tin................................................22
1.3.1.4 Uy tín của ngân hàng...............................................................23
1.3.2.1 Chính sách chỉ đạo của ngân hàng Nhà nước...........................24
1.3.2.2 Hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước...................................24
1.3.2.3 Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường vốn.................................25
1.3.2.4 Tâm lý, thói quen của người tiêu dùng......................................25
2.1.2.1 Quyền tổ chức quản lý, kinh doanh...........................................27
2.2.2 Phân tích thực trạng huy động vốn của chi nhánh NHNO & PTNT Hòa An. .37
c, Tình hình huy động vốn trung - dài hạn.................................................................42
3.2.1 Thực hiện tốt công tác phân tích thị trường huy động vốn...............51
3.2.2 Đa dạng hoá hình thức huy động vốn...............................................52
3.2.3 Xây dựng chính sách tiếp cận và chăm sóc khách hàng hiệu quả....53
3.2.4 Quản lý nguồn vốn theo đúng phương pháp, mục tiêu.....................54
3.2.5 Đào tạo nâng cao trình độ và nghiệp vụ của cán bộ.........................55
- Cải tiến tài khoản tiền gửi thanh toán của các doanh nghiệp.................56
- Cải tiến tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tài khoản cá nhân.....................58

Hoàng Diễm Lụa Khoa NH – TC
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
NHNN: Ngân hàng nhà nước

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề vốn đang là đòi hỏi cấp bách trong sự nghiệp công
nghiệp hoá và hiện đại hoá của nước ta. Nó đóng vai trò quyết định đến sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế đất nước. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, chính phủ cần
phải có các biện pháp, chính sách nhằm huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền
kinh tế. Ở nước ta thị trường chứng khoán chưa thực sự phát triển do vậy lượng vốn
huy động được bằng con đường tài chính trực tiếp thông qua phát hành cổ phiếu, trái
phiếu và các giấy tờ có giá khác còn rất nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Do vậy
quá trình nhận và phân phát nguồn vốn trên thị trường chủ yếu được thực hiện thông
qua các NHTM và thị trường tín dụng. Theo thống kê, ở Việt Nam hơn 80% (tạp chí
khoa học đào tạo ngân hàng số 19/2007) lượng vốn trong nền kinh tế là do hệ thống
ngân hàng cung cấp. Do đó vai trò của Ngân hàng trong hoạt động huy động vốn cho
nền kinh tế là cực kỳ quan trọng.
Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng của NHTM. Có chính
sách, chiến lược huy động vốn tốt giúp NHTM không những chủ động được nguồn vốn
trong hoạt động kinh doanh mà còn tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Trong điều kiện hoạt động cung ứng dịch vụ và kinh doanh nói chung, huy động
vốn nói riêng của các NHTM chịu sức ép cạnh tranh ngày càng cao từ các kênh huy
động vốn khác trong nền kinh tế, việc tìm ra những giải pháp giúp ngân hàng chủ động
nguồn vốn cũng như nâng cao hiệu quả của hoạt động này ngày càng trở nên cấp thiết.
Vậy hoạt động huy động vốn được thực hiện như thế nào? Làm thế nào để đẩy mạnh
huy động vốn?... Đó là những câu hỏi cần được trả lời trong hoạch định trong chính
sách chiến lược phát triển kinh tế. Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành nghiên cứu đề
tài “ Đẩy mạnh huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Hòa An – Cao
Bằng’’.
2 Mục tiêu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá tình hình huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT Hòa An – Cao

4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.1 Khái niệm NHTM
Lịch sử đã ghi nhận sự hình thành, phát triển của ngành Ngân hàng được quyết
định bởi quá trình phát triển của các quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Đồng thời cũng còn
những yếu tố khác có ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc và sự phát triển của hệ thống
ngân hàng như: chế độ pháp quyền, điều kiện chiến tranh và tình trạng khủng hoảng
kinh tế, tài chính...
Ở Việt nam, hệ thống Ngân hàng đã được đổi mới một cách đáng kể trong quá trình
chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của
Nhà nước. Trong bước chuyển đổi sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ
nghĩa. Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và
thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp đan kết với nhau hình thành
các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các doanh nghiệp không phân biệt quan hệ sở hữu đều
tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật. Theo
hướng đó, nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và
đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Từ năm 1986,
hoà vào công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của đất nước theo sự chỉ đạo của
Đảng và Nhà nước, hệ thống ngân hàng được tổ chức lại theo Nghị định 53/HĐBT
được tách ra làm hai cấp: NHNN đảm nhận công tác phát hành tiền và điều tiết lưu
thông tiền tệ, còn chức năng kinh doanh được thực hiện bởi các NHTM.
Năm 1991, sự ra đời của các NHTM cổ phần cùng các NHTM quốc doanh đã góp
phần rất lớn vào công cuộc phát triển đất nước. Luật “Tổ chức tín dụng” của Việt nam
ban hành vào ngày 12/12/1997 đã định nghĩa NHTM như sau:
“NHTM là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt
động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động ngân hàng là một hoạt động kinh doanh

1.1.2.2 Hoạt động tín dụng
Nguồn vốn huy động sau khi đã thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ (nghiệp vụ liên quan
đến việc điều hành ngân quỹ của ngân hàng nhằm duy trì năng lực thanh toán bình
thường), sẽ được sử dụng để cho vay. Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ đặc trưng nhất
của NHTM. Nó tạo ra hình thức tín dụng ngân hàng và ngân hàng sẽ tiến hành phân
phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động, điều tiết vốn từ
nơi thừa đến nơi thiếu, bổ sung vốn cho sản xuất kinh doanh. Đối với ngân hàng, đây là
nghiệp vụ quan trọng nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếu.
Dựa vào tính chất và hình thức cho vay nghiệp vụ tín dụng được phân thành:
- Căn cứ vào mục đích
• Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở, đất đai.
Hoàng Diễm Lụa Khoa NH – TC
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
• Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay bổ sung vốn lưu động
cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
• Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay bổ sung vốn lưu động cho các doanh
nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn.
• Thuê mua và các loại khác.
- Căn cứ vào thời hạn cho vay
• Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng, chủ yếu
được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn
hạn.
• Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của NHNN Việt Nam thì loại
cho vay này có thời hạn từ 1- 5 năm. Tín dụng trung hạn thường sử dụng để
đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở
rộng sản xuất, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ với thời hạn thu hồi
vốn nhanh.
• Cho vay dài hạn: Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm.

khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức chứng khoán và từ chêch lệch thị
giá chứng khoán mua bán trên thị trường.
Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện góp vốn, liên doanh qua đó trực tiếp góp vốn
vào các doanh nghiệp để thành lập công ty, xí nghiệp mới.
1.1.2.4 Hoạt động kinh doanh ngoại hối
Các ngân hàng có thể tham gia mua bán ngoại tệ, huy động vốn ngoại tệ nhằm
đáp ứng nhu cầu của đầu tư cho vay cũng như kiếm lời. Việc kinh doanh ngoại tệ còn
góp phần thúc đẩy trong công tác thanh toán quốc tế, tài trợ cho xuất nhập khẩu,...
1.1.2.5 Các hoạt động dịch vụ khác của ngân hàng
• Dịch vụ chuyển tiền: Ngân hàng theo sự uỷ nhiệm của khách hàng sẽ chuyển
tiền để đáp ứng nhu cầu chi dùng của họ. Có hai phương thức chuyển tiền là
chuyển tiền bằng điện và chuyển tiền bằng thư.
• Thu chi hộ tiền hàng: Theo những lệnh uỷ nhiệm thu hoặc uỷ nhiệm chi,
ngân hàng sẽ tiến hành trích tiền trên tài khoản tiền gửi của khách hàng
chuyển trả tiền hàng hoá, dịch vụ đã nhận hoặc thực hiện thu hộ tiền hàng
khi nhận được chứng từ khách hàng nhờ thu hộ...
• Nghiệp vụ uỷ thác: Là nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện theo sự uỷ thác của
khách hàng trong việc quản lý tài sản, chuyển giao tài sản thừa kế, bảo quản
chứng khoán, vàng bạc, giấy tờ có giá... để hưởng hoa hồng.
• Mua bán hộ: Theo sự uỷ nhiệm của khách hàng ngân hàng thực hiện nghiệp
vụ phát hành hộ trái phiếu hoặc chứng khoán cho các công ty, hoặc phát
hành trái khoán Chính phủ. Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng có được
Hoàng Diễm Lụa Khoa NH – TC
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
một khoản thu nhập dưới hình thức hoa hồng phát hành. Ngân hàng có thể
tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường theo lệnh của khách hàng với
tư cách là một trung gian môi giới trên thị trường tiền tệ và thị trường chứng
khoán.
1.2 Huy động vốn của ngân hàng thương mại

có khi bắt đầu hoạt động. Vốn pháp định có thể được qui định cho từng loại ngân hàng
trong từng điều kiện cụ thể.
VCSH không phải hoàn trả. Chủ ngân hàng có thể tăng, giảm hoặc thay đổi cơ
cấu VCSH, quyết định chính sách phân phối lợi nhuận.
1.2.1.2 VCSH hình thành trong quá trình hoạt động (VSCH bổ xung)
Bao gồm cổ phần phát hành thêm (hoặc ngân sách cấp thêm) trong quá trình
hoạt động, lợi nhuận tích lũy, thặng dư vốn, các quỹ…
- Cổ phần phát hành thêm, ngân sách cấp thêm
Ngân hàng có thể phát hành thêm cổ phần (thường hoặc ưu đãi) hoặc xin cấp
thêm vốn ngân sách để mở rộng qui mô hoạt động, hoặc để chống đỡ rủi ro; Trong
những trường hợp cần duy trì thị giá của cổ phiếu, hoặc duy trì quyền lãnh đạo của
những cổ đông quan trọng, ngân hàng có thể mua lại một số cổ phiếu của những cổ
đông quan trọng, ngân hàng có thể mua lại một số cổ phiếu đã phát hành hoặc tăng tỷ lệ
lợi nhuận chia cho cổ phiếu.
- Lợi nhuận bổ xung VCSH
Đối với các ngân hàng cổ phần, lợi nhuận sau thuế sau khi bù đắp các khoản chi
phí đặc biệt, thường được chia làm hai phần: một phần chia cho các cổ đông theo giá trị
các cổ phần, và phần bổ xung VCSH dưới tên gọi “lợi nhuận tích lũy lại” - quỹ tích lũy.
Phần này về bản chất là thuộc sở hữu các cổ đông, song được “vốn hóa” nhằm mở rộng
qui mô của VCSH. Các NHTM thuộc sở hữu Nhà nước, lợi nhuận sau thuế sau khi trừ
thua lỗ (năm trước) và các chi phí đặc biệt, được trích bổ xung VCSH theo qui định của
Nhà nước. Nhiều ngân hàng trong điều lệ hoạt động của mình đều qui định mức vốn
Điều lệ (tối thiểu là bằng vốn pháp định), và thường xuyên bổ sung vốn điều lệ bằng
trích lợi nhuận.
- Các quỹ
Trong môi trường lạm phát, VCSH bị giảm giá. Để bảo toàn giá trị, các ngân
hàng có thể trích lập quỹ bảo toàn vốn tính theo tỷ lệ lạm phát. Quỹ này làm gia tăng
qui mô VCSH.
Kinh doanh của ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro. Nhiều tài sản của ngân hàng
đã sinh lãi một thời gian dài, sau đó có thể bị tổn thất. Do vậy, các ngân hàng đều trích

ước Basel vào năm 1992, các ngân hàng phải đạt hệ số vốn tự có so với tài sản có dựa
trên cơ sở rủi ro là: 8% ( còn gọi là hệ số Cook ). Đây được coi là tỷ lệ chuẩn dùng để
đánh giá mức vốn tự có của các ngân hàng. Nếu theo tỷ lệ này thì hầu như không có
ngân hàng nào tại Việt Nam có thể đáp ứng được vì phần lớn tỷ lệ vốn tự có/tổng tài
sản rủi ro của các ngân hàng này đều ở mức từ 5% đến 6%. Tuy nhiên cũng cần nhận
thấy rằng điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới là khác nhau, nếu đem áp
dụng 1 tỷ lệ cho tất cả thì không hợp lý. Vì nhiều ngân hàng có hệ số Cook nhỏ hơn 8%
vẫn hoạt động khá tốt. Do đó tỷ lệ chuẩn trên chỉ là tương đối, quan trọng hơn là cơ cấu
vốn tự có trong tổng nguồn của mỗi ngân hàng phù hợp với hoạt động của chính nó,
đáp ứng được các chính sách, quyết định của ngân hàng.
Hoàng Diễm Lụa Khoa NH – TC
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.2 Vốn nợ
1.2.2.1 Nhận tiền gửi và các hoạt động nhận tiền gửi
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM. Khi
một ngân hàng bắt đầu hoạt động nghiệp vụ đầu tiên là mở các tại khoản tiền gửi để giữ
hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền gửi của các doanh nghiệp,
các tổ chức và của dân cư.
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của
ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền
có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy
động khác nhau.
a, Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán)
Tiền gửi thanh toán hay còn gọi là tiền gửi không kì hạn là loại tiền gửi
mà người gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào. Nghĩa là nếu một người vừa gửi tiền sáng
nay, nếu cần anh ta có thể rút ra ngay buổi chiều cùng ngày, còn nếu chưa cần sử dụng
thì anh ta cứ để đấy khi nào cần thì rút. Thông thường, chủ các tài khoản tiền gửi không
kì hạn thường yêu cầu ngân hàng thanh toán hộ mình cho các đối tác qua tài khoản mà
không cần phải đến ngân hàng rút tiền nữa. Việc này đẩy nhanh tốc độ lưu thông của

mình. Tuy nhiên lượng tiền gửi có kì hạn của các tổ chức chiếm một lượng rất nhỏ so
với lượng tiền gửi không kì hạn, đồng thời rất khó dự đoán được sự biến động của nó
do sự biến động của hoạt động kinh doanh sản xuất của các doanh nghiệp.
c, Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa dùng đến, họ tích
luỹ lại cho tương lai. Người dân có nhiều cách để giữ số tiền tiết kiệm của mình. Một
trong những cách đó là gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng. Ngân hàng thu hút tiền gửi của
người dân bằng việc đảm bảo an toàn cho tài sản của họ đồng thời trả lãi để khuyến
khích họ gửi nhiều tiền với thời hạn lâu dài. Huy động tiền gửi trong dân cư là nghiệp
vụ truyền thống đem lại cho ngân hàng một lượng vốn rất lớn để có thể tiến hành các
hoạt động cho vay và đầu tư sinh lợi. Thông thường tiền gửi tiết kiệm có 2 loại chính :
• Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn
• Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn
Với tiền gửi tiết kiệm không kì hạn, người gửi có thể rút bất cứ khi nào họ
muốn. Còn với tiền gửi tiết kiệm có kì hạn, người gửi chỉ có thể rút tiền khi đến hạn
nhưng lại được hưởng mức lãi suất cao hơn nhiều so với tiền gửi tiết kiệm không kì
hạn. Người gửi tiết kiệm có kì hạn có quyền yêu cầu ngân hàng thay đổi kì hạn tiền gửi
của mình, nhập các sổ tiết kiệm lại với nhau, dùng sổ tiết kiệm để thế chấp vay vốn…
Đặc biệt, hiện nay để cạnh tranh hầu như các ngân hàng đều cho người gửi tiền tiết
kiệm có kì hạn rút tiền trước hạn khi cần. Điều này làm tăng sức hấp dẫn của tiền gửi
tiết kiệm có kì hạn. Hơn nữa, người dân cũng có thể yên tâm hơn khi khoản tiền gửi của
mình trong ngân hàng được bảo hiểm, trong trường hợp ngân hàng mất khả năng thanh
toán thì người gửi vẫn có thể nhận lại toàn bộ hoặc một phần số tiền của mình từ tổ
chức bảo hiểm tiền gửi.
d, Tiền gửi của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác
Hoàng Diễm Lụa Khoa NH – TC
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác thường xuyên có mối liên hệ
với nhau về nhiều mặt trong hoạt động kinh doanh. Các ngân hàng đều gửi một lượng

chẽ. Thông thường NHNN chỉ chiết khấu cho các thương phiếu có chất lượng (có thời
hạn đáo hạn ngắn và khả năng trả nợ cao), và phù hợp với mục tiêu của NHNN trong
từng thời kì.
Hoàng Diễm Lụa Khoa NH – TC
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Thế chấp hay ứng trước bảo đảm hay không có bảo đảm. Đây là hình thức cho
vay thời hạn ngắn, chủ nợ không bán các phiếu nợ cho ngân hàng mà chỉ đem gửi các
phiếu đó làm vật bảo đảm cho việc vay tiền.
Ở Việt Nam hiện nay, có các loại cho vay của NHNN đối với các NHTM như
sau:
- Cho vay bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn: là hình thức tài trợ vốn theo kế
hoạch, chỉ phân phối đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh.
- Chiết khấu và tái chiết khấu kho bạc, khế ước mà các ngân hàng đã cho khách
hàng vay nhưng chưa đáo hạn và các thương phiếu.
- Cho vay bổ sung thanh toán bù trừ của các tổ chức tín dụng.
b, Vay các tổ chức tín dụng khác
Khi vay tiền từ NHNN để đáp ứng thiếu hụt dự trữ hay chi trả cấp bách quá khó
khăn (lãi suất chiết khấu cao, điều kiện vay mượn chặt chẽ..), các NHTM thường vay
mượn lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng. Quá trình vay mượn này rất đơn giản.
Ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân
hàng đại lí (hoặc NHNN ). Khoản vay có thể không cần bảo đảm hoặc được bảo đảm
bằng các chứng khoán của kho bạc. Thông thường, các ngân hàng đang có dự trữ vượt
yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ
sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại, các ngân
hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản.
Việc vay mượn giữa các ngân hàng là hoạt động thường xuyên và là một kênh huy
động vốn tốt cho các ngân hàng trong những trường hợp khẩn cấp.
c, Vay trên thị trường vốn
Để huy động được lượng vốn dồi dào đáp ứng nhu cầu cho vay thường xuyên

ít khi chỉ sử dụng chúng để cho vay lâu dài mà chỉ để bổ sung thêm nguồn ở thời điểm
hiện tại.
- Nguồn khác: Các khoản nợ khác như Thuế chưa nộp, lương chưa trả…Đây là
nguồn mà ngân hàng tạm thời chiếm dụng, không có ảnh hưởng đáng kể tới nguồn vốn
cũng như hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Hình thức sản phẩm huy động vốn
Để thu hút được nhiều tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế, các NHTM
không ngừng đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn của mình. Các NHTM có thể
tiến hành phát triển, đa dạng hoá sản phẩm dựa trên nhiều tiêu chí như sau:
• Theo kì hạn và lãi suất
Với các sản phẩm tiền gửi, NHTM thường chia ra nhiều kì hạn khác nhau để
khách hàng có thể chọn lựa các kì hạn gửi tiền phù hợp với nhu cầu của mình.
- Đối với tiền gửi ngắn hạn (< 12 tháng): ngân hàng phân loại tiền gửi theo thời
gian từng quý: không kì hạn, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng.
- Đối với tiền gửi trung và dài hạn (> 12 tháng): các kì hạn tiền gửi được chia ra
thành: 18 tháng, 24 tháng, 36 tháng và 60 tháng.
Hầu hết các NHTM hiện nay đều phân loại tiền gửi theo các kì hạn trên, để tạo
sự khác biệt thu hút khách hàng gửi tiền, nhiều ngân hàng đã chia nhỏ thời gian của kì
hạn hoặc đưa ra nhiều kì hạn mới như: kì hạn 1 tháng, 2 tháng và 13 tháng. Các kì hạn
Hoàng Diễm Lụa Khoa NH – TC
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mới này sẽ tạo cho người gửi tiền sự linh hoạt trong khi rút và gửi tiền, đồng thời tăng
thêm mức thu nhập từ lãi suất tiền gửi.
Tương ứng với các kì hạn tiền gửi là các mức lãi suất khác nhau, tăng dần theo
thời gian của kì hạn gửi tiền. Biên độ giữa các mức lãi suất này dao động trong khoảng
0,1%/tháng và rất khác nhau giữa các NHTM. Sự cạnh tranh về lãi suất tiền gửi luôn
diễn ra gay gắt ở từng mức lãi suất tiền gửi cho các kì hạn. Mỗi một NHTM đều xây
dựng những chiến lược lãi suất riêng dựa trên mặt bằng lãi suất chung. Sự chênh lệch

Hai là, phát triển sản phẩm hoàn toàn mới với những tiện ích nổi trội. Đây là
công việc rất khó khăn đối với hầu hết các ngân hàng thương mại. Hiện nay, các loại
sản phẩm huy động vốn được phát triển đã khá đầy đủ, đa dạng, việc tạo ra một sản
phẩm mới hoàn toàn khác biệt những sản phẩm cũ là điều ít ngân hàng nào dám nghĩ
tới, mà hầu hết họ đều đa dạng các sản phẩm huy động vốn theo cách thứ nhất (dựa trên
nền tảng các sản phẩm cũ).
Tóm lại, việc đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn, chú ý phát triển sản
phẩm riêng biệt sẽ tạo dựng cho các ngân hàng thương mại những dấu ấn nhất định đối
với khách hàng gửi tiền, khuyến khích họ gửi tiền nhiều hơn, làm tăng lượng vốn huy
động cho các ngân hàng thương mại.
1.2.3.2 Hoạt động tiếp thị, khuyến mại
Bên cạnh việc đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn, các NHTM đều không
ngừng đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, khuyến mại sản phẩm của mình đến với khách
hàng. Đây là chiến lược huy động vốn rất hiệu quả trong điều kiện cạnh tranh gay gắt
giữa các ngân hàng. Các hoạt động tiếp thị sản phẩm huy động vốn được các ngân hàng
tiến hành bằng nhiều phương thức khác nhau, chủ yếu là thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng như: truyền hình, báo chí, tờ rơi, thư tay...Nội dung của các chương
trình quảng cáo này cũng được các ngân hàng thiết kế sao cho sản phẩm cũng như hình
ảnh của ngân hàng mình thật hấp dẫn người xem nhất. Bên cạnh hoạt động tiếp thị sản
phẩm, các ngân hàng cũng tổ chức các đợt khuyến mại để tăng cường huy động vốn.
Các đợt khuyến mại này thường được triển khai vào các thời điểm trong năm như: đầu
năm, giữa năm hay cuối năm, hoặc cũng có khi tuỳ thuộc vào chiến lược huy động vốn
của mỗi ngân hàng. Thông thường các NHTM triển khai chương trình khuyến mại lớn
bằng các đợt huy động vốn dự thưởng với tổng giá trị giải thưởng khá lớn, rất thu hút
được sự tham gia của khách hàng. Ngoài những đợt huy động dự thưởng lớn đó, các
ngân hàng cũng triển khai xen kẽ các đợt khuyến mại nhỏ với từng loại sản phẩm huy
động vốn của mình như: tặng quà khách hàng thân thiết, khách hàng gửi tiền với số
lượng lớn...
Những chi phí cho hoạt động tiếp thị và khuyến mại này cũng chiếm phần khá
lớn trong chi phí huy động vốn, đòi hỏi các ngân hàng phải tính toán, cân nhắc kì lưỡng

lược huy động vốn, trong đó lãi suất là phần quan trọng ảnh hưởng đến quy mô và hiệu
quả huy động.
Lãi suất trả cho = Quy mô huy động x Lãi suất huy động
nguồn huy động
Chi phí huy động khác: Chi phí huy động khác rất đa dạng và không ngừng gia
tăng trong điều kiện các ngân hàng gia tăng cạnh tranh phi lãi suất. Nó bao gồm chi phí
trả trực tiếp cho người gửi tiền (quà tặng, quay số trúng thưởng, kèm bảo hiểm…), chi
phí tăng tính tiện ích cho người gửi tiền ( mở chi nhánh, quầy, phòng, điểm huy động,
trang bị thêm máy đếm. máy soi tiền cho khách kiểm tra, huy động vốn tại nhà, tại cơ
quan…), chi phí lương cho cán bộ phòng nguồn vốn, chi phí bảo hiểm tiền gửi…Một
số chi phí khác được tính chung vào chi phí quản lý và rất khó phân bổ cho hoạt động
huy động vốn.
Xác định lãi suất huy động là công việc phức tạp, quyết định tới chất lượng
nguồn huy động, từ đó tới chất lượng tài sản, đòi hỏi tính nhạy bén của nhà quản lí
Hoàng Diễm Lụa Khoa NH – TC
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ngân hàng. Ngân hàng cẩn phải phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô và cấu trúc
nguồn huy động để xác định lãi suất và các chi phí huy động khác.
b, Lãi suất huy động
Theo nguyên lý chung, các ngân hàng huy động với lãi suất thị trường, phản ánh
quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ. Với mỗi nguồn cụ thể ngân hàng có phương
pháp riêng để tính toán lãi suất huy động.
- Xác định lãi suất huy động dựa theo tỷ lệ lạm phát và thu nhập kì vọng của
người gửi tiền
Lãi suất = Tỷ lệ lạm phát + Tỷ lệ thu nhập kì vọng
huy động bình quân của người gửi tiền
Để có lãi suất thực dương, lãi suất huy động huy động phải lớn hơn tỷ lệ lạm
phát. Tuy nhiên, không phải nguồn nào cũng trả lãi suất thực dương. Những nguồn có
kì hạn ngắn ( khách hàng lựa chọn tính thanh khoản cao hơn tính sinh lời), ngân hàng

cấp.
- Xác định lãi suất huy động dựa trên lãi suất của tài sản sinh lãi.
Trong điều kiện cạnh tranh để tìm kiếm nguồn tiền, nhiều ngân hàng bằng nỗ lực
tiết kiệm chi phí khác (như chi phí quản lí) và chấp nhận tỷ lệ thu nhập ròng thấp để gia
tăng lãi suất huy động. Ngân hàng có thể xác định lãi suất huy động tối đa trong mối
tương quan với lãi suất sinh lời của các tài sản.
Lãi suất Tỷ lệ sinh lời Tỷ lệ chi phí Tỷ lệ thuế thu nhập
nguồn = tính từ tài sản được - khác ròng phân - và thu nhập ròng
(nhóm tài trợ bằng nguồn bổ cho nguồn tính trên nguồn
nguồn) (nhóm nguồn) (nhóm nguồn) (nhóm nguồn)
Ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với môi trường cạnh tranh và
chiến lược huy động vốn, trong mối tương quan với các lãi suất khác trong ngân hàng.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn tại ngân hàng thương mại
1.3.1 Nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Chính sách huy động vốn của ngân hàng
Chính sách huy động vốn của ngân hàng là tổng thể các chiến lược và biện pháp
huy động vốn của một ngân hàng nhằm mục tiêu thu hút vốn tối đa. Chính sách này
thay đổi theo từng thời kì, phù hợp với mục tiêu cụ thể của ngân hàng nhưng nhìn
chung luôn bao gồm các nội dung
- Hình thức huy động vốn: Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì
trước hết phải đa dạng hoá hình thức huy động. Hình thức huy động càng phong phú thì
ngân hàng càng dễ huy động hơn. Ngân hàng có thể đưa ra nhiều hình thức huy động
như: phát hành trái phiếu, kì phiếu, huy động tiền gửi tiết kiệm trong đó đưa ra nhiều
thời hạn và lãi suất khác nhau. Các hình thức huy động vốn được đưa ra phải dựa trên
cơ sở nghiên cứu phân tích thị trường và tâm lí khách hàng một cách kĩ lưỡng thì mới
có thể hấp dẫn khách hàng gửi tiền.
- Lãi suất huy động: Đối với người gửi tiền là các doanh nghiệp, họ gửi tiền vào
các ngân hàng với mục đích thanh toán thì lãi suất không phải vấn đề họ quan tâm.
Điều họ quan tâm nhất là việc sử dụng các dịch vụ từ ngân hàng và loại tiền gửi này gọi
Hoàng Diễm Lụa Khoa NH – TC

trong quá trình hoạt động ngân hàng đảm bảo an toàn vốn, tăng uy tín, từ đó có điều
kiện thu hút khách hàng gửi tiền nhiều hơn.
+ Trình độ nghiệp vụ: Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng cao thì trong
quá trình hoạt động kinh doanh, mọi thao tác nghiệp vụ đều được thực hiện nhanh
chóng chính xác và có hiệu quả, từ đó ngân hàng có điều kiện mở rộng kinh doanh,
giảm thấp chi phí hoạt động và thu hút được nhiều khách hàng.
+ Thái độ phục vụ khách hàng: Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến tâm lý cũng
như tình cảm của người gửi tiền. Nếu các nhân viên ngân hàng luôn cởi mở nhiệt tình
Hoàng Diễm Lụa Khoa NH – TC
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong giao dịch với khách hàng, luôn tạo điều kiện tốt cho khách hàng thì sẽ gây được
thiện cảm và uy tín đối với họ, sẽ ngày càng có nhiều khách hàng đến giao dịch, gửi
tiền tại ngân hàng hơn.
- Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin giữ một vai trò không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Hoạt động ngân hàng luôn gắn liền với công nghệ thông tin ở hầu hết
các nghiệp vụ từ việc nhận, nhập tiền gửi, hay thanh toán qua tài khoản khách hàng đến
việc cho vay, đầu tư trên thị trường tài chính. Hệ thống công nghệ và thông tin càng
hiện đại thì càng phục vụ hữu ích cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, giúp
ngân hàng tiết kiệm thời gian, chi phí trong việc tìm kiếm, quản lý thông tin về khách
hàng, thị trường cũng như toàn bộ ngân hàng. Đồng thời một hệ thống công nghệ và
thông tin tốt cũng giúp cho việc triển khai các kế hoạch chiến lược huy động vốn của
ngân hàng có hiệu quả tốt nhất, đồng thời sẽ gây được ấn tượng tốt đẹp với khách hàng.
1.3.1.3 Mạng lưới hoạt động của ngân hàng
Với những ngân hàng sát địa bàn dân cư hoặc gần với những trung tâm thương
mại thì sẽ có thuận lợi khi thu hút vốn. Lẽ tự nhiên, khi dân chúng có tiền nhàn rỗi họ
sẽ đến các chi nhánh ngân hàng gần nhà mình nhất để gửi, như thế vừa tiết kiệm thời
gian đi lại vừa đảm bảo an toàn khi cho số tiền của họ.. Ngày nay, các ngân hàng đều
cố gắng mở thật nhiều chi nhánh để thu hút tiền gửi của người dân cũng như đẩy mạnh

- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc : Các NHTM vừa phải đảm bảo tỷ lệ dữ trữ theo yêu cầu
của NHNN vừa phải đáp ứng nhu cầu cho vay nên tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao sẽ khiến
các ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn để cho vay. Khi đó chi phí huy
động vốn của các NHTM sẽ phải cao hơn để thu hút càng nhiều vốn càng tốt, đồng thời
vốn huy động để cho vay sẽ nhỏ hơn. Các ngân hàng nhỏ, vốn ít, khả năng huy động
hạn chế thì tỷ lệ dự trữ cao sẽ trở thành một gánh nặng khó giải quyết.
- Lãi suất chiết khấu : NHNN thực hiện tái chiết khấu vốn để cung ứng tiền ra
lưu thông bằng biện pháp tái chiết khấu. Nếu chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát
thì lúc đó NHNN cung ứng tiền ra lưu thông với lãi suất chiết khấu cao. Và như vậy,
nguồn vốn vay từ NHNN của các NHTM sẽ bị hạn chế. Khi đó, các ngân hàng muốn
tăng lượng vốn huy động sẽ phải tìm cách huy động từ các nguồn khác chứ không nên
trông chờ vào việc đi vay Ngân hàng Nhà nước.
1.3.2.2 Hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước
Hoạt động của các NHTM nằm trong hoạt động kinh tế chung của đất nước nên
chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế. Khi nền
kinh tế vào thời kì tăng trưởng, sản suất phát triển tạo điều kiện tích luỹ nhiều hơn, do
đó tạo môi trường cho việc thu hút vốn của ngân hàng thuận lợi hơn. Mặt khác, nó cũng
tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi cho ngân hàng, từ đó ngân hàng phải tìm biện pháp
để huy động vốn sao cho có hiệu quả thiết thực cho hoạt động kinh doanh của mình.
Khi môi trường đầu tư mở rộng thì thu nhập của ngân hàng không ngừng phát triển, tạo
tiền để cho việc mở rộng vốn tự có của ngân hàng. Khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát
tăng làm thu nhập của người dân giảm khiến cho họ không muốn gửi tiền vào ngân
hàng mà chuyển sang tích luỹ bằng các tài sản khác như: Vàng, ngoại tệ mạnh…Lượng
tiền gửi của ngân hàng sẽ sụt giảm cùng với việc môi trường đầu tư của ngân hàng bị
Hoàng Diễm Lụa Khoa NH – TC
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thu hẹp do các doanh nghiệp không muốn vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh
trong điều kiện sản suất thua lỗ.
1.3.2.3 Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường vốn.

hưởng tới quy mô và tính ổn định của nguồn tiền. Vào những dịp nghỉ lễ trong năm,
nguồn tiền tiết kiệm cũng như tiền gửi của doanh nghiệp có xu hướng giảm, đặc biệt là
trong điều kiện thanh toán bằng tiền mặt còn phổ biến.
Hoàng Diễm Lụa Khoa NH – TC
25

Trích đoạn Đào tạo nâng cao trình độ và nghiệp vụ của cán bộ Cải tiến tài khoản tiền gửi thanh toán của các doanh nghiệp Cải tiến tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tài khoản cá nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status