Ảnh hưởng của nước dừa, nước chiết từ mầm ngô và nước chiết từ quả táo đến sinh trưởng của cây hoa cúc nhật CN01 (chrysanthemum maximum seiun 3) in vitro - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN

===»T)D3G8===

ĐỎ THỊ HƯƠNG

ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC DỪA, NƯỚC CHIÉT TÙ
MẦM NGÔ VÀ NƯỚC CHIÉT TỪ QUẢ TÁO ĐẾN
SINH TRƯỞNG CỦA CÂY HOA cúc NHẬT CN01
{Chrysanthemum maximum Seiun - 3) IN VITRO

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Sinh lý học thực
yật

HÀ NỘI, 2015


CẢM
ƠNsắc đến ThS. La Việt Hồng đã trực
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chânLỜI
thành
và sâu
tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và tạo mọi điều kiện đế tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2, Ban Chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN, đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành
đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thế cán bộ Phòng Thí nghiệm Sinh lý thực vật, Trung tâm
Hỗ trợ Nghiên cứu Khoa học và Chuyển giao Công nghệ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã
tạo điều kiện trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người thân và bạn bè đã động viên, tạo mọi điều kiện
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tập cũng như hoàn thành khóa luận.


Thạch

BAP

6 - benzyl amino purin

CT

Công thức

ĐC

Đối chứng

IAA

p - indole - acetic acid

IBA

Indode - 3 - butyric acid

MS

Murashige and Skoog, 1962



DANH MỤC HÌNH

-

Hình 3.22. Mầu cúc bị mốc sau 10 ngày nuôi cấy
..............................................................................
Error! Bookmark not

-

defined.


-

-

Hình 3.23. Mầu cúc sạch nhưng bị chết sau 10
ngày nuôi cấy..................................................................................
Error!

-

Bookmark not defined.
Hình 3.24. Mầu cúc sạch, sống sau 10 ngày

nuôi cấy ..Error! Bookmark not defíned.
- DANH MỤC BẢNG
- Bảng 2.1. Các công thức thí nghiệm ảnh hưởng
của nước dừa đến sinh trưởng
-


dụng. Hơn thế cây cúc được điều khiển ra hoa để tạo nguồn sản phẩm hàng hóa
liên tục và ổn định quanh năm (John và Harold, 1999) [20]. Chính vì vậy nhu cầu
có được các giống cúc mới thông qua chọn tạo và nhập nội nhằm đáp ứng được
nhu cầu của thị trường luôn được người sản xuất quan tâm và chú trọng. Đe góp
phần làm đa dạng và phố biến giống mới, đồng thời đáp ứng một phần nhu cầu
cây giống cho ngành sản xuất hoa cúc ở nước ta, giống cúc Nhật mà đặc biệt là
cúc Nhật CN01 (Chrysanthemum maximum Seiun-3) đã được nghiên cứu sản
xuất bằng kỹ thuật nuôi cấy mô.

1
1


- Nuôi cấy mô tế bào thực vật có ưu điểm là cho hệ số nhân giống cao, có
khả năng sản xuất số lượng giống lớn cây trồng trong thời gian ngắn, đồng thời
không chịu sự chi phối của môi trường, bảo quản được trong thời gian dài. Hơn
nữa, thành phần môi trường nuôi cấy ngày càng trở nên phong phú, đầy đủ hơn,
góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sinh trưởng cây giống in vitro.
Cây giống sinh trưởng nhanh, mạnh cho năng suất cao, phần nào đáp ứng được
nhu cầu sản xuất hiện nay.
- Tuy nhiên, việc nâng cao năng suất và chất lượng giống cúc này vẫn đang
gặp rất nhiều khó khăn trong công tác sản xuất. Do vậy chúng tôi tiến hành
nghiên cứu: “Anh hưởng của nước dừay nước chiết từ mầm ngô và nước chiết
từ quả táo đến sinh trường của cây hoa cúc Nhật CN01 (Chrysanthemum
maxỉmum Seỉun - 3) in vỉtro ”
2. Mục đích và nhỉệm yụ nghiên cứu
2.1.

Mục đích nghiên cún


- Ảnh hưởng của nước dừa, nước chiết từ mầm ngô, nước chiết từ quả táo
đến khối lượng khô cây hoa cúc Nhật in vitro.
3. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp tư liệu khoa học cho tìm hiểu và nghiên cứu ảnh hưởng của các
dịch thu từ tự nhiên đến sinh trưởng của hoa cúc Nhật CN01 bằng nuôi cấy mô tế
bào thực vật.
- Góp phần tìm ra loại dịch tự nhiên có hiệu quả tốt
đối với quá trình sinh trưởng của cây in vitro.
-

NỘIDUNG CHƯƠNG 1: TỐNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.

Giói thiệu khái quát về cây hoa cúc

1.1.1.

Nguồn gốc cây hoa cúc

- Nói về nguồn gốc, theo tài liệu ngành Thực vật học, cây hoa cúc xuất xứ
từ Trung Hoa. Khoảng 500 năm trước công nguyên, Khống Tử đã đề cập đến
việc trồng hoa cúc. Ớ Nhật, vào thế kỷ thứ 8 sau công nguyên mới có sự hiện
diện của hoa cúc. Riêng Châu Âu, cúc được mang vào Hà Lan năm 1688, nhưng
việc trồng hoa cúc vào thời điểm này không thành công. Cho đến năm 1789, M.
Blancard ở Marseilles (Pháp) đem ba loại cúc từ Trung Hoa về Pháp, nhưng chỉ
có một trong ba loại này sống được, đó là cúc "Old Purple" và vì vậy đã được ghi
trong lịch sử hoa cúc. Ở Anh, cuối thế kỷ 18, người ta thấy có 8 loại cúc được
nhập cảng; đến năm 1824 có 24 loại và năm 1826 lên tới 48 loại. Vào năm 1860,
nhân dịp thăm viếng Nhật Bản, ông Robert Fortune đã đem nhiều loại cúc mới về


Lạp là Chrysos (nghĩa là vàng) và anthemom (nghĩa là hoa).
- Trong hệ thống phân loại thực vật:
- Ngành: Angỉospermatophyta
- Lóp: Dicotylédones
- Bộ: Asterales
- Họ: Asteraceae
- Chi: Chrysanthemum sp.
- Loài: có nhiều loài, nhưng phổ biến như hoa cắt cành có thể kể là
morifolium
- Họ Cúc Asteraceae là một trong những họ lớn nhất của Ngành Ngọc Lan
(Magnolỉophyta), thực vật hạt kín (Angnỉospermatophyta) [29]. Qua hai hội thảo

1
4


quốc tế về họ Asteraceae năm 1967 và 1994 mang tên “Sinh học và hóa học của
họ Cúc” đã có sự thống nhất tương đối về hệ thống học của họ Asteraceae. Họ
Cúc trên thế giới xếp trong 2 phân họ, 13 tông [21]. Nghiên cứu của Anderson
(1987), Langton (1989) cho biết trên thế giới có hơn 7000 giống cúc đã đưa vào
sử dụng với sự đa dạng về chủng loại, phong phú về màu sắc [17], [22]. Việt
Nam có 2 phân họ và 12 tông, nhưng hiện tại chia làm 17 tông. Họ Cúc có
khoảng 1550 chi với 23000 loài [13], [29].
- Tuy nhiên, có nhiều tài liệu khác nhau về số liệu loài hoa cúc. Theo tác giả
Nguyễn Nghĩa Thìn thì họ Cúc có 2500 loài và có 1100 chi [13]. Theo Trần Lan
Hương và cộng sự, hoa cúc có hơn 3000 loài với kích thước, màu sắc khác nhau
[5].
1.1.3.


dài nằm phía ngoài cùng làm thành một vòng tròn bao quanh phần hoa hình ống
nằm chính giữa. Hoa hình lưỡi có cánh dài chỉ để làm đẹp chứ không có khả năng
sinh sản. Khả năng này chỉ có ở hoa hình ống mà thôi. Tùy theo sự xếp đặt vị trí
của các hoa hình lưỡi: một lớp, nhiều lớp, đều hoặc không đều... mà người ta sẽ
có những hoa với hình dáng giản dị đến bông tròn đầy cánh. Ở những hoa tròn
đầy ta không thấy rõ nhóm hoa hình ống vì bị che lấp bởi hoa hình lưỡi.
- Tùy theo cách sắp xếp cánh hoa, người ta phân ra thành nhóm hoa kép (có
nhiều vòng hoa sắp xếp/bông) và hoa đơn (chỉ có một vòng hoa/bông). Những
cánh hoa ở phía ngoài thường có màu sắc đậm hơn, xếp thành nhiều tầng, chặt
hay lỏng tùy theo từng giống. Cánh có nhiều hình dáng khác nhau: cong hoặc
thẳng, có loại cánh ngắn đều, có loại dài, cuốn ra ngoài hay cuốn vào trong.
- Đường kính bông hoa phụ thuộc vào giống:
- + Giống hoa to: đường kính 10 - 12 cm (Pha Lê, Đại Đóa,...).
- + Giống hoa trung bình: đường kính 5-7 cm (Thọ đỏ, Đỏ nhung,...).
- + Giống hoa nhỏ: đường kính 1-2 cm (chi trắng, chi vàng,...).
- Quả
- Cây hoa cúc có dạng quả bế khô, hình trụ hơi dẹt chỉ chứa một hạt. Hạt có
phôi thẳng và không có nội nhũ.
1.1.3.2.

Đặc điểm sình thải học

1
6


- Nhiệt độ
- Hoa cúc có nguồn gốc ôn đới, nên đa số ưa khí hậu mát mẻ. Với Việt
Nam, mùa thu là mùa có khí hậu tương đối mát mẻ và thuận lợi, nhiệt độ thích
hợp dao động 15 - 20°c, bên cạnh đó cũng có một số giống cúc chịu được nhiệt

cúc có bộ rễ ăn nông do vậy yêu cầu đất cao ráo, thoát nước, tơi xốp.
- + Các chất dinh dưỡng: các loại phân hữu cơ (phân chuồng, phân vi sinh,
than bùn), phân vô cơ (đạm, lân, kali) và các loại phân trung, vi lượng (Mg,
-

Zn, Cu, Fe, Mn, Bo...) có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự sinh

trưởng, phát triến, năng suất và chất lượng của hoa cúc.
1.2.

Giá trị sử dụng của hoa cúc

- Hoa cúc có giá trị trang trí, làm cảnh, tùy theo nền văn hóa khác nhau mà
cách sử dụng chúng cũng khác nhau, do vậy mà hoa cúc ngày càng được ưa
chuộng trong cuộc sống. Ở Chicago (Mỹ) năm 1961, hoa cúc chính thức được coi
là hoa của thành phố. Ớ Trung Quốc, một số loại hoa cúc được dùng làm trà,
thậm chí được sử dụng làm thuốc trừ sâu thân thiện môi trường. Ở Nhật Bản, hoa
cúc được coi là người bạn tâm tình và có một “lễ hội hạnh phúc” để kỉ niệm
hoa... Riêng ở Việt Nam, hoa cúc thường ở mặt ở công viên, vườn hoa, phòng
khách, bàn làm việc, trong các lễ thăm viếng.... Ngoài ra, cúc còn được trồng đại
trà nhằm mục đích cắm hoa bình, trồng trong bồn hay để trang trí...[12], [37].
- Không chỉ đế làm cảnh, theo Lê Kim Biên thì họ cúc gồm có 374 loài,
trong đó có tới 181 loài đã biết giá trị sử dụng, chiếm 50%: ...[1]
-

Làm thuốc: cây hoang dại 85%, 16 loài cây trồng

Làm cảnh: 30 loài (nhập nội có nguồn gốc nước ngoài)
-


làm thuốc chữa nhức đầu, đau mắt; rau cải cúc (C. coronarỉum L.) thường trồng
làm rau ăn [10].
1.3.

Đặc điểm sinh học cây hoa cúc CN01

- Giống cúc CN01 (Chrysanthemum maximum Seiun - 3) là giống cúc đơn
[7] . Đây là giống nhập nội của Nhật Bản, được cung cấp từ Trung tâm
Nghiên cứu và Phát triến Hoa - Cây cảnh, Viện Di truyền Nông nghiệp
tháng 3 năm 2001.
- Giống cúc CNO1 có những đặc điếm:
- Cây cao 70 - 75 cm, thân mập cứng, lá dài xanh bóng, bộ lá gọn, khả năng
phân cành ít nên có thể trồng dày 45 - 50 cây/m 2.
Hoa kép to, cánh ngắn, cứng, xếp chặt, có màu
vàng cam [7]. Thời gian sinh trưởng từ 85 - 95
ngày, độ bền hoa cắt từ 10 - 12 ngày, được trồng
chính vào các vụ xuân hè, hè thu và thu sớm.
-

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ từ

Phòng Nông nghiệp các tỉnh phía Bắc, năm
2003, diện tích trồng cúc CN01 đã lên đến
- 6,3 ha; riêng Hà Nội có 4,9 ha [4].
Hình
1.1.
Chrysanthemum
-

2

giống lớn, sạch bệnh.
1.4.2.

Cơ sở khoa học của nuôi cấy mô và tế bào thực vật

1.4.2.1. Tính toàn năng của tế bào thực vật
- Năm 1902 lần đầu tiên nhà thực vật học người Đức tên là Haberlandt
[19]

đã đề xướng ra phương pháp nuôi cấy mô và tế bào thực vật để

chứng minh cho tính toàn năng của tế bào. Theo nhận định của ông “mỗi

2
1


một tế bào bất kì lấy từ một cơ thể sinh vật đa bào đều có khả năng tiềm
tàng để phát triển thành một cá thế hoàn chỉnh”.
- Mãi hơn 50 năm sau, các nhà thực nghiệm nuôi cấy mô và tế bào thực vật
mới đạt được những thành công chứng minh cho khả năng tồn tại và phát triển
độc lập của tế bào [2]. Đó là các công trình của các tác giả:
- Miller và Skoog (1953) tạo được chồi từ mảnh mô cắt từ thân cây thuốc
-

lá.

-

Reinert và Steward (1958) tạo được phôi và cây hoàn chỉnh từ tế bào đơn

-

Cây giống tạo ra hoàn toàn sạch bệnh, không bị nhiễm bệnh từ môi trường
bên ngoài

-

Sử dụng vật liệu sạch virus và có khả năng nhân nhanh các giống sạch
bệnh.

-

Hoàn toàn có thể điều chỉnh được thành phần dinh dưỡng, nhiệt độ, các
chất điều tiết sinh trưởng... theo ý muốn.

-

Hệ số nhân giống cao, có khả năng sản xuất số lượng giống lớn cây trồng
trong thời gian ngắn. Hệ số nhân giống trong khoảng 3 6đến 1012 cây
giống/năm [2].
- Tiến hành quanh năm, không chịu sự chi phối của môi trường.
- Có thể bảo quản được trong thời gian dài ở điều kiện in vitro.

1.43.2. Nhược điểm
-

Mặc dù có hệ số nhân giống cao nhưng cây giống có kích thước nhỏ khó
trồng trong điều kiện tự nhiên, đôi khi xuất hiện các cây không mong
muốn.


trưởng tốt, cho sản lượng, chất lượng cao, ít bị nhiễm bệnh, khả năng chống chịu
tốt... Đa phần các mẫu thường được thu nhận vào đầu mùa sinh trưởng, lúc sáng
sớm khi toàn cây vẫn còn trạng thái trương nước [27].
- Sự tái sinh của mẫu phụ thuộc vào thành phần của môi trường nuôi cấy,
đặc điểm di truyền của loài cây, trạng thái sinh lí của cây cho mẫu và đôi khi chịu
ảnh hưởng của các mùa trong năm.
1.4.4.2. Môi trường nuôi cấy
- Vào thời kỳ Haberlandt tiến hành các thí nghiệm nuôi cấy tế bào phân lập,
những hiểu biết về nhu cầu dinh dưỡng khoáng của mô và tế bào thực vật còn rất

2
4


hạn chế, đặc biệt là vai trò của các chất điều khiển sinh trưởng hầu như chưa
được khám phá. Chính vì vậy mà Haberlandt đã không thành công.
- Từ đầu những năm 20 đã có một số công trình sử dụng môi trường dinh
dưỡng tổng hợp. Ngoài muối khoáng và nguồn cacbon, bổ sung vào môi trường
còn có vitamin và một số chất khác. Kotte và Robbins (1922) đã hoàn thiện thành
phần môi trường, trong đó bổ sung thêm các loại đường, aminoaxit và dịch chiết
nấm. Trong những năm 60, môi trường nuôi cấy đã được xây dựng và cải tiến.
Đó là các môi trường Linsmainer và Skoog (1965) [25], môi trường Murashige
và Skoog (1962) [26], môi trường Gamborg (1968) [18].
- Với từng loại thực vật, tế bào, mô, cơ quan khác nhau thì thành phần môi
trường nuôi cấy cũng khác nhau tùy thuộc vào mục đích nuôi cấy. Tuy nhiên môi
trường cơ bản cho tất cả các loại cây bao gồm:
-

Các nguyên tố đa lượng (muối nitơ, phốt pho, magie, canxi, kali, lưu
huỳnh): là thành phần không thể thiếu được vì chúng tham gia cấu thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status