Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở huyện kim bảng, hà nam hiện nay theo tư tưởng hồ chí minh - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=======***=======

ĐINH THỊ AN

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA
TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC Ở
HUYỆN KIM BẢNG, HÀ NAM HIỆN NAY
THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh

HÀ NỘI, 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=======***=======

ĐINH THỊ AN

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA
TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC Ở
HUYỆN KIM BẢNG, HÀ NAM HIỆN NAY
THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

nghiên nào và không trùng với kết quả của bất cứ tác giả nào. Các số liệu
được sử dụng trong khóa luận là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa
học và có nguồn gốc rõ ràng. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội ngày 13 tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện

Đinh Thị An


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài .......................................... 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 4
6. Kết cấu của khóa luận ............................................................................. 4
Chương 1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ............... 5
1.1. Khái niệm về văn hóa .......................................................................... 5
1.2. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa ........... 6
Chương 2. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ
VÀO VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN,
ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC Ở HUYỆN KIM BẢNG, HÀ NAM
HIỆN NAY .................................................................................................. 18
2.1. Sự cần thiết phải vận dụng tư tưởng Hố Chí Minh về văn hóa trong
việc xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
ở huyện Kim Bảng, Hà Nam hiện nay ...................................................... 18
2.2. Thực trạng xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc ở huyện Kim Bảng, Hà Nam............................................ 23
2.3. Phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quá

văn hóa dân tộc. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa dân tộc vì
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng , văn minh”, chúng ta

1


phải ra sức bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam để đất nước
ta bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế một cách toàn và phát triển bền vững.
Hà Nam - một tỉnh phía Bắc nằm giáp Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình,
Nam Định, là tỉnh có nền văn minh lúa nước lâu đời và nền văn hóa dân gian
phong phú, thể hiện qua các điệu chèo, hát chầu văn, hầu bóng, ả đào, đặc biệt
là hát dậm. Đây cũng là vùng đất có nhiều lễ hội truyền thống và di tích lịch
sử và lễ hội: Lễ hội đền Trúc (còn gọi là hội Quyển Sơn), Hội chùa Đọi Sơn,
Lễ hội tịch điền, Hội đền Trần Thương, Hội làng Duy Hải, …
Hiện nay, huyện Kim Bảng - Hà Nam đang trên đà phát triển cùng với sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước chúng ta phải ra sức bảo tồn và
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc để phát triển huyện một cách toàn diện và bền
vững. Vì vậy, nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình xây
dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở huyện Kim
Bảng, Hà Nam là việc làm có ý nghĩa quan trọng.
Từ lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Xây dựng và phát triển nền văn
hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở huyện Kim Bảng, Hà Nam hiện nay
theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về vấn
đề văn hóa và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh được
in thành sách, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể như:
- Đinh Xuân Lâm, Bùi Đình Phong, Hồ Chí Minh - văn hóa và đổi mới,
Nxb lao động, Hà Nội, 1996.
- Võ Nguyên Giáp, Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt

Hồ Chí Minh.
* Phạm vi nghiên cứu
Việc tìm hiểu quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc ở huyện Kim Bảng, Hà Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ

3


Chí Minh là vấn đề quan trọng. Song ở đây công trình nghiên cứu giới hạn
trong phạm vi văn hóa của huyện Kim Bảng trong vòng 5 năm từ năm 2010
đến năm 2015.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp: phương pháp lịch sử cụ thể,
phương pháp logic là chủ yếu, đồng thời kết hợp với phương pháp phân
tích tổng hợp, khái quát - trừu tượng, …để làm rõ mục đích và nhiệm vụ
của đề tài.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của khóa luận gồm 2 chương và 5 tiết.

4


Chƣơng 1
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA
1.1. Khái niệm về văn hóa
Khái niệm văn hóa có nội hàm phong phú và ngoại diên rất rộng. Chính vì
vậy có đến hằng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Tháng 8- 1943, khi còn
trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, lần đầu tiên Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa
của mình về văn hóa. Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc

thượng tầng.
Ngay sau thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã đưa ra
quan điểm này. Ở đây, Hồ Chí Minh đặt văn hóa ngang hàng với chính trị,
kinh tế, xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội và các vấn
đề này có quan hệ với nhau rất mật thiết. Cho nên trong công cuộc xây dựng
đất nước, cả bốn vấn đề này phải được coi trọng như nhau.
Trong quan hệ với chính trị, xã hội: Hồ Chí Minh cho rằng, chính trị, xã
hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng
sẽ mở đường cho văn hóa phát triển. Người nói: “Xã hội thế nào, văn nghệ
thế ấy… Dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị nô lệ, thì văn
hóa cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được”[14, tr.231 ] .Để văn
hóa phát triển tự do, phải làm cách mạng chính trị trước. Ở Việt Nam , tiến
hành cách mạng chính trị thưc chất tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc để dành chính quyền, giải phóng chính trị, giải phóng xã hội , từ đó giải
phóng văn hóa, mở đường chovăn hóa phát triển.
Trong quan hệ với kinh tế, Hồ Chí Minh chỉ rõ kinh tế là thuộc về cơ sở
hạ tầng, là nền tảng của xây dựng văn hóa. Từ đó, Người đưa ra luận điểm:
Phải chú trọng xây dựng kinh tế , xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện xây
dựng và phát triển văn hóa. Người viết: văn hóa là một kiến trúc thượng tầng ;
những cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được
và có đủ điều kiện phát triển được.

6


Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là kinh tế phải đặt trước một bước. Người
viết: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì
sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế . Tục ngữ ta có câu : có thực mới
vực được đạo, vì kinh tế phải đi trước” .[17, tr.470]
Hai là, văn hóa kinh tế không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và

hóa thực sự vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước.
1.2.2. Quan điểm về tính chất của nền văn hóa
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh đã
bắt tay ngay vào việc xây dựng một nền văn hóa mới. Nhiều vấn đề về văn
hóa đã được đặt ra và giải quyết ngay trong những ngày đầu của chính quyền
cách mạng, như: giải quyết nạn dốt, giáo dục nhân dân tinh thần cần, kiệm,
liêm, chính;cấm hút thuốc phiện, lương giáo đoàn kết và tự do tín
ngưỡng…Như vậy, nền văn hóa mới ra đời đã gắn liền với nước Việt Nam
mới. Nền văn hóa việt nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp là
nền văn hóa kháng chiến, kiến quốc, nền văn hóa dân chủ mới. Khi miền Bắc
bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền văn hóa được xây dựng
nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau xong nền văn hóa mới mà
chúng ta xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh luôn bao hàm ba tính chất :tính
dân tộc, tính khoa học và tính đại chúng.
Tính dân tộc của nền văn hóa được Hồ Chí Minh biểu đạt bằng nhiều
khái niệm, như đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc, nhằm nhấn mạnh đến chiều
sâu bản chất rất đặc trưng của văn hóa dân tộc, giúp phân biệt không nhầm
lẫn với văn hóa của dân tộc khác.
Tính khoa học của nền văn hóa mới thể hiện ở tính hiện đại, tiên tiến
thuận với trào lưu văn hóa của thời đại. Tính khoa học của văn hóa đòi hỏi
phải đấu tranh chống lại những gì trái với khoa học, phản tiến bộ, phải truyền
bá tư tưởng mác- xít, đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, thần bí, mê tín dị

8


đoan, phải biết gạn đục khơi trong, biết kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân
tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại.

cảm rất phong phú, văn hóa phải đặc biệt quan tâm đến những tư tưởng và tình
cảm ấy tri phối đời sống tinh thần cảu mỗi con người và cả dân tộc.
Hai là, mở rộng phải biết nâng cao dân trí.
Nói đến văn hóa là phải nói đến dân trí. Đó là trình độ hiểu biết, là vốn
kiến thức của người dân. Nâng cao dân trí phải bắt đầu từ chỗ biết đọc, biết
viết để có thể hiểu biết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Vấn đề
nâng cao dân trí chỉ có thể thực hiện sau khi chính trị đã được giải phóng,
toàn bộ chính quyền thuộc về tay nhân dân.
Mục tiêu của nâng cao dân trí trong từng giai đoạn cách mạng có thể có
những điểm chung và riêng, song tất cả đều hướng vào mục tiêu chung là độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nâng cao dân trí để nhân dân có thể tham gia
sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, góp phần cùng Đảng “…biến một nước dốt
nát thành một nước văn hóa cao và đời sống vui tươi hạnh phúc”.
Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất, phong cách lối sống tốt đẹp, lành
mạnh; hướng con người đến chân, thiện, mỹ để hoàn thiện bản thân.
Phẩm chất và phong cách được hình thành từ đạo đức, lối sống, từ thói
quen của cá nhân và phong tục tập quán của cả cộng đồng. Phẩm chất và
phong cách thường có mối quan hệ gắn bó với nhau. Mỗi người thường có
nhiều phẩm chất, trong đó có nhiều phẩm chất chung và phẩm chất riêng, tùy
theo nghề nghiệp và vị trí công tác. Căn cứ vào yêu cầu và nhiệm vụ của cách
mạng, Hồ Chí Minh đề ra những phẩm chất và phong cách cần thiết để mỗi
người tự tu dưỡng. Riêng với cán bộ, Đảng viên, Hồ Chí Minh đắc biệt quan
tâm đến phẩm chất đạo đức- chính trị.
Những phẩm chất và phong cách tốt đẹp tạo nên giá trị con người. Văn
hóa giúp con người hình thành nên những phẩm chất, phong cách và lối sống
tốt đẹp, lành mạnh thông qua việc phân biệt cái đẹp và cái xấu, cái hư hỏng,

10




người, đào tạo con người có ích cho xã hội. Văn hóa giáo dục phải đào tạo
những lớp người có đức, có tài kế tục sự nghiệp cách mạng, làm cho nước ta
“sánh vai với các cường quốc năm châu”[9, tr.35] . Học không phải để lấy
bằng cấp mà phải thực học, “học để làm việc, làm người, làm cán bộ”.
Về nội dung giáo dục, phải phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Giáo dục
phải toàn diện bao gồm cả văn hóa, chính trị, khoa học- kỹ thuật, chuyên
môn nghền nghiệp, lao động. Các nội dung này có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Người chỉ rõ, nếu không có trình độ văn hóa thì không tiếp thu được
khoa học- kỹ thuật, không học khoa học- kỹ thuật thì không theo kịp được
nhu cầu kinh tế nước nhà; song phải chú ý học chính trị, vì nếu chỉ học văn
hóa không học chính trị thì như người nhắm mắt mà đi. Học chính trị là học
chủ nghĩa Mác- Lênin, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Học để
nắm vững quan điểm, lập trường có tính nguyên tắc của Đảng, thế giới quan,
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin. Phương pháp học phải sáng
tạo, không giáo điều. Xã hội ngày càng phát triển, nhân dân ngày càng tiến
bộ nên người đành phải tiến hành cải cách giáo dục, nhằm xây dựng chương
trình, nội dung, phương pháp dạy và học thật khoa học, hợp lý, đáp ứng đòi
hỏi của cách mạng.
Về phương châm, phương pháp giáo dục, phương châm học đi đôi với
hành, lý luận phải liên hệ với thực tế, học tập phải kết hợp với lao động, phải
kết hợp thật chặt chẽ ba khâu: gia đình, nhà trường và xã hội; thực hiện dân
chủ, bình đẳng trong giáo dục; học ở mọi nơi, mọi lúc; học mọi người, học
suốt đời. Coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tại lại. Phương pháp giáo
dục phải phù hợp với mục tiêu giáo dục. Cách dạy phải phù hợp với trình độ
người học, phù hợp với lứa tuổi, dạy từ dễ đến khó; phải kết hợp học tập với
vui chơi, giải trí lành mạnh phải dùng biện pháp nêu gương gắn liền với
phong trào thi đua…
Về đội ngũ giáo viên, phải quan tâm xây dựng, bồi dưỡng được đội ngũ



13


thắng đế quốc thực dân đã khó, thắng nghèo nàn, lạc hậu còn khó hơn nhiều.
Để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang đó, Hồ Chí Minh yêu cầu “chiến sĩ nghệ thật
cần có lập trường vững, tư tưởng đúng, …đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ
Quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết.” Phải nâng cao trình độ chính trị,
văn hóa, nghiệp vụ, có phẩm chất, bản lĩnh, tài năng để sáng tạo ra những sản
phẩm tinh thần phục vụ đời sống, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.
Hai là, văn nghệ phải gắn với thực tiễn đời sống của nhân dân.
Thực tiễn đời sống của nhân dân rât phong phú, bao gồm thực tiễn lao
động sản xuất, chiến đấu, sinh hoạt và xây dựng đời sống mới. Đây là nguồn
nhựa sống, là sinh khí và là chất liệu vô tận cho văn ngệ sáng tác. Từ thực tiễn
đó, bằng tài năng sáng tạo và tinh thần nhân văn của mình, văn nghệ sĩ có thể
nhào lặn, thăng hoa, hư cấu tạo nên những tác phẩm nghệ thuật trường tồn
cùng dân tộc và nhân loại. Để làm được như vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu các
văn nghệ sĩ phải “thật hòa mình vào quần chúng”, phải “từ trong quần chúng
ra, trở về nơi quần chúng”, phải “liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân”
để hiểu thấu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân, học tập nhân dân
và miêu tả cho hay, cho chân thật và hùng hồn thực tiễn của đời sống nhân
dân. Bởi vì nhân dân không chỉ là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và
tinh thần. Họ còn là người hưởng thụ và đánh giá các tác phẩm văn học- nghệ
thuật một cách trung thực, khách quan và chính xác nhất.
Ba là, phải có những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại của đất
nước và dân tộc.
Mục tiêu của văn nghệ là phục vụ quần chúng. Để thực hiện được mục
tiêu này, các tác phẩm văn nghệ phải đạt tới sự hài hòa giữa nội dung và hình
thức. Người nói: “Quần chúng mong muốn những tác phẩm cóa nội dung
chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì

hiện: “Cần, kiệm, liêm, chính”. Sau này, Người đã nhiều lần khẳng định:
“Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến
thành sâu mọt của dân”, “Nêu cao thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là

15


nhen lửa cho đời sống mới”.
Lối sống mới: Lối sống mới là lối sống có lý tưởng, có đạo đức. Đó còn
là lối sống văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hòa giữa truyền thống tốt đẹp của
dân tộc với tinh hóa văn hóa nhân loại. Con người muốn tồn tại phải làm sao
cho có ăn, mặc, ở, đi lại và làm việc; phải làm sao cho mỗi hoạt động đó đều
phải mang tính văn hóa. Chính vì vậy, để xây dựng lối sống mới, Hồ Chí
Minh yêu cầu phải sủa đổi: “cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại” - theo
ngôn ngữ hiện nay đây chính là phong cách sống (sinh hoạt và ứng xử) phong
cách làm việc gọi chung là lối sống mới.
Phong cách sống, theo Hồ Chí Minh, là phải khiêm tốn, giản dị, chừng
mực, ngăn nắp, vệ sinh, yêu lao động, biết quý trọng thời gian, ít lòng ham
muốn về vật chất, về chức - quyền - danh - lợi. Trong quan hệ với nhân dân,
bạn bè, đồng chí, anh em thì cởi mở, chân tình, ân cần, tế nhị; giàu tình yêu
thương, quý mến, trân trọng con người; với mình thì chặt chẽ, nghiêm khắc,
với người thì độ lượng, khoan dung.
Phong cách làm việc theo Hồ Chí Minh, là phải sửa đổi sao cho có tác
phong quần chúng, tác phong tập thể- dân chủ, tác phong khoa học. Ba loại
tác phong này có quan hệ mật thiết với nhau. Sửa đổi phong cách l;àm việc có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cán bộ làm công tác quản lý, lãnh đạo. Bởi
vì, theo Hồ Chí Minh, đã là cán bộ cách mạng phải có phong cách sống và
phong cách làm việc tốt, để làm gương mẫu cho dân.
Nếp sống mới: Xây dựng nếp sống mới - nếp sống văn minh, là quá trình
làm cho lối sống mới dần dần thành thói quen, thành phong tục tập quán tốt

VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ VÀO VIỆC
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ
BẢN SẮC DÂN TỘC Ở HUYỆN KIM BẢNG, HÀ NAM HIỆN NAY
2.1. Sự cần thiết phải vận dụng tƣ tƣởng Hố Chí Minh về văn hóa trong
việc xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
ở huyện Kim Bảng, Hà Nam hiện nay
2.1.1. Khái niệm về băn sắc văn hóa dân tộc
Bản sắc văn hóa có nhiều cách hiểu khác nhau.
“Bản” là gốc, cái tự có, cái thuộc về bản chất, cốt lõi, căn lề, dòng chính
của một nền văn hóa. “Sắc” nghĩa là màu, đường nét. Bản sắc văn hóa là
những đường nét tạo ra đặc trưng của một nền văn hóa. Bản sắc là cốt cách
chứ không phải là cái biểu hiện ra bên ngoài.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng (khóa
VIII) đã khái quát: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những
tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử, hàng
ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý
chí tự lực, tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá
nhân- gia đình- làng xã- Tổ Quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình,
đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính
giản dị trong lối sống, … Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hình
thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”.
2.1.2. Những diễn biến văn hóa trên thế giới
Thứ nhất, ngày nay, khi thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại cùng
tồn tại hòa bình và tập trung nguồn lực quốc gia cho sự phát triển kinh tế bằng
những phương tiện hiện đại của cuộc cách mạng tin học thì việc giao lưu văn

18


hóa trên thế giới càng được mở rộng hơn bao giờ hết; các sản phẩm “văn hóa”


2.1.3. Vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc ở Việt Nam
Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nhỏ, manh mún
tiến lên ền sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, đây là một quá trình phát triển “kinh tế - kỹ
thuật - văn hóa - xã hội” rất phức tạp. Qúa trình ấy đang tác động mạnh mẽ
đến nhiều mặt dối với chính bản thân con người và mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Sự tác động đan xen giữa các yếu tố:tích cực và tiêu cực, tiến bộ và
bảo thủ, mới và cũ, truyền thống và hiện đại, nội sinh và ngoại sinh, giá trị và
phản giá trị. Vì vậy, bên cạnh những mặt tốt, những mặt tích cực, con người
phải biết chấp nhận và vượt qua thử thách, khó khăn để giữ gìn và phát huy
bản sắc dân tộc.
Về tình hình xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc ở Việt Nam có thể đánh giá ở một số mặt sau đây:
* Thứ nhất, về văn hóa văn nghệ.
Từ sau cách mạng Tháng Tám, văn hóa văn nghệ Việt Nam đã trở thành
một bộ phận khăng khít của cách mạng, đóng góp một phần to lớn vào sự
thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Các văn nghệ
sỹ các nhà hoạt động nghệ thuật đã thực sự là chiến sỹ trên mặt trận văn hóa
tư tưởng. Tác phẩm văn học nghệ thuật ngày càng xuất hiện nhiều, phong phú
về nội dung, đa dạng về nghệ thuật, phản ánh chân thực cuộc sống chiến đấu
và lao động, có sức cổ vũ động viên to lớn đối với quần chúng nhân dân.
Từ ngày đổi mới có nhiều tác phẩm có giá trị tiếp tục ra đời được nhân
dân nồng nhiệt tiếp nhận. Nhiều hình thức văn hóa truyền thống như miếu
mạo, chùa chiền, lễ hội, …được khội phục, phương tiện thông tin đại chúng
ngày càng hiện đại, đặc biệt là mở rộng giao lưu văn hóa với nước ngoài được
tổ chức với quy mô cả nước, thu hút hàng triệu người tham gia.

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status