Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở huyện kim bảng, hà nam hiện nay theo tư tưởng hồ chí minh - Pdf 36

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
ĐINH THỊ

XÂY DƯNG VÀ PHÁT TRIỂN NÈN VĂN HÓA
TIÊN TIÉN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN Tộc Ở
HUYỆN KIM BẢNG, HÀ NAM HIỆN NAY
THEO Tư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh


ĐINH THỊ

XÂY DựNG VÀ PHÁT TRIỂN NÈN VĂN HÓA
TIÊN TIẾN ĐẢM ĐÀ BẢN SẤC DÂN Tộc Ở
HUYỆN KIM BẢNG, HÀ NAM HIỆN NAY
THEO Tư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh

Ngưòi hướng dẫn khoa học
ThS. Phạm Thị Thúy Vân


Với tấm lòng kính trọng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới ThS. Phạm
Thị Thuý Vân - Người đã luôn tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và
hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoaLỜI

Đinh Thi An


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề văn hóa luôn chiếm một vị trí quan trọng.
Những quan điểm của Người về văn hóa là kim chỉ nam để Đảng ta hoạch định chính
sách, sách lược phát triển văn hóa qua các giai đoạn xây dựng đất nước. Những quan
điểm và hoạt động văn hóa của Người đã góp phần vào sự tiến bộ, văn minh của nhân
loại.
Khi tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta nhận
thây rằng, Người đã đấu tranh không mệt mỏi, hi sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc Việt Nam vì sự tiến bộ của nhân loại. Chính sự cống hiến to lớn như
vậy Người đã được UNESCO ghi nhận danh hiệu cao quý: “Anh hùng giải phóng dân
tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất thế giới”. Với tầm vóc danh nhân văn hóa thế giới,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lạ cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu về nhiều lĩnh
vực trong đó có lĩnh vực văn hóa. Việc tìm hiểu những quan điểm của Người về văn
hóa và việc giữ gìn văn hóa, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc giúp chúng ta có cơ sở lý
luận và kinh nghiệm thực tiễn để thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc trong công cuộc đổi mới đất nước.
Có thể nói, trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của
dân tộc, luôn gắn liền với quá trình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đất
nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, toàn bộ những giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh
như ngọn đuốc dẫn đường cho cách mạng Việt Nam qua bến bờ đến tương lai, trong
đó có giá trị tư tưởng về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc. Cùng với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa dân tộc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công


-

Võ Nguyên Giáp, Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.

-

Phùng Ngọc Diễm, “Bác Hồ - Tinh hoa bản sắc vãn hóa dân tộc”; Tạp chí Văn hóa các
dân tộc, số 5 - 2007.

-

Nguyễn Ngọc Quyến, “Tu tuởng Hồ Chí Minh về văn hóa và vấn đề bảo tồn văn hóa
dân tộc”; Tạp chí Triết học, tháng 11- 2014.


Những công trình nghiên cứu kể trên của tác giả đã đề cập đến tu tuởng văn hóa
của Hồ Chí Minh tuy nhiên vẫn chua có công trình nghiên cứu cụ thể nào nói về quá
trình xây dụng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở huyện Kim
Bảng, Hà Nam hiện nay theo tu tuởng Hồ Chí Minh.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Muc đích
Khóa luận tốt nghiệp góp phần hệ thống hóa tu tuởng Hồ Chí Minh về văn hóa
và tìm hiểu sụ vận dụng tu tuởng của Nguời vào quá trình xây dụng và phát triển nền
văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở huyện Kim Bảng, Hà Nam hiện nay.

* Nhiêm vu



logic là chủ yếu, đồng thời kết họp với phương pháp phân tích tổng hợp, khái quát trừu tượng, ...để làm rõ mục đích và nhiệm vụ của đề tài.

6. Kết cấu của khóa luân
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
khóa luận gồm 2 chương và 5 tiết.


Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẮN ĐỀ VĂN HÓA

1.1.

Khái niêm về văn hóa
Khái niệm văn hóa có nội hàm phong phú và ngoại diên rất rộng. Chính vì vậy

có đến hằng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Tháng 8- 1943, khi còn trong nhà
tù Tưởng Giới Thạch, lần đầu tiên Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa của mình về văn
hóa. Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới
sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,
văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các
phương thức sử dụng. Toàn bộ những phát minh sáng tạo đó tức là văn hóa. Văn hóa
là sự tổng họp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài
người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sinh
tồn” [8, tr.458].
Với định nghĩa này chúng ta nhận thấy Người đã khắc phục được những quan
điểm phát diện về văn hóa trong lịch sử và hiện tại, hoặc chỉ đề cập đến những lĩnh
vực tinh thần, trong văn học nghệ thuật, hoặc chỉ đề cập đến lĩnh vực giáo dục, phản
ánh trình độ học vấn, ... Trên thực tế, văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất
và những giá trị tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra, nhằm đáp ứng sự sinh tồn và

không thể phát triển được”[14, tr.231 ] .Để văn hóa phát triển tự do, phải làm cách
mạng chính trị trước. Ở Việt Nam , tiến hành cách mạng chính trị thưc chất tiến hành
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc để dành chính quyền, giải phóng chính trị, giải
phóng xã hội , từ đó giải phóng văn hóa, mở đường chovăn hóa phát triển.
Trong quan hệ với kinh tế, Hồ Chí Minh chỉ rõ kinh tế là thuộc về cơ sở hạ tầng,
là nền tảng của xây dựng văn hóa. Từ đó, Người đưa ra luận điểm: Phải chú trọng xây
dựng kinh tế , xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa.
Người viết: văn hóa là một kiến trúc thượng tầng ; những cơ sở hạ tầng của xã hội có
kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được và có đủ điều kiện phát triển được.
Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là kinh tế phải đặt trước một bước. Người viết:
“Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không
nói phát triển văn hóa và kinh tế . Tục ngữ ta có câu : có thực mới vực được đạo, vì
kinh tế phải đi trước” .[17, tr.470]


Hai là, văn hóa kinh tế không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính
trị, phải phục vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự phát triển cả kinh tế.
Đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chi Minh không nhấn mạnh
một chiều về sự phụ thuộc “thụ động” của văn hóa vào kinh tế , chờ cho kinh tế phát
triển, chờ cho kinh tế phát triển xong rồi mới phát triển văn hóa. Người cho rằng, văn
hóa có tính tích cực, chủ động đóng vai trò to lớn như một động lực thúc đẩy sự phát
triển của kinh tế và chính trị. Người nói: “Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ
giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao
trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành
một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.[15, tr.459 ]
Văn hóa phải ở trong kinh tể và chính trị, có nghĩa là văn hóa phải tham gia thực
hiện những nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy phát triển và xây dựng kinh tế. Quan điểm
này không chỉ định hướng cho việc xây dựng một nền văn hóa mới ở Việt Nam mà
còn định hướng cho mọi hoạt động văn hóa. Trong kháng chiến chống Thực dân Pháp,
quan điểm “Văn hóa cũng là một mặt trận”, “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa

như đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc, nhằm nhấn mạnh đến chiều sâu bản chất rất
đặc trưng của văn hóa dân tộc, giúp phân biệt không nhầm lẫn với văn hóa của dân tộc
khác.
Tính khoa học của nền văn hóa mới thể hiện ở tính hiện đại, tiên tiến thuận với
trào lưu văn hóa của thời đại. Tính khoa học của văn hóa đòi hỏi phải đấu tranh chống
lại những gì trái với khoa học, phản tiến bộ, phải truyền bá tư tưởng mác- xít, đấu
tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, thần bí, mê tín dị đoan, phải biết gạn đục khơi
trong, biết kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của
nhân loại.
Tính đại chúng của nền văn hóa được thể hiện ở chỗ nền văn hóa ấy phục vụ
nhân dân và do nhân dân xây dựng nên. Hồ Chí Minh nói: “văn hóa phục vụ ai? cố
nhiên, chúng ta phải nói là phục vụ công nông binh, tức là phục vụ đa số nhân
dân”[16, tr.558]; Quần chúng là những người sáng tạo. Nhưng quần chúng không chỉ
sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội. Quần chúng còn là những người sáng
tác nữa...”


Hồ Chí Minh cũng nhận định: mỗi cán bộ, mỗi người dân đều phải biết xây
dựng một nền văn hóa dựa trên cơ sở giữ, vay, trả. Giữ là luôn giữ gìn, bảo tồn và phát
huy bản sắc dân tộc; vậy là biết cách lựa chọn để tiếp nhận cái hay, cái đẹp của văn
hóa của nhân loại nhằm bổ sung vào cái thiếu, cái dở của ta; trả là chúng ta biết cách
giới thiệu cái đẹp của nền văn hóa nước ta ra nước ngoài, một nền văn hóa đẹp mà họ
cần học hỏi. Trong đó, giữ vai trò quan trọng nhất, nó là căn bản để phân biệt nền văn
hóa của dân tộc ta với nền văn hóa của dân tộc khác trên thế giới. Chúng ta vay phải
cảnh giác với âm mưu “diễn biến hòa bình” của Chủ nghĩa Đế quốc, mà ta có thể trở
thành cái bóng của văn hóa họ, mất đi bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

1.2.3.

Quan điểm về chức năng của nền văn hóa

Căn cứ vào yêu cầu và nhiệm vụ của cách mạng, Hồ Chí Minh đề ra những phẩm chất
và phong cách cần thiết để mỗi người tự tu dưỡng. Riêng với cán bộ, Đảng viên, Hồ
Chí Minh đắc biệt quan tâm đến phẩm chất đạo đức- chính trị.
Những phẩm chất và phong cách tốt đẹp tạo nên giá trị con người. Văn hóa giúp
con người hình thành nên những phẩm chất, phong cách và lối sống tốt đẹp, lành
mạnh thông qua việc phân biệt cái đẹp và cái xấu, cái hư hỏng, cái tiến bộ với cái lạc
hậu, bảo thủ. Từ đó giúp con người hoàn thiện bản thân mình. Với ý nghĩa đó Hồ Chí
Minh đã chỉ rõ: Phải làm thế nào cho văn hóa thấm sâu vào tâm lý quốc dân nghĩa là
văn hóa phải sửa đổi được tình trạng tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ; văn hóa
phải soi đường cho quốc dân đi.

1.2.4.

Quan điểm của Hồ Chí Mình về một số lĩnh vực chính của văn hóa
Thứ nhất, văn hóa giáo dục.
Sau khi tim thấy con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã bỏ nhiều công sức phân

tích sâu sắc nền giáo dục phong kiến, chuẩn bị cho việc xây dựng một nền giáo dục
của nước Việt Nam sau này. Hồ Chí Minh đã phê phán gay gắt nền giáo dục phong
kiến (tầm chương, kinh viện, xa rời thực tế, bất bình đẳng, trọng nam khinh nữ...) và
nền giáo dục thực dân (ngu dân, đồi bại, xảo trá, nguy hiểm hơn cả sự dốt nát.)


Nền giáo dục mới thực sự ra đời sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám và phát
triển cùng với sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc, Hồ Chí Minh cho rằng, việc xây
dựng nền giáo dục mới phải được coi là mặt trận quan trọng, nhiệm vụ cấp bách, có ý
nghĩa chiến lược, cơ bản và lâu dài. Nền giáo dục đó sẽ; . .làm cho dân tộc chúng ta
trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với
nước Việt Nam độc lập”.
Trong quá trình xây dựng nền văn hóa giáo dục ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã

chẽ ba khâu: gia đình, nhà trường và xã hội; thực hiện dân chủ, bình đắng trong giáo
dục; học ở mọi nơi, mọi lúc; học mọi người, học suốt đời. Coi trọng việc tự học, tự
đào tạo và đào tại lại. Phương pháp giáo dục phải phù hợp với mục tiêu giáo dục.
Cách dạy phải phù hợp với trình độ người học, phù hợp với lứa tuổi, dạy từ dễ đến
khó; phải kết hợp học tập với vui chơi, giải trí lành mạnh phải dùng biện pháp nêu
gương gắn liền với phong trào thi đua...

về đội ngũ giáo viên, phải quan tâm xây dựng, bồi dưỡng được đội ngũ giáo
viên có đạo đức cách mạng, yêu nghề, yên tâm công tác, đoàn kết và họp tác với đồng
nghiệp, giỏi chuyên môn, thuần thục về phuơng pháp. Mỗi giáo viên phải là một tấm
guơng sáng về đạo đức, về học tập “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”.
Nhu vậy Hồ Chí Minh đã định huớng cho việc xây dựng nền giáo dục mới phát
triển đúng đắn, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và
thống nhất nuớc nhả.
Thứ hai, văn hóa văn nghệ.
Văn nghệ bao gồm văn học và nghệ thuật, là biểu hiện tập trung nhất cảu nền
văn hóa, là đỉnh cao của đời sống tinh thần, là hình ảnh của tâm hồn dân tộc. Hồ Chí
Minh không chỉ là nguời khai sinh ra nên văn nghệ cách mạng ở Việt Nam mà còn là
chiến sĩ tiên phong trong sáng tạo văn nghệ. Trong quá trình chỉ đạo xây dựng nền văn
nghệ cách mạng, Hồ Chí Minh đã đua nhiều quan điểm lớn. Trong đó, có 3 quan điểm
chủ yếu sau đây:
Một là, văn hóa văn nghệ là một mặt trận, nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ
là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng.


Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa văn nghệ là một mặt trận, tức là khẳng định
vai trò, vị trí của văn hóa văn nghệ trong sự nghiệp cách mạng, coi mặt trận văn hóa
cũng có tầm quan trọng nhu mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế. Ở một tầm nhìn sâu
xa hon, Hồ Chí Minh coi mặt trận văn hóa nhu một “cuộc chiến khổng lồ’’ giữa chính
tà, giữa cách mạng và phản cách mạng. Cuộc chiến đó sẽ rất quyết liệt, rất lâu dài

“Quần chúng mong muốn những tác phấm cóa nội dung chân thật và phong phú, có
hình thức trong sáng và vui tuơi. Khi chua xem thì muốn xem, xem rồi thì có bố ích”.
[18, tr.504] Đó là một tác phấm hay.
Một tác phấm hay là tác phấm diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, ai đọc cũng
hiểu được và khi đọc xong phỉa suy ngẫm. Tác phẩm đó phải kế thừa được những tinh
hoa văn hóa dân tộc, mang được hơi thở của thời đại, vừa phản ánh chân thực những
gì đã có trong đời sống, vừa phê phán cái dở, cái sai, hướng nhân dân đến cái chân, cái
thiện, cái mỹ, vươn tới cái lý tưởng- đó chính là sự phản ánh có tính hướng đích của
văn nghệ. Để thực hiện được tính hướng đích này, các tác phẩm nghệ thuật phải chân
thực về nội dung, đa dạng, phong phú về hình thức và thể loại. Chính sự phong phú,
đa dạng về hình thức và thể loại dã mở ra con đường sáng tạo không giới hạn cho các
văn nghệ sĩ.
Thứ ba, văn hóa đời sống.
Văn hóa là một bộ mặt tinh thần của xã hội, nhưng bộ mặt tinh thần ấy không
phải là cái gì cao siêu, trừu tượng mà còn được thể hiện ngay ra trong cuộc sống hằng
ngày của mỗi con người, rất dễ hiểu, dễ thấy. Đó chính là văn hóa đời sống. Gắn việc
xây dựng nền văn hóa mới với xây dựng đời sống mới thực sự là một cách nhìn, một
giải pháp rất độc đáo của Hồ Chí Minh.
Văn hóa đời sống thực chất là đời sống mới, được Hồ Chí Minh nêu ra với ba
nội dung: đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới. Ba nội dung này có quan hệ
mật thiết, trong đó đạo đức giữ vai trò chủ yếu. Bởi vì chỉ có thể dựa trên một nền đạo
đức mới, thì mới xây dựng được nếp sống mới và lối sống mới. Đen lượt mình, đạo


đức mới cũng chỉ có thể thể hiện trong lối sống và nếp sống.
Đạo đức mới: để xây dựng đời sống trước hết phải xây dựng đạo đức mới. Ngay
trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Hồ Chí Minh đã đề nghị “mở một
chiền dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: “Cần, kiệm, liêm,
chính”. Sau này, Người đã nhiều lần khắng định: “Nếu không giữ đúng cần, Kiệm,
Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”, “Nêu cao thực hành

nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia văn minh và phú cuờng là một công việc lâu dài
và phải có phuong pháp tốt. Công việc đó đòi hỏi quyết tâm của cả cộng đồng dân tộc,
song truớc hết phải bắt đầu từ mỗi con nguời, mỗi gia đình, với tu cách là một tế bào
của xã hội.
Tóm lại, tu tuởng Hồ Chí Minh về vấn đề văn hóa bao gồm những quan điểm,
nội dung cơ bản của Nguời về văn hóa. Tu tuởng Hồ Chí Minh là tu tuởng của nguời
cộng sản một mặt chăm lo đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, mặt khác
Nguời chống lại nguy cơ bảo thủ, khép kín.
Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, trong sụ nghiệp cách mạng của
mình cả trong thời kỳ kháng chiến và trong thời đại ngày nay đã có những quan điểm
tu tuởng về văn hóa hết sức sâu sắc, đến nay vẫn mang đầy đủ ý nghĩa chỉ đạo quá
trình xây dụng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Tu tuởng Hồ
Chí Minh còn có giá trị to lớn trong quá trình xây dụng và phát triển nên văn hóa tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc huyện Kim Bảng, Hà Nam hiện nay.


Chương 2
VẶN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ VÀO VIỆC
XÂY DƯNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA TIÊN TIÉN, DẶM ĐÀ
BẢN SẮC DÂN TỘC Ở HUYỆN KIM BẢNG, HÀ NAM HIỆN NAY

2.1.

Sự cần thiết phải vận dụng tư tưởng Hố Chí Minh về văn hóa trong việc

xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở huyện
Kim Bảng, Hà Nam hiện nay

2.1.1.


khác. Thái độ khoan dung (tolérance) do UNESCO đề xướng tạo ra ý thức tôn trọng
những khác biệt của người khác để người khác tôn trọng những khác biệt của ta, sao
cho loài người chung sống hữu nghị, bình đẳng trong khi vẫn khác nhau.
Thứ hai, là nhân tố quan trọng trong nền sản xuất tổng họp có hàm lượng trí tuệ
cao, văn hoá như chất keo dính kết các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội tạo nên
hình hài và bản sắc mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi khu vực.
Văn hoá có khả năng bao quát một cách trực tiếp, đảm bảo tính bền vững xã hội,
tính kế thừa lịch sử và không bị trộn lẫn ngay cả khi hội nhập vào những cộng đồng
lớn hơn. Tính độc đáo của mỗi nền văn hoá dân tộc, hay là sự khác nhau của các nền
văn hoá không những chỉ bị quy định bởi những điều kiện môi trường, lịch sử xã hội
khác nhau, mà còn vì con người, ngay cả khi rất gần nhau, vẫn có ý thức khu biệt "ta
với người". Hơn thế nữa, cuộc sống của loài người không phát triển ngang bằng theo
một quá trình như nhau mà qua những phương thức đa dạng đến lạ lùng (trí tuệ, tâm
linh, tư duy, hứng thú thẩm mỹ, giá trị đạo đức...). Vì vậy trong quá trình hội nhập thế
giới, nếu như khoa học kỹ thuật ngày càng nhất thể hóa bao nhiêu, thì ngược lại, văn
hóa mỗi dân tộc như là tấm căn cước, lại càng được khu biệt bấy nhiêu. Như những
dòng sông, văn hóa của các dân tộc bền bỉ tích lũy, thâu nhận, gạn lọc tinh hoa từ
muôn nẻo, không ngừng chuyển tải và biến đổi, không ngừng giao lưu và mở rộng để
rồi kết tinh lại thành cái của riêng mình và góp phần vào đại dương mênh mông của
nhân loại, và đến lượt mình lại được tận hưởng hương vị xa lạ trong cái đại dương vĩ
đại bao la đó.
2.1.3.
Vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tôc ở Vỉêt Nam •



Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nhỏ, manh mún tiến lên
ền sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, đây là một quá trình phát triển “kinh tế - kỹ thuật - văn hóa - xã hội” rất

Thấm nhuần tu tuởng Hồ Chí Minh trong qua trình xây dụng nền văn hóa mới,
một kiểu nhân cách mới đuợc hình thành và ngày càng khẳng định giá trị của nó. Đó
là nhân cách con nguời chiến sỹ cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tu,
hết lòng phục sụ Tổ Quốc, quên mình phục vụ nhân dân. Đó là nhân cách con nguời
công dân biết sống và làm việc theo pháp luật, đó là sụ kết hợp hài hoà giữa tài và
đức, huớng tới tự do cá nhân và công bằng xã hội. Nhiều nét mới trong hệ thống giá
trị văn hóa đuợc thiết lập, giáo dục con nguời huớng tới chân - thiện - mỹ trong cuộc
sống. Tầng lớp tuổi trẻ tự tin hơn, có ý trí học tập vuơn lên tầm cao của trí tuệ để lập
thân và lập nghiệp.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị truờng, mặt trái của nó đang khuyến khích một số cá
nhân chạy theo lợi nhuận đồng tiền mà quên đi nhân cách, lối sống của con nguời Việt
Nam, trọng nghĩa tình, giữ gìn danh dự, phẩm chất cá nhân, gia đình và dân tộc. Một
số cán bộ có chức có quyền bị sa ngã truớc sự mua chuộc, lôi kéo của kẻ thù thông
qua mặt trái của đồng tiền mà gục ngã, đầu hàng số phận.
*Thứ ba, về văn hóa giáo dục
Ngày nay, cơ chế thị truờng và quá trình đô thị hóa diễn ra quá nhanh, dẫn đến
quá trình thuơng mại hóa tạo ra nguy cơ mới tách rời cá nhân với cộng đồng, làm mất
đi mối qun hệ truyền thống. Hiện tuợng tiêu cực suy thoái đạo đức ngày càng gia tăng,
mối quan hệ huyết thống, gia đình, anh em, bạn bè, thầy trò có xu huớng bị thực dụng
hóa. Con nguời trở thành ích kỷ, tham nhũng trở thành vấn nạn.
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo, chiến luợc con nguời đuợc Đảng, Bác chăm lo
vun sới đang trổ bông thơm, đậu trái ngọt ngào. Song vẫn còn nhiều điều bất cập.Đó
là mâu thuẫn giữa yêu càu và quy mô phát triển, giữa chất luợng và số luợng, giữa đào
tạo và phân công lao động xã hội...Mặt khác, giáo dục đào tạo còn thể hiện sự yếu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status