TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
ĐỎ THỊ HẢI
CÁC BIỆN PHÁP DẠY TRẺ MẪU GIÁO
NHỠ (4-5 TUỔI) NÓI ĐÚNG NGỮ PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
• • •
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
ĐỎ THỊ HẢI
HÀ NỘI - 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
CÁC BIỆN PHÁP DẠY TRẺ MẪU GIÁO
NHỠ (4-5 TUỔI) NÓI ĐÚNG NGỮ PHÁP
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
• • •
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học ThS. VŨ THỊ TUYÉT
HÀ NỘI - 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
MỤC LỤC
HÀ NỘI - 2015
MỞ ĐÀU
1. Lí do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay- Thế giới ngày mai”. Trẻ em chính là mầm non tương lai của
đất nước.Vì vậy việc giáo dục, bồi dưỡng thế hệ măng non trở thành công dân tốt với
đầy đủ nhân lực, trí lực để góp phần xây dựng
đất nướclà
nhiệm vụ hàng đầu của ngành giáo dục và toàn xã hội.
Bậc học giáo dục mầm non là mắt xích quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Với vai trò là bậc học nền tảng, chất lượng giáo dục mầm non có vai trò quan trọng
đến việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân cũng như chất lượng giáo
dục ở các bậc học tiếp theo. Vì vậy việc giáo dục trẻ trong độ tuổi mầm non là vô cùng
quan trọng.
V.I.Lênin đã nói: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người Nhờ có
ngôn ngữ con người mới hiểu được nhau, cùng nhau phấn đấu vì những mục đích
chung: lao động, đấu tranh, xây dựng, học tập và phát triển xã hội. Do đó, ngôn ngữ có
vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hàng ngày, không có ngôn ngữ đứa trẻ không
tất cả các lứa tuổi ở trường mầm non, vì vậy tôi lựa chọn đề tài: “Các biện pháp dạy trẻ
mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) nói đúng ngữ pháp” và quyết tâm đi sâu tìm hiểu, qua đó tôi cũng
tích lũy được nhiều kinh nghiệm cho công việc giảng dạy sau này. Tôi cũng hi vọng đề
tài của tôi sẽ đóng góp một phần nào đó cho việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào
tạo tại các trường mầm non.
2. Lịch sử nghiên cún vấn đề
Trẻ em luôn nhận được sự quan tâm của gia đình, nhà trường và toàn xã hội, đặc
biệt là các nhà khoa học. Việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp không còn là mới mẻ nữa, đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều mức độ và phạm vi khác nhau.
Ở Việt Nam, từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, vấn đề này cũng được
quan tâm hơn. Một số hội nghị khoa học ở Trung Ương cũng như các địa phương đã
hướng nội dung vào việc thảo luận nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mầm non. Trong đó không thể thiếu được chính là dạy trẻ nói đúng ngữ
pháp.
7
Cuốn “Phương pháp phát triển cho trẻ dưới 6 tuổi”, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, năm 2005, của tác giả Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt,Nguyễn Kim Đức đã nói
lên được tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ.
Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn “Phương pháp phát triến lời nói trẻ em”,
Nxb Đại học Sư phạm, 2007, đã nêu lên đặc điểm ngôn ngữ và chú trọng đến dạy nói
cho trẻ, phát triển ngôn ngữ thông qua các thành phần của ngữ pháp tiếng Việt, hình
thành và phát triển vốn từ, dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt, phát triển lời nói mạch lạc,
phát triến vốn từ nghệ thuật cho trẻ thông qua các tác phẩm văn họ, tạo tiền đề tốt để trẻ
chuẩn bị vào lóp một.
Tạp chí Giáo dục mầm non có rất nhiều bài viết về cách tố chức, quản lí, những
sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên và cán bộ quản lí ngành mầm non. Trong đó cũng
có khá nhiều bài viết về vấn đề phát triến ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Trong đó tạp chí
đề tài này chưa thật sự đi sâu vào vấn đề.
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mầm non ở các khía cạch khác nhau.Tuy nhiên chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu các
biện pháp dạy trẻ 4 - 5 tuổi nói đúng ngữ pháp Nhận thức được tầm quan trọng này, tôi
mạnh dạn chọn và đi sâu nghiên
cứu
đề tài:
“Các biện pháp dạy trẻ 4-5 tuổi nói đúng ngữ pháp”.
3. Mục đích nghiên cún
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về đặc điểm ngữ
pháp của trẻ 4-5 tuối. Qua đó đưa ra những biện
pháp tốtnhất giúp
trẻ nói đúng ngữ pháp, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu: đặc điểm ngữ pháp trong lời nói của trẻ và những biện
pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp.
9
-
Phạm vi nghiên cứu : trẻ 4-5 tuổi
NỘI DƯNG CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÍ LUẬN
1.1.
Cơ sở tâm lí
Ngôn ngữ phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người đồng thời là
công cụ quan trọng của quá trình tư duy. Đó cũng chính là ranh giới giữa con người và
thế giới động vật. Ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa là điều kiện để con người học tập
và giao lun. Trong hoạt động học tập, ngôn ngữ là công cụ có tác dụng vô cùng to lớn.
Ngôn ngữ vừa là công cụ thực hiện hóa tư duy, lĩnh hội tri thức, vừa nói lên khả năng
trí tuệ của con người. Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn
nhau. Người có tư duy tốt sẽ nói năng mạch lạc, trôi chảy. Neu trau dồi ngôn ngữ tỉ mỉ
chu đáo sẽ tạo điều kiện cho tư duy phát triển tốt. Tuy nhiên, việc tiếp nhận ngôn ngữ
nói chung và việc tiếp nhận tiếng Việt nói riêng ở các lứa tuổi khác nhau đều bị chi phối
bởi sự phát triển tâm lí lứa tuổi.
Tư duy của trẻ mầm non mang tính hình tượng cụ thể, tức là trẻ nhận biết dặc
điểm của sự vật, hiện tượng thông qua các giác quan (mắt để nhìn, mũi để ngửi, tai để
n g h e . . H o ạ t động chủ đạo của trẻ mầm non, đặc biệt trẻ ở giai đoạn ấu nhi là hoạt
1
0
động với đồ vật. Sang lứa tuổi mầm non là trò chơi đóng vai theo chủ đề nhằm thỏa
mãn mong muốn được làm người lớn, được giao tiếp như người lớn.
Đứng ở góc độ tâm lí học, các nhà ngôn ngữ học nhận thấy rằng, việc tiếp thu
ngôn ngữ có nhiều điểm khác so với tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực khác. Ngôn
ngữ được hình thành từ rất sớm. Ngay từ giai đoạn hài nhi, ở trẻ đã hình thành những
tiền đề của sự lĩnh hội ngôn ngữ. Nhu cầu giao tiếp với người lớn ngày càng làm nảy
sinh khả năng nói năng của trẻ. Trẻ không có ý thức về ngôn ngữ nhưng bằng cách bắt
máy phát âm của trẻ mầm non chưa phát triển đầy đủ, các bộ phận tạo thành tiếng nói
chưa liên kết chặt chẽ nên trẻ thường phát âm không chuấn và thiếu chính xác. Chính
lứa tuổi mầm non là giai đoạn hoàn thiện dần dần bộ máy đó: sự xuất hiện và hoàn thiện
của 2 hàm răng, sự vận động của môi, lưỡi... Quá trình đó diễn ra tự nhiên theo các quy
luật sinh học, nó phát triển và hoàn thiện cùng với sự lớn lên của trẻ. Trong thực tế có
những em sinh cùng ngày nhung có em ngôn ngữ phát triển tốt, có em thì nói ngọng
hoặc chậm nói. Có sự khác nhau như vậy là do bộ máy phát âm khác nhau và quá trình
chăm sóc, giáo dục của mỗi trẻ là khác nhau. Cùng với thời gian, quá trình học tập, rèn
luyện một cách có hệ thống sẽ làm cho bộ máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thực hiện
các chuấn mực âm thanh ngôn ngữ. Do đó, việc nghiên cứu bộ máy phát âm để tìm hiểu
khả năng ngữ pháp trong lời nói của trẻ mầm non hoàn toàn có cơ sở và mang tính khoa
học.
1.3.
Cơ sở ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học là hệ thống của nhiều hệ thống. Nói như vậy có nghĩa là hệ thống
ngôn ngữ do hệ thống bộ phận hợp thành: hệ thống ngữ âm, hệ thống từ vựng, hệ thống
ngữ pháp và hệ thống phong cách. Các hệ thống ấy lại hàm chứa các bộ phận nhỏ trong
lòng của mình
1.3.1.
Hệ thống từ loại
Căn cứ vào tiêu chí phân định từ loại và ý nghĩa của từ loại có thế chia thành ba
nhóm từ loại:
Nhóm 7: Thực từ là những từ có ý nghĩa từ vựng chân thực và có thể làm thành
phần câu gọi là thực từ.Nhóm từ này gồm: danh từ, động từ, tính từ.
1
* Phân loại danh từ:
-
Danh từ riêng: Là danh từ gọi tên sự vật, hiện tượng cụ thể riêng biệt, thường
đứng sau danh từ chung làm định ngữ cho danh từ chung. Danh từ riêng bao
gồm: tên riêng chỉ người, tên địa danh, tên con vật, tên sự vật.
V D : Hà Nam, Nguyễn Phú Huy, . . .
-
Danh từ chung: Là những từ biểu thị tên gọi cho hàng loạt các sự vật, hiện tượng
không phải cho các sự vật, hiện tượng riêng lẻ. Danh từ chung có thể chia làm
hai loại:
+ Danh từ tổng hợp: Là những danh từ biểu thị tên gọi của những thực thể mang
ý nghĩa khái quát, tống hợp.
V D : nhà cửa, bàn ghê, . . .
+ Danh từ không tổng họp: Là những danh từ biểu thị sự vật đon thể.
1
3
V D : bàn, ghế, quần, áo, . . .
1.3.1.1.2.
*
Вопя, từ.
động của đối tượng hay nói cách khác là thúc đẩy, cho phép, giúp đỡ hoặc cản trở đối
tượng thực hiện hành động.
V D : khuyên, ép, thúc, . . .
+ Động từ trao nhận: cho, biếu, tặng, ...
+ Động từ cảm nghĩ nói năng: nhìn thấy, nghe thấy, ...
Nó thường kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ: rất, hơi, quả, ...
+ Động từ chỉ sự vận động, di chuyển: đi, chạy, nhảy, ...
1
4
-
Động từ không độc lập: là những động từ thường không đứng một mình đảm
nhiệm vai trò ngữ pháp trong câu, mà phải cùng với một động từ khác hoặc một
cụm từ đi sau làm thành tố phụ. Có thể chia động từ không độc lập thành các
nhóm nhỏ sau:
Nhóm động từ tình thái:
+ Đ ộ n g t ừ c h ỉ s ự c ầ n t h i ế t : cẩn, nên, phải, cần phải, ...
+ Đ ộ n g t ừ c h ỉ k h ả n ă n g : có thể, không thể, chưa thể, ...
+ Động từ chỉ ý chí: định, toan, nỡ, dám, ...
+ Đ ộ n g t ừ c h ỉ n g u y ệ n v ọ n g , m o n g m u ố n : mong, muốn, ước, mong
muốn, mong ước, ước muốn, ...
+ Động từ chỉ tiếp thụ, chịu đựng: bị, mắc, phải, được, ...
+ Động từ chỉ sự đánh giá, nhận định: cho, xem, thấy...
Nhóm động từ quan hệ:
+ Động từ chỉ quan hệ đồng nhất: là, làm, ...
+ Động từ chỉ quan hệ sở thuộc, sở hữu: có, gồm, thuộc, thuộc về, bao gồm, ...
phụ từ chỉ mức độ. Bản thân chúng đã hàm chứa ý nghĩa tuyệt đối về đặc trưng,
tính chất hoặc là đặc trưng ấy không có gì đế so sánh: Ví dụ:
Trên, dưới, trái, phải,...
Trai, gái, đực, cái,...
Trắng toát, đen xì, thơm phức,...
-
Tính từ tương đối (không có mức độ): Chúng có khả năng kết hợp với các phụ
từ chỉ mức độ bao gồm:
+ Nhóm tính từ chỉ màu sắc: vàng, nâu, đen, trắng...
+ Nhóm tính từ chỉ kích thước: dài, ngắn...
+ Nhóm tính từ chỉ hình dáng: cao, thấp, béo,...
+ Nhóm tính từ chỉ mùi vị: thơm, hẳc,...
+ Nhóm tính từ chỉ tính chất vật lí: lỏng, rắn, mềm, nhão,...
+ Nhóm tính từ chỉ phẩm chất: tốt, xấu,...
+ Nhóm tính từ chỉ đặc điếm tâm lí: hiền, dữ, ảc,...
+ Nhóm tính từ chỉ đặc điểm sinh lí: khỏe, mạnh, yếu,...
+ Nhóm tính từ chỉ trí tuệ: ngu, đần, khôn, thông minh..
+ Nhóm tính từ chỉ cách thức hoạt động: nhanh, chậm, bền, dẻo dai,...
1.3.1.2. Hư từ.
1.3.1.2.
*
ì. Phu từ.
Đặc điểm của phụ từ:
-
+ Phụ từ chỉ cách thức: ngay, liền, nữa,...
+ Phụ từ chỉ ý nghĩa tự lực: tự, lấy,...
+ Phụ từ chỉ sự đồng nhất, tiếp diễn: vẫn, cứ, đều,... ì.3.1.2.2. Quan
hê từ.
*
Đặc điểm của quan hệ từ:
-
về
ý nghĩa khái quát: quan hệ từ là những hư từ không dùng đế gọi tên các sự
vật, hiện tượng trong thế giới khách quan mà chỉ để liên kết, để nối từ với từ,
cụm từ với cụm từ, câu với câu.
V D : và, với, hay, hoặc, vì nên, không những, mà còn,...
*
Phân loại:
-
Quan hệ từ dùng biểu thị quan hệ đẳng lập: dùng để nối kết các thành phần có
quan hệ đắng lập.
+ Quan hệ từ tập hợp: và, với, cùng, cùng với,...
+ Quan hệ từ lựa chọn: hay (hay là), hoặc (hoặc là),...
1
7
mà,...
Tình thái từ.
Đặc điểm của tình thái từ:
-
về ý nghĩ khái quát: Tình thái từ là những từ chỉ thái độ, tình cảm của người
nói đối với nội dung của câu nói hoặc đối với người cùng tham gia hoạt động
giao tiếp.
*
Phân loại:
- Tình thái từ nghi vấn: à, ư, không, hả,...
V D : Con có ăn cơm không?
- Tình thái từ cầu khiến: với, nhẻ, nào, đì,...
V D : Con ngủ đi nhé.
- Tình thái từ biểu thị sắc thái biểu cảm: nhẻ, cơ, ạ, mà,...
1
8
V D : Con cảm ơn mẹ ạ.
- Tình thái từ cảm thán: sao, biết bao,...
V D : Quê hương ta đẹp biết bao.
1.3.1.3.Lớp từ trung gian.
1.3.1.3.1.
-
Đại từ chỉ lượng tổng thể: dùng để trỏ và thay thế cho sự vât, thường mở đầu
cho cụm danh từicả, tất cả, hầu hết, toàn bộ,
-
Đại từ nghi vấn: là đại từ dùng trong câu hỏi: ai, gì, nào, ra sao, như thế nào,...
-
Đại từ phiếm chỉ: là những đại từ không dùng để hỏi mà dùng để chỉ thời gian,
nơi chốn: ai, gì, nào, ra sao, như thế nào,...
1
9
-
Đại từ thay thế: là những đại từ dùng đế thay thế cho danh từ, động từ, tính từ,
cụm từ hoặc cả câu: thế, vậy,...
13.1.3.2.
*
Đặc điểm của số từ:
-
- Tính hoàn chỉnh về nội dung thông báo.
V D : Hôm nay, con đi hoc.
TN CN VN
2
0
-
Câu là một chỉnh thể ngữ pháp độc lập, tức là mỗi câu có một hình thức riêng và
cấu tạo riêng không phụ thuộc vào câu đứng trước hay sau nó.
- Câu gắn với một ngữ cảnh giao tiếp nhất định.
- Câu có ngữ điệu riêng.
1.3.2.3. Các thành phẩn của câu.
1.3.2.3.1.
Các thành phân chính của câu Tiens Viêt
Thành phần chính của câu Tiếng Việt là thành phần đảm bảo cho câu được trọn
nghĩa và thực hiện chức năng giao tiếp cả trong trường hợp câu tồn tại độc lập, tách rời
khỏi văn cảnh và hoàn cảnh sử dụng.
a. Chủ ngữ.
Là một trong hai thành phần chính của câu Tiếng Việt, có mối quan hệ qua lại
với vị ngữ, nó nêu lên đối tượng mà nội dung nói về đối tượng ấy sẽ được trình bày ở vị
ngữ.
-
Vị trí: chủ ngữ thường đứng ở đầu câu, trước vị ngữ, nhưng cũng có trường hợp
1
+ Chủ ngữ tiếp thụ: là chủ ngữ chỉ sự tiếp nhận một sự vật hoặc một hoạt động
một cách chủ động hoặc bị động.
V D ; Con bi me đánh.
CN VN + Chủ ngữ là đối tượng của
hoạt động.
V D : Bức tranh này treo trên tường.
CN
VN
+ Chủ ngữ mang đặc trưng.
V D : Mùa hè thât nóng.
CN VN
+ Chủ ngữ chỉ nguyên nhân: chủ ngữ là nguyên nhân để gây ra hoạt động ở vị
ngữ.
V D : Hườĩĩ2 làm đo cơm ra bàn.
CN
VN
+ Chủ ngữ chỉ phương tiện: chủ ngữ làm phương tiện để thực hiện một hoạt
động ở vị ngữ.
V D : Ô tô nàV để chơi.
CN VN
b. Vị ngữ.
Là một trong hai thành phần chính của câu Tiếng Việt có mối quan hệ qua lại với
chủ ngữ. Vị ngữ nêu lên nội dung đặc trưng của đối tượng được trình bày ở chủ ngữ.
ì.3.2.3.2. Các thành phân phu của câu Tiếng Viêt.
Thành phần phụ là thành phần nằm ngoài nòng cốt câu. Neu thiếu chúng câu văn
vẫn có ý nghĩa đầy đủ. Thành phần này bổ sung ý nghĩa tình huống cho câu, thường
đứng ở đầu câu, hoặc giữa câu, hoặc cuối câu.
Bao gồm: trạng ngữ, đề ngữ, hô ngữ, liên ngữ, phụ chú ngữ, uyển ngữ.
a. Trạng ngữ.
Là thành phần phụ của câu, bố sung ý nghĩa về hoàn cảnh cho các sự kiện diễn
ra ở nòng cốt câu bằng dấu phẩy. Trạng ngữ thường được mở đầu bằng từ loại quan hệ
từ.
-
Vị trí: thường đứng ở đầu câu.
V D : Hôm qua, con đi hoc.
TN CN VN
-
Phân loại:
+ Trạng ngữ chỉ thời gian, không gian:
V D : Ngoài sân, ban Tâm đang tâp thế duc.
TN
CN
VN
+ Trạng ngữ chỉ tình hình:
. Trạng ngữ chỉ tình huống:
V D : Đen trường, con đã găp Lan.
+ Trạng ngữ chỉ điều kiện giả thiết:
V D : Neu chiu ăn, con sẽ chóng lớn.
TN CN VN + Trạng ngữ chỉ ý
nhượng bộ:
V D : Tuy giàu, nhưng Hoa không kiêu ngao.
TN
CN
VN
b. Đề ngữ
Là thành phần phụ của câu, đứng trước nòng cốt câu, nó được dùng để nêu
lên đối tượng, nội dung với tư cách là đề tài của câu nói.
V D : Ô tô và búp bê, em rất thích.
ĐN
CN VN
Cấu tạo:
- Cấu tạo từ một từ:
V D : Cá, con rất thích ăn.
- Cấu tạo từ một cụm từ:
+ Một cụm từ đẳng lập:
V D : Ô tô và xe máy, con rất thích.
2
4
5