Biểu tượng dòng sông trong ca dao trữ tình người việt (KL07168) - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

BÙI THỊ TÌNH

BIỂU TƢỢNG DÕNG SÔNG TRONG
CA DAO TRỮ TÌNH NGƢỜI VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học dân gian

HÀ NỘI, 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

BÙI THỊ TÌNH

BIỂU TƢỢNG DÕNG SÔNG TRONG
CA DAO TRỮ TÌNH NGƢỜI VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học dân gian

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

HÀ NỘI, 2015



Chƣơng 1. GIỚI THUYẾT VỀ BIỂU TƢỢNG VÀ BIỂU TƢỢNG
DÕNG SÔNG......................................................................................................... 8
1.1. Biểu tƣợng ........................................................................................................ 8
1.2. Biểu tƣợng dòng sông ...................................................................................... 9
1.3. Khảo sát sự xuất hiện của biểu tƣợng dòng sông trong ca dao ...................... 12
Chƣơng 2. DẤU ẤN ĐỊA – VĂN HÓA CỦA BIỂU TƢỢNG DÕNG
SÔNG TRONG CA DAO ................................................................................... 16
2.1. Dòng sông mang dấu ấn vùng miền Bắc bộ .................................................. 16
2.1.1. Sông Tô Lịch – dấu ấn đất kinh kì .............................................................. 16
2.1.2. Sông Thƣơng – con sông cổ tích................................................................. 19
2.2. Dòng sông mang dấu ấn vùng miền Trung bộ ............................................... 21
2.2.1. Sông Hƣơng – dải lụa mềm của miền Trung .............................................. 21
2.2.2. Sông Thu Bồn – dòng sông hoài niệm ........................................................ 23
2.3. Dòng sông mang dấu ấn vùng miền Nam bộ ................................................. 25
Chƣơng 3. CÁC DẠNG THỨC VÀ Ý NGHĨA BIỂU TRƢNG CỦA
DÕNG SÔNG TRONG CA DAO ...................................................................... 30
3.1. Sông với cầu (31/711 lời).............................................................................. 30
3.1.1. Biểu trƣng cho khát vọng tình yêu ............................................................. 30
3.1.2. Biểu trƣng cho sự giao hòa tình cảm ......................................................... 34


3.2. “Sông” với “bến” (7/711 lời) ........................................................................ 37
3.3. Sông với thuyền – đò (76/711 lời) ................................................................. 38
3.3.1. Biểu trƣng cho sự gắn kết “đôi bờ” thƣơng nhớ. ........................................ 38
3.3.2. Biểu trƣng cho lời hẹn thề chung thủy ........................................................ 41
3.3.3. Biểu trƣng cho những kinh nghiệm sống .................................................... 44
3.4. “Sông” với “núi” (63/711 lời) ........................................................................ 46
3.4.1. Biểu trƣng cho “linh khí” của quê hƣơng, xứ sở ........................................ 47
3.4.2. Biểu trƣng cho sự xa cách tình cảm ............................................................ 50
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 52

nhƣng dòng sông là biểu tƣợng rất tiêu biểu, khiến nhiều nhà nghiên cứu đặt chân khám
phá mảnh đất tốt tƣơi này. Nói tới dòng sông trong tâm thức của ngƣời Việt là đề cập
tới rất nhiều vấn đề liên quan: điều kiện địa lí, môi trƣờng sống, tiến trình lịch sử, đặc

1


điểm dân tộc, phong tục, tập quán v.v… Trong giới hạn của một bài viết ngắn cũng là
một ý kiến phát biểu, chúng tôi chỉ nói đến dòng sông trong ca dao trữ tình. Vì vậy,
ngƣời viết mạnh dạn lựa chọn đề tài “Biểu tƣợng dòng sông trong ca dao trữ tình ngƣời
Việt” với mong muốn bƣớc đầu phác họa đƣợc cái nhìn tổng quan, những hiểu biết
chung về biểu tƣợng dòng sông và giá trị nghệ thuật của nó trong ca dao.
Qua khảo sát thực tiễn, ngƣời viết nhận thấy, cho đến nay có khá nhiều công
trình nghiên cứu về biểu tƣợng dòng sông, nhƣng chƣa có một công trình cụ thể nào
nghiên cứu một cách có hệ thống và sắc nét về dòng sông trong ca dao trữ tình ngƣời
Việt. Có chăng chỉ là những bài viết khái quát, mang tính chất giới thiệu sơ bộ, hoặc
những khía cạnh sơ bộ, lẻ tẻ, tản mạn, hoặc tiếp cận tác phẩm nhƣ một ví dụ minh họa,
nhằm chứng minh cho một luận điểm nào đấy, mà chƣa thực sự đi sâu để làm nổi bật
từng “con sóng ngầm”… Vì thế, có thể khẳng định việc nghiên cứu biểu tƣợng dòng
sông trong ca dao trữ tình vẫn là một cánh cửa bỏ ngỏ.
Ngoài những lí do khoa học trên, tác giả bài viết mong muốn đề tài có ý nghĩa
góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong học tập và giảng dạy ca dao trong nhà trƣờng.
Xuất phát từ lí do trên, ngƣời viết lựa chọn đề tài “Biểu tƣợng dòng sông trong ca dao
trữ tình ngƣời Việt”.
2. Mục đích nghiên cứu
Chọn đề tài “Biểu tƣợng dòng sông trong ca dao trữ tình ngƣời Việt”, ngƣời viết
mong muốn đóng góp một phần nào đó trong việc tìm hiểu, khám phá biểu tƣợng dòng
sông trong ca dao Việt Nam. Đồng thời, qua đó thấy đƣợc giá trị nghệ thuật, nội dung,
tƣ tƣởng đƣợc gửi gắm qua hình ảnh.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

hay của văn chƣơng bình dân thật là vô tận và mỗi lời ca đều nhƣ lấp lánh ánh sáng kì
diệu của tiếng Việt. Trên từng con chữ, mỗi bài ca dao mang trong mình hơi thở và sức
sống con ngƣời. Việc nghiên cứu biểu tƣợng trong ca dao đã đƣợc nhiều nhà khoa học
quan tâm. Các công trình của Vũ Ngọc Phan, Bùi Công Hùng, Hà Công Tài, Nguyễn
Xuân Kính, Nguyễn Phƣơng Châm, Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Ngân Hoa,
Triều Nguyên, Đặng Diệu Trang, Phạm Thu Yến... đều khẳng định sự tồn tại phổ biến
của các biểu tƣợng, giá trị thẩm mĩ, chức năng quan trọng của chúng trong ca dao. Một
số biểu tƣợng đã đƣợc đề cập khá chi tiết trong các bài viết.
Năm 1992, khi cho ra mắt độc giả cuốn Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính đã
dành hẳn một chƣơng viết về một số biểu tƣợng, hình ảnh. Tác giả đã cho thấy hệ thống
biểu tƣợng phong phú, đa dạng trong ca dao. Sau đó, tác giả đi sâu tìm hiểu một số biểu
tƣợng cụ thể nhƣ: Trúc, mai, hoa nhài, con cò, rồng, loan, phượng. Tuy nhiên, ở đây

3


mới chỉ dừng ở mặt nội dung, tức là biểu tƣợng đó có nghĩa nhƣ thế nào chứ chƣa tìm
hiểu hình thức của từng biểu tƣợng, và cách thể hiện của từng biểu tƣợng nhƣ thế nào.
Trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (1978), khi nói
về hình thức nghệ thuật của ca dao, tác giả viết: "Nhân dân mượn những vật vô tri để
nói lên tâm sự mình, mượn những chim muông, cho nó tính người, và mượn cả một số
cây để ví với người này người nọ". Đây là cơ sở hình thành các biểu tƣợng trong ca dao.
Tiếp đó, Vũ Ngọc Phan đã dành ít trang để tìm hiểu hình tƣợng con cò, con bống trong
ca dao. Những hình ảnh này chính là biểu tƣợng tƣợng trƣng cho đời sống nhân dân.
Năm 1988, tác giả Bùi Công Hùng đã chính thức đặt vấn đề “Biểu tƣợng thơ ca”,
trong đó đã trình bày khái niệm và phân tích một số biểu tƣợng trong ca dao: trăng, con
đò, dòng sông, mặt trời, đôi mắt, lá trầu, thuyền… và tác giả nhận định “Biểu tƣợng
nguyên sơ hiện lên trong ca dao, tục ngữ khá rõ ràng”
Cùng năm 1988, tác giả Hà Công Tài đã chú ý đến “Biểu tƣợng trăng trong thơ
ca dân gian”. Tác giả đã có những phát hiện mới về đặc điểm, vai trò của biểu tƣợng

Trong bài viết: “Hình tƣợng sông nƣớc trong ca dao trữ tình Nam Bộ”, Trần Thị
Diễm Thúy có nói: “Trong ca dao dân ca Việt Nam nói chung, sông thƣờng đƣợc nhắc
đến nhƣ một đặc trƣng cho quê hƣơng, cho miền quê… Tuy nhiên, không ở đâu hình
ảnh sông đƣợc lặp đi lặp lại nhiều lần với những giá trị thẩm mĩ sâu sắc, phong phú nhƣ
trong ca dao dân ca trữ tình Nam Bộ. Hình ảnh quen thuộc trong ca dao trữ tình Bắc Bộ
là cây đa, mái đình,… gợi rõ nét văn hóa cổ truyền của nông thôn Bắc Bộ. Ca dao
Trung Bộ là hình ảnh của núi đèo, ruộng, rú, truông, phá… thể hiện một không gian cao
rộng từ địa hình tự nhiên của vùng đất…. Nhìn chung, thiên nhiên sông nƣớc trong ca
dao Nam Bộ đƣợc xây dựng thành những bức tranh nghệ thuật khá đa dạng, phản ánh
nhận thức và thái độ thẩm mỹ của ngƣời Nam Bộ, cụ thể là nông dân Nam Bộ. Đặc
điểm này tạo nên tính địa phƣơng của ca dao dân ca Nam Bộ, góp phần làm phong phú
thêm tiến trình phát triển chung của ca dao dân ca Việt Nam”.
Trong một bài viết có tên “Vị thế địa – văn hóa của Hà Nội nghìn xƣa trong bối
cảnh môi sinh lƣu vực sông Hồng và cả nƣớc Việt Nam”, cố giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng
đã vẽ ra tứ giác nƣớc của Hà Nội trong đó có hai con sông quan trọng: sông trƣớc là
sông Nhị và sông sau là sông Tô. Giáo sƣ Vƣợng cũng cho rằng: “…các cửa ô cơ bản
ngày trƣớc của thủ đô Hà Nội đều là cửa nƣớc (đúng với khái niệm Watergate), ví dụ:
Ô Cầu Giấy nằm ở ngã ba Tô Lịch – Kim Ngƣu…” và tƣ duy sông nƣớc ấy còn có liên
quan đến việc hình thành nên những cảng thị nhƣ mặt tiền của cả một vùng duyên hải
miền Trung. Thƣợng tọa Thích Nguyên Đức, trụ trì chùa Hồ Sơn, Tuy Hòa cũng cho
rằng ngay cả việc dựng chùa, tƣởng nhƣ chỉ cần chọn nơi hẻo lánh, “thâm sơn cùng
cốc” để thuận tiện cho việc tu hành, thì thực ra yếu tố nƣớc vẫn đƣợc tính đến đầu tiên.

5


Suối nƣớc, giếng nƣớc nhà chùa thƣờng rất trong và ngọt, không chỉ có trong văn
chƣơng của “Nguyễn Tuân”. Vậy nên ca dao vẫn in dấu:
Làng tôi có lũy tre xanh
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khóa luận
đƣợc bố cục thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Giới thuyết về biểu tƣợng và biểu tƣợng dòng sông
Chƣơng 2: Dấu ấn địa – văn hóa của biểu tƣợng dòng sông trong ca dao
Chƣơng 3: Các dạng thức và ý nghĩa biểu trƣng của dòng sông trong ca dao

7


NỘI DUNG
Chƣơng 1. GIỚI THUYẾT VỀ BIỂU TƢỢNG VÀ BIỂU TƢỢNG DÕNG SÔNG
1.1. Biểu tƣợng
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của PGS. Lê Bá Hán – GS.TS Trần Đình Sử GS. Nguyễn Khắc Phi nhận định:
Biểu tượng ( tiếng Pháp: representation hoặc symbole)
Trong triết học và tâm lí học, biểu tƣợng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một
hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong
đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt.
Biểu tƣợng nhƣ là thuật ngữ của mĩ học, lí luận văn học và ngôn ngữ học còn
đƣợc gọi là tƣợng trƣng, nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Văn học phản ánh cuộc sống
bằng hình tƣợng nghệ thuật. Đặc điểm cơ bản của hình tƣợng nghệ thuật là sự tái hiện
thế giới, làm cho con ngƣời và thế giới hiện lên y nhƣ thật. Nhƣng hình tƣợng cũng là
hiện tƣợng đầy tính ƣớc lệ. Bằng hình tƣợng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn
toàn mang tính biểu tƣợng. Cho nên, trong nghĩa rộng, biểu tƣợng là đặc trƣng phản
ánh cuộc sống bằng hình tƣợng của văn học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tƣợng là
một phƣơng thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tƣợng nghệ thuật đặc biệt
có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát đƣợc bản chất của một hiện tƣợng nào đấy,
vừa thể hiện một quan niệm, một tƣ tƣởng hay một triết lí sâu xa về con ngƣời và cuộc
đời, nhƣ hình tƣợng “Đạm Tiên” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, hình tƣợng “cây
sồi” trong Chiến tranh và hòa bình của L. Tôn-xtoi, hay hình tƣợng “bò khoang” trong
Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu. Loại biểu tƣợng là hình tƣợng nghệ thuật thể

cơ sở những hình ảnh đã có từ trƣớc. Biểu tƣợng không phải hoàn toàn là thực tế, bởi vì
nó đƣợc xây dựng lại từ thực tế sau khi đã đƣợc tri giác. Biểu tƣợng chính là hiện tƣợng
chủ quan của đối tƣợng về hiện tƣợng khách quan đã đƣợc tri giác từ trƣớc.
Biểu tƣợng trong ca dao là một loại nghệ thuật biểu tƣợng, xây dựng bằng ngôn
từ với những quy ƣớc của cộng đổng [106].
1.2.

Biểu tƣợng dòng sông

Sông gắn liền với nƣớc. Nƣớc là vật chất tối cần cho sự sống. Sông cung cấp
nƣớc làm nên cuộc sống, sông là đƣờng lƣu chuyển tự nhiên nhƣ mạch máu đến khắp
cơ thể. Dòng sông là dấu ấn tiền nhân đóng lên trời đất. Chính vì thế dòng sông đã đi
vào trong văn học và trở thành biểu tƣợng mang nhiều tầng nghĩa.

9


Theo J.E.Cirlot trong cuốn “Tính biểu tƣợng của khu rừng và dòng sông”, Duy
Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Jack Sage, nhận định: Dòng sông là một biểu
tƣợng lƣỡng nghĩa bởi vì nó tƣơng ứng với quyền năng sáng tạo của cả tự nhiên lẫn thời
gian. Một mặt, nó biểu thị cho sự màu mỡ, tƣới tiêu đều đặn cho đất đai; mặt khác nó
biểu trƣng cho dòng thời gian bất khả quy hồi và hệ quả dẫn đến, biểu trƣng cho ý
nghĩa về sự mất mát và lãng quên”.
Theo cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới của Jean Chevalier có viết: Biểu
tƣợng sông hay dòng chảy đồng thời là biểu tƣợng của khả năng vạn vật, của tính lƣu
chuyển của mọi dạng thể (F. Schoun).
Dòng sông trên cao của truyền thuyết Do Thái là dòng sông của những ân huệ,
của những ảnh hƣởng của trời. Những dòng sông trên cao chảy xuống thẳng đứng theo
trục của thế giới; sau đó tỏa ra theo chiều nằm ngang từ trung tâm ra bốn phƣơng, đến
tận đầu mút của thế giới: đó là bốn con sông của Địa đàng.

tƣởng khác nhau về thân phận con ngƣời, về đời ngƣời: Cánh bèo gắn bó với dòng
sông, trôi dạt lênh đênh trên dòng sông không biết phƣơng hƣớng, không biết đâu là
bến bờ… Trong ca dao, hình ảnh cánh bèo trên sông đƣợc dùng để biểu đạt ý niệm thân
phận, số phận con ngƣời.
Thiếp than cha mẹ thiếp nghèo
Thiếp than phận thiếp nhƣ bèo trôi sông
[2, 451]
Và dòng đời cũng nhƣ dòng chảy trên sông, sông cũng trở thành phƣơng tiện thể
hiện những ý niệm trừu tƣợng về đời ngƣời:
Gió thổi lao xao khúc sông nào sóng nấy
Thuyền em đi giữa dòng anh thấy anh thƣơng
[2, 289]
Khúc sông chật hẹp khôn tùy
Lo cho thân bậu sá gì thân qua
[2, 304]
Trong mạch tƣ duy ấy, sông còn gợi lên những liên tƣởng về những cảnh đời nhƣ “gạo
chợ nƣớc sông” trôi nổi:
Đạo nào bằng đạo đi buôn
Xuống biển lên nguồn gạo chợ nƣớc sông

11


[2, 472]
Thứ ba, xu hƣớng mƣợn hình tƣợng sông làm biểu tƣợng về chính con ngƣời.
Chiều sâu của sông tạo một ý niệm về lòng ngƣời khó hiểu:
Sông sâu sào vắn khó dò
Kia kìa con tạo đƣa đò âm cung
[2, 500]
Về chính con ngƣời:

Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị - NXB TPHCM, 1994 (kí hiệu TL1), hình
tƣợng sông có tần số xuất hiện 144 lần và việc sử dụng hình tƣợng sông nƣớc ở đây
không nhằm tái hiện hình ảnh một con sông cụ thể nào mà chủ yếu bị chi phối bởi các
đặc thù của cảm xúc và mục đích biểu tƣợng hóa nghệ thuật – Sông trở thành một biểu
tƣợng nghệ thuật khi đƣợc sử dụng với nghĩa bóng ổn định.
Khảo sát trong quyển “Kho tàng ca dao ngƣời Việt” của Nguyễn Xuân Kính,
Phan Đăng Nhật – NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, 1995 (tập I, II, III, IV), hình tƣợng
dòng sông có tần số xuất hiện rất cao: 711 lần. Từ tƣ liệu cụ thể, chúng tôi nhận thấy
dòng sông đƣợc xuất hiện với các nét nghĩa và dạng thức khác nhau.
Từ kết quả khảo sát, không khó để nhận ra biểu tƣợng dòng sông xuất hiện với
một tần số cao trong ca dao ngƣời Việt. Từ Bắc vô Nam, địa danh nào cũng có những
bài ca dao thể hiện đặc trƣng quê mình. Rõ ràng là, địa vực lƣu trú với những con sông
trải dài từ Bắc chí Nam đã hình thành nên mỗi quan hệ gắn bó giữa con ngƣời với dòng
sông. Bên cạnh đó, nghề trồng lúa nƣớc bắt ngƣời nông dân phải gắn bó bền bỉ với
dòng sông, bởi sông nhƣ một nguồn sống bất tận cung cấp nƣớc cho con ngƣời, phục vụ
sản xuất, lao động. Khát vọng sống hòa hợp với tự nhiên của con ngƣời xƣa đã đƣợc
nhắc đến trong thần thoại:
“Suối nguồn thì sâu
Bất chấp hạn hán, nƣớc dâng lên
Nhƣ là dòng sông
Thắng biển cả…”
Sông là linh hồn của con ngƣời trong đời sống hằng ngày, hình ảnh này đi vào ca
dao nhƣ một tất yếu không thể không nhắc đến:
Ở đâu năm cửa chàng ơi
Sông nào sáu khúc nƣớc chảy xuôi một dòng…
[5, 1700]
Hay:
Núi Truồi ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu


Núi Hồng Lĩnh mỗi bậc mỗi cao
[5, 1845]

14


Bài ca dao nhƣ dẫn bƣớc chân ta đến miền sông nƣớc nƣớc mênh mang, cho ta
khám phá cái vẻ đẹp của một miền lam thủy nên thơ, trữ tình mà ƣớp đầy hƣơng thơm
bởi lòng ngƣời say đắm. Lời ca nhƣ thấm đẫm bản chất, đặc trƣng của miền quê nơi
đây, mang theo ƣớc vọng tới những con ngƣời muốn khám phá nơi này.
Từng câu ca dao đều phảng phất trong nó những nét đẹp về con ngƣời, về sự trù
phú mà thiên nhiên đã ban tặng cho những vùng miền trên đất nƣớc Việt Nam. Nơi mà
những vùng đất với những ngƣời con anh dũng, bất khuất chống giặc ngoại xâm, sẵn
sàng ngã xuống để mạng lại độc lập, tự do, ấm no cho đất nƣớc, nơi có tài nguyên màu
mỡ, phong phú mà thiên nhiên, tạo hóa đã ƣu ái ban tặng cho chúng ta. Làm sao không
nhớ những bãi bồi phù sa, những miền sơn cƣớc…? Tất cả đều đƣợc in dấu trong tâm
trí ngƣời Việt:
Con sông kia nƣớc chảy lờ đờ
Con thuyền lững đững với trăng mờ nào soi
Con sông kia bên lở bên bồi
Lở kia lở mãi bên bồi bồi thêm
[5, 466]
Hình ảnh con sông với bãi bờ hai bên hiện lên cho thấy cảnh sắc miền quê thật
thanh bình, dân dã. Ẩn sau đó là tình cảm gắn bó thiết tha của con ngƣời với cảnh sắc
quê hƣơng.
Tiểu kết:
Dòng sông từ đời sống thực tại, với những thuộc tính tự nhiên đƣợc “đồ chiếu”
trong ca dao, trở thành biểu tƣợng nghệ thuật độc đáo. Xuất hiện trong ca dao trữ tình
ngƣời Việt, dòng sông hiện hữu nhƣ một sinh thể sống động, mang đậm bản sắc văn
hóa vùng miền và chứa đựng những nét nghĩa biểu đạt phong phú, góp phần diễn tả đời

hiện nhiều danh nhân văn hóa đất nƣớc – bên tả ngạn gồm phần đất của hai huyện Thọ
Xƣơng, Vĩnh Thuận, ngoài thành nội, còn có 61 phƣờng nợ thủ công, dân thập tạm trại,
từ Lệ Mật sang khai khẩn, trồng lúa, rau, hoa.

16


Nói về dấu ấn văn hóa bên dòng Tô Lịch, có rất nhiều điều mến thƣơng, có rất
nhiều thứ ca ngợi, để mà nhớ, để mà thƣơng, để ai đó dẫu đi xa hay gần kề đất mẹ, cũng
vẫn một lòng nhớ đến con sông quê. Sông Tô Lịch gắn liền với những cái tên mang dấu
ấn của nhiều làng nghề và nhiều nhân tài đất kinh đô. Theo sử chép, trên sông xƣa kia
chở thuyền hàng và thủy quân có thể đi lại vì có hai cửa thông với sông Hồng. Cửa
Thiên Phù ở phía Tây – bắc Hồ Tây, đón nguồn nƣớc từ sông Hồng chảy về vùng
Nghĩa Đô, và cửa Hƣơng Bài là cửa thứ hai.
Trải qua nhiều biến cố, thăng trầm lịch sử, sông Tô Lịch mang nhiều tên nhƣ: Tô
Lịch, Lai Tô, Hƣơng Bài, Địa Bảo. Ngay từ thế kỉ VI, sách Lƣơng thƣ, Trần Thƣ của
Trung Quốc đã ghi lại rằng: năm 545 Nam Việt đế Lí Bí cho đắp dựng một tòa thành
bên một dòng sông, đƣợc gọi là “Tô Lịch giang thành” (Thành sông Tô Lịch). Theo
sách Việt Điện U Linh, Tô Lịch là tên một vị hiền tài quê ở Thăng Long có nhiều công
đức giúp dân làng nơi ông sinh trƣởng nên khi ông mất, dân thờ kính, phong ông là
Long Đỗ thần hoặc Tô Lịch giang thành. Dƣờng nhƣ con sông nhỏ bé giữa lòng thủ đô
này đã đi vào lòng ngƣời, đi vào trong từng trang sách sử từ ngàn đời, để cho đến tận
bây giờ, vẻ xanh tƣơi của nó vẫn hiện hữu không phai.
Dòng sông hiền hòa nhƣ trúc mai, bao dung nhƣ lòng mẹ ấy đã đi vào ca dao xƣa
một cách tự nhiên, thuần túy. Hình ảnh những ngƣời ngƣời đi dọc ven sông đã trở thành
hình ảnh thân quen với những ngƣời dân sinh sống tại Hà Nội, và câu ca trên chính là
sự gợi nhắc khéo léo, tinh tế và ý vị.
Sông Tô nƣớc chảy quanh co
Cầu Đông sƣơng sớm, Quán Giò trăng khuya
Buồn tình vừa lúc phân chia

con sông kinh tế và cũng là con sông văn hóa nhƣ ca dao về “Hà Nội nghìn xƣa” đã
miêu tả:
Sông Tô nƣớc chảy trong ngần
Con thuyền buồm trắng chạy gần chạy xa
Thon thon hai mũi chèo hoa
Lƣớt đi lƣớt lại nhƣ là bƣớm bay
[5, 1853]
Vẻ đẹp của sông không chỉ đƣợc dệt nên bởi dòng nƣớc trong xanh, bởi dấu ấn
văn hóa ngàn đời, mà nó còn đƣợc tô điểm từ những gì bình dị cuả quê nhà: con thuyền
với mũi chèo hoa, bƣớm bay vòng lƣợn… Bức tranh đƣợc chấm thêm mấy nét mà trở
nên sinh động, diệu kì nhờ bút pháp nghệ thuật của ngƣời xƣa.

18


Đời sống sông Tô Lịch thật phong phú. Nó chứa đầy ắp những sự tích và di tích
văn hóa. Cảnh đẹp hi hữu của Thủ đô này vẫn ngát hƣơng một dòng trong để ngàn đời
khúc ca còn vọng mãi:
Sông Tô một dải lƣợn vòng
Ấy nơi liệt sĩ anh hùng giáng sinh
Sông Hồng một khúc uốn quanh
Giai nhân tài tử lừng danh trong ngoài
[5,1853]
Hà Nội ngày nay đã khác xƣa nhiều, song cái nét đong đƣa của dòng sông lúc
vơi khi đầy vẫn mang vóc dáng riêng, ghi dấu ấn văn hóa đặc sắc cho một vùng miền.
2.1.2. Sông Thƣơng – con sông cổ tích
Mỗi con sông gắn liền với mỗi vùng đất, đều mang dáng vẻ riêng. Tên mỗi con
sông ngân lên chính cái hồn của nó vậy. Nếu nhƣ sông Đuống trƣờng kì, hình tƣợng
qua những câu thơ đứt ruột:
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trƣờng kì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status