TRƯỜNG ĐẠO HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
Hệ đào tạo: Chính quy
Đề tài:
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện
ThS. Võ Duy Nam
Trần Thanh Thẩm
Bộ môn Luật hành chính
MSSV: S120085
Lớp: Luật văn bằng 2 ĐT
Cần Thơ, tháng 11 năm 2014
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
THÁP.......................................................................................................................... 5
1.1 Lý luận cơ bản về năng quản lý nhà nước và nền hành chính nhà nước....... 5
1.1.1 Khái niệm hành chính.................................................................................. 5
1.1.2 Khái niệm về quản lý nhà nước. .................................................................. 5
1.1.3 Khái niệm về cải cách hành chính................................................................ 6
1.1.4 Khái niệm chính quyền cấp xã..................................................................... 8
1.1.5 Khái niệm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã........................................ 9
1.2 Đặc điểm năng lực quản lý nhà nước của cán bộ công chức chính quyền cấp xã 10
1.3 Cơ sở đánh giá về năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã.13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA
ĐỘI NGŨCÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG
THÁP........................................................................................................................ 19
2.1 Tổng quan về tỉnh Đồng Tháp. ...................................................................... 19
2.2 Thực trạng năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã ở tỉnh Đồng Tháp...................................................................................... 19
2.2.1 Cán bộ chủ chốt chính quyền cấp xã: ........................................................ 19
2.2.2. Công chức cấp xã ...................................................................................... 29
2.3 Nâng cao năng lực cán bộ, công chức chính quyền xã, phường, thị trấn trên
địa bàn tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2013 - 2015 và định hướng đến năm 2020. . 38
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
1
SVTH: Trần Thanh Thẩm
Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp.
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN – GIẢI PHÁP VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ VỀ NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Nam, chính quyền cấp cơ sở luôn giữ một vị trí, vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực
tiếp đến sự thành công hay thất bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Chính quyền cơ sở là nền tảng của toàn bộ hệ thống chính quyền, là cấp gần dân
nhất, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của hoạt động quản lý nhà nước trên tất
cả các mặt ở địa phương, đảm bảo cho chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật
của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống.
Tuy nhiên, chính quyền cơ sở không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách
hiệu lực và hiệu quả nếu thiếu một đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có đủ trình độ
để đảm nhận công việc được giao. Cũng như nhân tố con người trong mọi tổ chức
khác, đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở chính là hạt nhân, là nhân tố quyết định đến
chất lượng hoạt động của chính quyền c ơ sở nói riêng cũng như toàn bộ hệ thống
chính trị cơ sở nói chung. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp cơ sở để nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở luôn là
vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm. Mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định
112/2011/NĐ – CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 về cán bộ, công chức xã, phường, thị
trấn và một số văn bản khác nhằm từng bước chuẩn hoá, nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, một thực tế khách quan là chất
lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, đặc biệt là cán bộ, công chức xã, thị
trấn ở các vùng nông thôn và miền núi tương đối thấp, không tương xứng với vị trí, vai
trò của họ cũng như đáp ứng đầy đủ các chức danh theo quy định của Nhà nước.
Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền
cấp cơ sở; nghiêm trọng hơn là dẫn đến nhiều sai phạm, làm mất lòng tin của nhân dân
đối với Đảng và Nhà nước, gây ra tình trạng mất ổn định cục bộ tại một số địa phương
như một số vụ việc ở Đồ Sơn, Thái Bình, Phú Quốc, Tuần Châu, Do đó việc nâng cao
chất lượng của cán bộ, công chức cấp cơ sở để đáp ứng tiêu chuẩn chức danh và đòi
hỏi của thực tế khách quan ngày càng cao là nhiệm vụ trọng tâm hiện nay trong công
tác cán bộ cấp cơ sở. Từ những lý do trên, người viết đã chọn đề tài “Nâng cao năng
lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.”
làm bài viết luận văn tốt nghiệp cho khóa học của mình.
Chương 1: Lý luận chung về nâng cao năng lực quản lý nhà nước của cán bộ,
công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
Chương 2: Thực trạng về năng cực quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ, công
chức trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
Chương 3: Thực tiễn – giải pháp và những kiến nghị về nâng cao chất lượng quản
lý nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
4
SVTH: Trần Thanh Thẩm
Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp.
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP.
1.1 Lý luận cơ bản về năng quản lý nhà nước và nền hành chính nhà nước.
1.1.1 Khái niệm hành chính.
Theo từ Latinh cổ, thuật ngữ “hành chính”(administration) có hai nghĩa phân
biệt nhau: giúp đỡ, hỗ trợ hay phục vụ - (một người hay một nhóm người dành cho
một người hay một nhóm người khác) và quản lý, hướng dẫn hay cai trị (một người
hay một nhóm người đối với một người hay một nhóm người khác). Kết hợp hai nghĩa
này với nhau ta thấy thuật ngữ “hành chính” vừa có nghĩa là phục vụ, hổ trợ lại vừa
có nghĩa là quản lý, điều hành.1 Và được hiểu theo hai nghĩa:
Hành chính theo nghĩa hẹp: Là nền hành chính nhà nước (hay còn gọi là nền
càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội.
Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước,
được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà
nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có
thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt.uản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước,
từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp.
Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp.
Quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh
đơn phương của nhà nước. Quản lý nhà nước được thiết lập trên cơ sở mối quan
hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”.
Quản lý nhà nước mang tính tổ chức và điều chỉnh. Tổ chức ở đây được hiểu
như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người
nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội. Tính điều chỉnh được hiểu là nhà nước dựa
vào các công cụ pháp luật để buộc đối tượng bị quản lý phải thực hiện theo quy luật xã
hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội.
Quản lý nhà nước mang tính khoa học, tính kế hoạch. Đặc trưng này đỏi hỏi
nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối lên đối tượng quản lý
phải có một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ
trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học.
Quản lý nhà nước là những tác động mang tính liên tục, và ổn định lên các quá
trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội. Cùng với sự vận động biến đổi của đối
tượng quản lý, hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không
bị gián đoạn. Các quyết định của nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi
quá nhanh. Việc ổn định của các quyết định của nhà nước giúp cho các chủ thể quản lý
có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định.
1.1.3 Khái niệm về cải cách hành chính.
Cải cách hành chính là một khái niệm đã được nhiều học giả, các nhà nghiên
cứu hành chính trên thế giới đưa ra, dựa trên các điều kiện về chế độ chính trị, kinh tế
– xã hội của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu nghiên cứu,
Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ cũng đã
nêu 4 nội dung cơ bản của cải cách hành chính Việt Nam, đó là cải cách thể chế, cải
cách tổ chức bộ máy hành chính, đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức và cải cách tài chính công. Mục tiêu của cải cách hành chính nhà nước đến 2010
theo Chương trình tổng thể là “Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch,
vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên
tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc
xây dựng, phát triển đất nước. Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải
cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.”.
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
7
SVTH: Trần Thanh Thẩm
Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp.
1.1.4 Khái niệm chính quyền cấp xã.
Chính quyền cấp xã có vị trí vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa của đât nước hiện nay.
Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. Thực tiễn cho thấy có hệ thống
đường lối, chính sách pháp luật đúng đắn, khoa học nhưng ở đó chính quyền cấp xã
hoạt động yếu kém thì đường lối, chính sách pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống,
chưa phát huy được sức mạnh của chính mình. Ở đâu chính quyền cấp xã hoạt động có
Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp.
Nhân dân và Ủy ban Nhân dân. Trong đó Hội đồng Nhân dân là cơ quan quyền lực
nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân
dân do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ
quan Nhà nước cấp trên, Ủy ban Nhân dân do Hội đồng Nhân dân bầu ra là cơ quan
chấp hành của Hội đồng Nhân dân, là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương,
chịu trách nhiệm trước Hội đồng Nhân dân cùng cấp và cơ quan Nhà nước cấp trên.
Qua phân tích trên có thể khái niệm: chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất, cấp
gần gũi nhân dân nhất, bao gồm Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân thực hiện
quyền lực Nhà nước đại diện cho ý chí nguyện vọng quyền làm chủ cho nhân dân ở cơ
sở, quyết định và thực hiện những chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội,
củng cố an ninh quốc phòng trên địa bàn theo quy định của Hiến pháp, pháp luật là tổ
chức phát huy tính tự quản của nhân dân.
1.1.5 Khái niệm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã.
Từ cán bộ được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cụ
thể. Dù cách hiểu, cách dùng khác nhau nhưng về cơ bản từ cán bộ bao hàm nghĩa
chính của nó là bộ khung là nòng cốt, là chỉ huy. Quan niệm một cách chung nhất, cán
bộ là khái niệm chỉ với những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong
một tổ chức có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong
lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức.
Cán bộ cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt
Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã
hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh
chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
+ Năng lực chủ tọa, triệu tập các kỳ họp, chủ trì tham dựng nghị quyết, giám
xác đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng Nhân dân.
+ Năng lực tiếp xác cử tri, lấy ý kiến cử tri, tổ chức tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra
các kiến nghị, việc giải quyết các khiếu nại tố cáo của nhân dân.
+ Năng lực quan hệ với đại biểu Hội đồng Nhân dân phối hợp công tác với Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, báo cáo công tác với cơ quan hữu quan.
+ Năng lực quan chủ trì phối hợp với Ủy ban Nhân dân trong việc quyết định
đưa ra bãi nhiệm đại biểu Hội đồng Nhân dân theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cùng cấp.
- Năng lực của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã thể hiện:
+ Năng lực triệu tập, chủ tọa các phiên họp của Ủy ban Nhân dân, giải quyết
các vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch, Phó Chủ tịch, tham gia giải quyết các vấn
đề thuộc thẩm Ủy ban Nhân dân xã, chỉ đạo, đôn đốc kiểm tra việc thực hiện các chính
sách, pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng Nhân dân và
các quyết định của Ủy ban Nhân dân xã.
+ Năng lực tiếp dân, giải quyết các kiến nghị, khiếu nại tố cáo của, năng lực
giải quyết, trả lời đối với các kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng
cấp và các đoàn thể ở xã, phường, thị trấn.
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
10
SVTH: Trần Thanh Thẩm
Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp.
+ Năng lực áp dụng các biện pháp cải tiến lề lối làm việc, quản lý điều hành bộ
máy hành chính ở cơ sở, trực tiếp quản lý chỉ đạo, thực hiện một số nhiệm vụ theo quy
11
SVTH: Trần Thanh Thẩm
Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp.
+ Giúp Ủy ban Nhân dân xã thực hiện đăng ký giao dịch đảm bảo về quyền sử
dụng đất, bất động sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
+ Quản lý hồ sơ, tài liệu, chế độ báo cáo công tác theo quy định, năng lực thực
hiện một số nhiệm vụ tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
- Năng lực của cán bộ Địa chính- Xây dưng
+ Quản lý hồ sơ địa chính của xã, phường, thị trấn. Giải quyết một số vấn đề
liên quan đến lĩnh vực đất đai theo quy định của pháp luật.
+ Tham gia xây dựng, kiểm tra việc thực hiện các quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất của xã phường thị trấn, tiến hành kiểm kê việc sử dụng đất đai, tuyên truyền về
việc phổ biến cách chính sách pháp luật liên quan đến lĩnh vực mình đảm nhiệm.
+ Tham gia hòa giải các vụ việc tranh chấp về đất đai, nhận đơn tố cáo về lĩnh
vực đất đai để giúp cho Ủy ban Nhân dân có hướng giải quyết, báo cáo Ủy ban Nhân
dân ra các quyết định xử lí các trường hợp vi phạm về việc sử đụng đất trên địa bàn.
+ Phối hợp cơ quan chuyên môn cấp trên đo đạc lập bản đồ địa chính, bản đồ
hành chính và giải phóng mặt bằng.
- Năng lực của công chức Trưởng công an xã
+ Tổ chức lực lượng công an xã, nắm tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, kịp
thời đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm.
+ Tham mưu đề xuất các chủ trương nhằm đảm bảo an ninh trên địa bàn và
thực hiện ngay sau khi được cấp trên đồng ý.
+ Tiến hành phối hợp với các cơ quan khác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về
an ninh trật tự cho nhân dân, hướng dẫn quần chúng làm công tác an ninh trên địa bàn.
bộ phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, tiến bộ không ngừng trong việc nâng cao
phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và hiệu quả công tác của cán bộ.
Đánh giá cán bộ đúng sẽ tạo điều kiện cho cán bộ phát huy được sở trường hoàn thành
tốt nhiệm vụ được giao. Đánh giá cán bộ không đúng thì không những bố trí, sử dụng
cán bộ không đúng mà quan trọng hơn là làm mai một dần động lực phát triển, có khi
thui chột những tài năng, làm cho chân lý bị lu mờ, vàng thau lẫn lộn, xói mòn niềm
tin của đảng viên, quần chúng đối với cơ quan lãnh đạo, ảnh hưởng không nhỏ đến
việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị.
Công tác cán bộ gồm nhiều khâu như: đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào
tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng cán bộ. Mỗi khâu có một vị trí nhất định và các khâu
có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đánh giá là khâu tiền đề đầu tiên, có ý nghĩa
quan trọng và là cơ sở của các khâu khác. Cụ thể là, nếu đánh giá đúng thì sẽ có cơ sở
cho lựa chọn, quy hoạch, bố trí cán bộ đúng; ngược lại, nếu đánh giá sai thì sẽ lựa
chọn, quy hoạch, bố trí sai cán bộ và hậu quả thật khôn lường. Trong những năm qua,
công tác cán bộ đã có chuyển biến cả về nhận thức và cách làm, trong đó công tác
đánh giá cán bộ có những mặt tiến bộ, nhất là từ khi Bộ Chính trị ban hành Quy chế
đánh giá cán bộ, công tác này nhìn chung đã thực hiện đúng quy trình và thủ tục theo
hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, mở rộng dân chủ hơn nên đánh giá cán bộ
sát hơn. Tuy vậy, đánh giá cán bộ vẫn là khâu hạn chế nhưng chậm được khắc phục;
Báo cáo kiểm điểm nửa đầu nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa IX đánh giá: Đánh giá cán bộ là khâu rất yếu, do chưa
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
13
SVTH: Trần Thanh Thẩm
Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
vàng, kiên định với mục tiêu và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội. Phẩm chất chính
trị đòi hỏi người cán bộ, công chức phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh, quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước, có tinh thần cương quyết đấu tranh chống lại các hiện tượng lệch lạc, những
biểu hiện mơ hồ, sai trái đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước và các hành vi xâm phạm quyền lợi chính đáng của nhân dân. Người cán bộ,
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
14
SVTH: Trần Thanh Thẩm
Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp.
công chức chính quyền cấp xã có phẩm chất chính trị tốt là người tích cực tuyên
truyền, vận động gia đình, bà con nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Là người luôn luôn trăn trở băn khoăn và
tìm cách tháo gỡ những khó khăn ở cơ sở, từng bước nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân. Người có phẩm chất chính trị tốt là người một lòng phục vụ
Nhà nước, phục vụ nhân dân.
Thứ hai, về đạo đức cách mạng.
Đạo đức cách mạng là nền tảng, là gốc, là sức mạnh của người cán bộ, công
chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước,
không có nguồn thì sông cạn; cây phải có gốc không có gốc thì cây héo; người cách
mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức thì có tài giỏi mấy cũng không
lãnh đạo được nhân dân " 1 "sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa, người
cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng".
cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người trực tiếp làm việc và sinh hoạt cùng
với người dân. Cho nên đạo đức của người cán bộ, công chức sẽ có tác động rất lớn
Người cán bộ, công chức chính quyền cấp xã muốn được dân tin yêu (nói dân
nghe, làm dân tin) thì phải thường xuyên rèn luyện tu dưỡng đạo đức trong mọi lúc,
mọi nơi như Bác Hồ đã từng khuyên "đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa
xuống. Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng
như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong"1
Thứ ba, về trình độ (trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, trình độ quản lý hành chính nhà nước).
Trình độ học vấn (trình độ văn hoá) không phải là yếu tố duy nhất quyết định
hiệu quả hoạt động của cán bộ, công chức cơ sở nhưng đây là tiêu chí quan trọng ảnh
hưởng đến hoạt động quản lý trong đội ngũ này. Nó là nền tảng cho việc nhận thức,
tiếp thu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; là tiền
đề tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật vào trong cuộc sống.
Hạn chế về trình độ học vấn sẽ hạn chế về khả năng nhận thức và năng lực tổ chức
thực hiện các chủ trương, chính sách, các quy định của pháp luật, cản trở việc thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã. Do đó, trình độ
học vấn là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã.
Trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là cơ sở xác định quan điểm, lập
trường giai cấp công nhân của cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã nói riêng. Thực tế cho thấy nếu cán bộ, công chức có lập trường
chính trị vững vàng, hoạt động vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng thì sẽ được nhân dân
kính trọng, tin yêu và họ sẽ vận động được nhân dân thực hiện tốt các chủ trương,
chính sách, pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Ngược lại, nếu
cán bộ, công chức nào lập trường chính trị không vững vàng, hoạt động vì lợi ích cá
nhân, thoái hoá, biến chất sẽ đánh mất lòng tin ở nhân dân dẫn đến hiệu quả quản lý
nhà nước thấp. Vì vậy, để nâng cao năng lực quản lý nhà nước thì cần thiết phải nâng
cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã.
Trình độ quản lý nhà nước: quản lý nhà nước là hệ thống tri thức khoa học về
quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước. Đó là những kiến thức đòi hỏi các nhà
quản lý phải có, để giải quyết các vụ việc cụ thể đặt ra trong quá trình điều hành, quản
biến pháp luật, thi hành và áp dụng pháp luật trong quản lý nhà nước; kỹ năng lập và
quản lý thực hiện dự án cấp xã; kỹ năng tổ chức kiểm tra hành chính, xử phạt và
cưỡng chế hành chính ở cấp xã; kỹ năng phát hiện, xử lý tình huống phát sinh trên địa
bàn cấp xã; kỹ năng soạn thảo văn bản ở cấp xã, kỹ năng nghiệp vụ văn phòng và
thống kê cấp xã; kỹ năng phối hợp và chỉ đạo trưởng ấp, bản trong việc thực hiện một
số nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, kỹ năng ứng dụng khoa học công nghệ vào quản
lý nhà nước ở cấp xã... Nếu kỹ năng quản lý nhà nước trong cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã không tốt thì giải quyết công việc mất rất nhiều thời gian và hiệu quả
quản lý nhà nước thấp; nếu kỹ năng quản lý nhà nước của cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã tốt, thì họ sẽ giải quyết công việc nhanh chóng và hiệu quả quản lý nhà
nước sẽ cao.
Thứ năm, về phương pháp quản lý nhà nước.
Phương pháp quản lý nhà nước của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là
cách thức mà cán bộ, công chức chính quyền cấp xã sử dụng để thực hiện chức năng,
nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực ở cơ sở có hiệu quả cao. Các phương
pháp quản lý nhà nước được chia làm 2 nhóm:
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
17
SVTH: Trần Thanh Thẩm
Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp.
Nhóm thứ nhất: Các phương pháp chủ yếu của khoa học quản lý gồm: Phương
pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức Xã hội chủ nghĩa; phương pháp tổ chức; phương pháp
kinh tế ; phương pháp hành chính.
Nhóm thứ hai: Các phương pháp của các môn khoa học khác được sử dụng
vùng phía Nam sông Tiền (có diện tích tự nhiên 73.074 ha, nằm kẹp giữa sông Tiền và
sông Hậu, địa hình có dạng lòng máng, hướng dốc từ hai bên sông vào giữa)2
2.2 Thực trạng năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã ở tỉnh Đồng Tháp.
2.2.1 Cán bộ chủ chốt chính quyền cấp xã: 3
* Bí thư kim Chủ tịch Hội đồng Nhân dân và Phó bí thư kim Chủ tịch Hội đồng
Nhân dân cấp xã:
Bí thư kim Chủ tịch Hội đồng Nhân dân gồm có: 109 người.
- Về giới tính: 103 người nam (94,49%), 6 người nữ (5,51%).
2
/>introduction&provinceId=1358 Truy cập ngày 22/7/2014
3
Số liệu theo: Quyết định số 751/QĐ-UBND tỉnh Đồng Tháp ngày 02/8/2013, bản phụ lục số 01,02 về Thống kê
số lượng cơ cấu cán bộ, công chức chính quyền cấp xã. Số liệu tính tới ngày 31/12/2012
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
19
SVTH: Trần Thanh Thẩm
Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp.
- Về độ tuổi: Dưới 40 tuổi: 15 người (13,76%), từ 41 - 45 tuổi: 28 người
(25,68%), từ 46 - 60 tuổi: 66 người (60,55%).
- Về trình độ văn hoá: THCS: 0 người (0%), THPT: 109 người (100%).
Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp.
- Về trình độ lý luận: Sơ cấp: 1 người (3,33%), trung cấp: 22 người (73.33%),
cao cấp: 6 người (20%), chưa qua đào tạo 1 (3,33%).
Chủ tịch Hội đồng Nhân dân (không kiêm nhiệm các chức danh khác) gồm có:
3 người.
- Về giới tính: 3 người nam (100%).
- Về độ tuổi: Dưới 40 tuổi: 0 người (0%), từ 41 - 45 tuổi: 2 người (66,66%), từ
45 - 60 tuổi: 1 người (33,33%).
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
22
SVTH: Trần Thanh Thẩm
Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp.
- Về trình độ văn hoá: THCS: 0 người (0%), THPT: 3 người (100%).
- Về trình độ chuyên môn: Đại học - cao đẳng: 2 người (66,66%), trung cấp: 1
(33,33%), sơ cấp: 0 người (0%), chưa học gì: 0 (0%).
- Về trình độ lý luận chính trị: Sơ cấp: 2 người (16,66%), trung cấp: 0 người
(0%), cao cấp: 9 người (75%), chưa qua đào tạo 1 (8,33%).