TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
ĐỀ TÀI:
BIỆN PHÁP KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI
THI HÀNH ÁN, KỂ CẢ TÀI SẢN ĐANG DO NGƯỜI THỨ
BA GIỮ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
THÂN THỊ NGỌC BÍCH
Bô môn: Luât Tư pháp
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THANH TÂN
MSSV: S120080
Lớp: DT1263B1
Cần Thơ, tháng 11 /
2014
1
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
---------.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
3
MỤC LỤC
---------LỜI NÓI ĐẦU................................................................................................................1
4
2.1.1. Những trường hợp tài sản của người phải thi hành án không được kê biên .... 18
2.1.1.1. Đối với cá nhân ………………………………………………………….18
2.1.1.2. Đối với nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức ……………………………….18
2.1.2. Thẩm quyền kê biên tài sản ........................................................................... 19
2.1.3. Thủ tục kê biên tài sản của người phải thi hành án ........................................ 20
2.1.4. Định giá tài sản kê biên của người phải thi hành án....................................... 36
2.2. Quy định của pháp luật về biện pháp xử lý tài sản kê biên của người phải thi
hành án......................................................................................................................38
2.2.1. Giao tài sản kê biên cho người được thi hành án ........................................... 38
2.2.2. Bán tài sản đã kê biên để thi hành án.............................................................39
2.2.3. Trả lại tài sản kê biên cho người phải thi hành án.......................................... 40
CHƯƠNG 3 ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI
PHẢI THI HÀNH ÁN, KỂ CẢ TÀI SẢN ĐANG DO NGƯỜI THỨ BA GIỮ - BẤT
CẬP VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................................. 43
3.1. Bất cập trong áp dụng quy định của pháp luật về biện pháp kê biên, xử lý tài
sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ và những
khó khăn gặp phải .................................................................................................... 43
3.1.1. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về biện pháp kê biên, xử lý tài sản
của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ .........................43
3.1.2. Những khó khăn thường gặp khi áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản của
người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ ...............................45
3.1.2.1. Về mặt khách quan ……………………………………………………...45
3.1.2.2. Về mặt chủ quan ………………………………………………………...52
3.2. Một số kiến nghị để hoàn thiện việc áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản
của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ …………….58
3.2.1. Về mặt khách quan …………………………………………………………..58
3.2.2. Về mặt chủ quan ...........................................................................................63
càng phát triển, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường các giao dịch dân sự ngày một mở rộng
thì số vụ việc tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng làm cho số lượng bản án, quyết định phải
thi hành ngày càng nhiều. Trong đó những vụ việc thi hành án áp dụng biện pháp kê biên, xử
lý tài sản cũng gia tăng và ngày càng phức tạp cả về số vụ việc, cũng như số tiền. Tuy pháp
luật về thi hành án đã được pháp điển hóa và ngày càng hoàn thiện, nhưng trên thực tế khi áp
dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản thì vướng phải nhiều khó khăn, bất cập dẫn đến vụ việc
không được thi hành. Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau gây cản trở cho
việc cưỡng chế như: sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức còn chưa tốt, các quy định của
6
pháp luật còn chồng chéo, bất cập khi thi hành, Chấp hành viên thiếu kiên quyết trong các vụ
việc cưỡng chế kê biên…
Trong các biện pháp cưỡng chế mà Luật Thi hành án dân sự 2008 điều chỉnh thì biện
pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do
người thứ ba giữ là phức tạp và khó khăn nhất vì biện pháp cưỡng chế này gồm nhiều giai
đoạn và được điều chỉnh bởi nhiều văn bản liên quan. Vì vậy cần phải có cơ chế pháp lý chặt
chẽ, thống nhất nhằm giúp cho việc thi hành án được nhanh chóng, hiệu quả góp phần bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Vì những lý do trên người viết chọn đề tài “Kê
biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
theo pháp luật Việt Nam” để hoàn thành chương trình học của mình. Đặc biệt, qua việc
nghiên cứu đề tài người viết có thể hoàn thiện hơn kiến thức pháp luật và năng lực của bản
thân mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu rõ về các quy định của pháp luật về kê
biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ trong
Luật Thi hành án dân sự 2008 và các văn bản có liên quan. Thông qua việc tìm hiểu các quy
định của pháp luật và thực tiễn áp dụng mà rút ra được những bất cập thường gặp phải khi
áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản. Từ đó người viết đưa ra một vài giải
phải thi hành án.
5. Kết cấu của đề tài
Nội dung nghiên cứu của đề tài được thể hiện qua ba chương và kết cấu của mỗi
chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về biện pháp kê biên, xử lý tài sản của
người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
Ở chương này, người viết sẽ phân tích các cơ sở lý luận xoay quanh biện pháp cưỡng
chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
thông qua việc tìm hiểu những khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa liên quan đến biện pháp
cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản để có được cơ sở pháp lý rõ hơn về biện pháp cưỡng chế
này.
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp kê biên, xử lý tài sản
của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
Trong chương 2 người viết sẽ trình bày và phân tích các quy định của pháp luật Việt
Nam về biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do
người thứ ba giữ về trình tự, thủ tục khi áp dụng biện pháp cưỡng chế này.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi
hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ - bất cập và kiến nghị
Sau khi tìm hiểu và phân tích những quy định của pháp luật về biện pháp cưỡng chế
kê biên, xử lý tài sản thì trong chương này người viết sẽ trình bày thực trạng khi áp dụng
biện pháp cưỡng chế này trên thực tiễn. Từ đó thấy được những bất cập và hạn chế trong quy
định của pháp luật. Trên cơ sở đó người viết cũng đưa ra những kiến nghị để giải quyết
những khó khăn, vướng mắc gặp phải.
8
Do có phần hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm, đồng thời đây cũng là một đề tài
mới đối với người viết, cũng như trong chương trình học, nên trong bài viết không tránh
khỏi những thiếu sót. Chính vì vậy, người viết rất mong được những ý kiến đóng góp của
dân sự đã có hiệu lực thi hành của Tòa án ra để thi hành1.
Thi hành án dân sự là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật
thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó (ví dụ: việc thi hành các biện pháp khẩn cấp
tạm thời của Tòa án; trong quá trình thi hành án dân sự, Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện
kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự hoãn việc thi hành án dân sự,
quyết định tạm đình chỉ thi hành án dân sự để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm…). Tuy nhiên, Thi hành án dân sự lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ
hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự.
1
Nguyễn Thanh Thủy – Lê Kim Dung, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 – những điều cần biết, nhà xuất bản tư
pháp, xuất bản năm 2004, trang 60.
10
Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách
nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên
quan trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để
thi hành án dân sự đạt hiệu quả.
Thi hành án dân sự góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của hiệu lực xét xử. Mặc
dù quá trình xét xử phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục tố
tụng. Chủ thể tiến hành tố tụng đều là những người có uy tín, có trình độ chuyên môn nghiệp
vụ cao. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm tính chất của vụ án dân sự là đa dạng và phức tạp.
Trong khi đó các quy định của pháp luật về nội dung cũng như quy định về thủ tục tố tụng
nhiều khi còn chưa chặt chẽ hay còn thiếu. Do đó, còn có thể dẫn đến những sai lầm trong
quá trình xét xử. Vì vậy, Thi hành án dân sự chính là giai đoạn kiểm nghiệm qua thực tiễn
những phán quyết bản án của Tòa án, phản ảnh trung thực chất lượng và hiệu quả của toàn
bộ quá trình giải quyết vụ án. Từ thực tiễn thi hành án mà mỗi Thẩm phán, Kiểm sát viên,
Hội thẩm nhân dân và cán bộ Tòa án đã tham gia quá trình xét xử có thể rút ra kinh nghiệm
dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện
thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn
người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản.
1.1.3. Khái niệm biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự dùng quyền
lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của
họ, do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi
hành án mà không tự nguyện thi hành án3.
Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là tước bỏ quyền sở hữu của người phải thi
hành án đối với tài sản thi hành án, trừ trường hợp tài sản là đối tượng phải thi hành án có
giá trị lớn hơn so với nghĩa vụ thi hành án thì người phải thi hành án sẽ vẫn sở hữu phần tài
sản còn lại. Biện pháp cưỡng chế đã thể hiện rõ mục đích duy trì trật tự xã hội của nhà nước
và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể liên quan trong thi hành án dù những việc đó
trái với ý muốn của người phải thi hành án.
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thi hành án là giải pháp có hiệu quả nhằm
bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án, đảm bảo được hiệu lực của bản
án, quyết định và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trước thái độ không chấp hành án
của người phải thi hành án. Trong thực tiễn cho thấy rằng trường hợp người phải thi hành án
không tự nguyện thi hành án nếu không áp dụng biện pháp cưỡng chế thì sẽ không thể thi
hành án được. Mặt khác, đây cũng là công cụ quan trọng để bảo vệ triệt để lợi ích hợp pháp
của người phải thi hành án. Bên cạnh đó, biện pháp cưỡng chế còn có ý nghĩa trong việc răn
đe, giáo dục ý thức pháp luật của công dân, nâng cao công tác tuyên truyền pháp luật trong
thi hành án.
2
ThS.Đinh Thị Mai Phương (Chủ biên), Bình luận Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, Bộ Tư pháp – Viện khoa
học pháp lý, xuất bản năm 2006, trang 39.
3
Trang 195 Giáo trình Luật thi hành án dân sự, trường Đại học Luật Hà Nội, 2010.
hành định giá tài sản kê biên để xác định giá trị của tài sản kê biên, nhằm thực hiện nghĩa vụ
dân sự của người phải thi hành án góp phần đẩy nhanh tiến độ thi hành án. Tiếp đến là
phương thức xử lý tài sản kê biên như giao tài sản kê biên cho người được thi hành án, trong
trường hợp tài sản đã kê biên nhưng người được thi hành án không nhận thì tiến hành bán tài
sản kê biên để thi hành án, việc bán tài sản kê biên được bán theo hình thức bán đấu giá và
bán thông qua thủ tục đấu giá. Sau cùng là thanh toán tiền tài sản kê biên. Ngược lại nếu tài
sản đưa ra bán đấu giá nhưng không thể bán được mà người được thi hành án không nhận tài
4
Trang 211 Giáo trình Luật thi hành án dân sự, trường Đại học Luật Hà Nội, 2010.
13
sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản kê biên được trả lại cho người phải thi
hành án và áp dụng biện pháp cưỡng chế khác phù hợp nếu có điều kiện. Tuy nhiên trường
hợp nếu người phải thi hành án không chịu nhận tài sản vẫn chưa có quy định cụ thể để áp
dụng thi hành mà trong thực tế đã khiến các Chấp hành viên phải lưu giữ tài sản này trong
kho của cơ quan thi hành án mà không có phương án xử lý.
Vì vậy có thể nói, xử lý tài sản của người phải thi hành án là giai đoạn tiếp sau của
việc kê biên tài sản, là việc Chấp hành viên áp dụng những trình tự, thủ tục của pháp luật
theo thẩm quyền để những tài sản kê biên được bàn giao cho người được thi hành án theo
bản án, quyết định của Tòa án5.
Xử lý tài sản của người phải thi hành án sau khi đã kê biên là một hoạt động chiếm
một vai trò vô cùng quan trọng bởi nó bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án cũng
như người phải thi hành án. Đồng thời, góp phần thực hiện nghiêm kỷ cương, phép nước và
nâng cao hơn vai trò nhiệm vụ của người thực hiện công tác thi hành án dân sự.
1.2. Cơ sở lý luận và đặc điểm của biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi
hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
1.2.1. Cơ sở lý luận của biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án,
người khác. Vì vậy mà pháp luật quy định khi bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi
hành thì người phải thi hành án phải tự nguyện thi hành. Nếu không tự nguyện thi hành khi
có đủ điều kiện thi hành và đã hết thời hạn tự nguyện theo quy định của pháp luật thì đương
nhiên phải bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nhằm để giải quyết những yêu cầu
của đương sự và đảm bảo cho quá trình thi hành án được diễn ra, việc quy định áp dụng biện
pháp cưỡng chế có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình thi hành án, góp phần đảm bảo
tính thực tế, thiết thực cho việc thi hành những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Biện pháp cưỡng chế kê biên thường được áp dụng để tổ chức thi hành những bản án,
quyết định của Tòa án tuyên buộc người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền,
hoặc không có tiền mặt để trả, mà có tài sản khác, ví dụ như nhà cửa, xe cộ… thì Chấp hành
viên áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên nhằm tránh việc đương sự tẩu tán, sang nhượng
tài sản đó6.
Kê biên và xử lý tài sản là một trong những biện pháp cưỡng chế trong thi hành án
dân sự. Quyết định về biện pháp cưỡng chế thi hành án chỉ được áp dụng trong trường hợp
người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng lại trốn tránh không tự nguyện thi
hành hoặc khi người phải thi hành án có dấu hiệu tẩu tán, huỷ hoại tài sản. Việc quy định
biện pháp cưỡng chế trong trường hợp này là rất hợp lý và kịp thời, tránh được tình trạng
người phải thi hành án có tài sản để thi hành nhưng cố tình chậm trễ nhằm có thời gian để
tẩu tán tài sản hoặc không có ý định thi hành, gây bất lợi cho người được thi hành và những
người có liên quan.
Vì vậy tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định sáu biện pháp
cưỡng chế thi hành án bao gồm:
1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người
phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
6
Nguyễn Thanh Thủy – Lê Kim Dung, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 – những điều cần biết, nhà xuất bản tư
pháp, xuất bản năm 2004, trang 202, 203.
thứ ba giữ là một trong sáu biện pháp đó. Vì vậy mà biện pháp kê biên tài sản của người phải
thi hành án có những đặc điểm chung của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự như:
-
Thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng
sức mạnh của Nhà nước. Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tài sản nói
của công dân bằng các quy định pháp luật. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn có thể
tước bỏ quyền sở hữu đó nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ thể
khác khi mà quyền và lợi ích của họ bị xâm hại. Cơ quan Thi hành án dân sự là
16
một cơ quan nhà nước. Vì vậy mà những quyết định của cơ quan cũng được bảo
đảm thi hành bằng quyền lực của nhà nước nhằm góp phần bảo vệ pháp luật
một khi các đương sự cố tình không tuân theo;
-
Được Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không
tự nguyện thi hành án nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo
bản án, quyết định của Tòa án. Biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải
thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ nói riêng là một trong sáu
biện pháp cưỡng chế được quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự. Cho
nên việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này cũng được áp dụng theo Điều 46
Luật Thi hành án dân sự khi mà người phải thi hành án không tự nguyện thi
hành án;
-
Đối tượng của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc
án dân sự. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án
và người có liên quan thì những tài sản của người phải thi hành án đều có thể bị
kê biên để thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo bản án hay quyết định của Tòa
án. Tuy nhiên, với chính sách nhân đạo và tạo điều kiện cho người phải thi hành
án có thể đảm bảo được nhu cầu sinh sống của bản thân và gia đình, được tiếp
tục kinh doanh, bảo đảm quốc phòng và an ninh thì Luật Thi hành án dân sự
cũng hạn chế kê biên đối với một số loại tài sản;
-
Quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án thuộc về Chấp hành viên phụ
trách hồ sơ khi xác định được có căn cứ cho rằng tài sản đó là của người phải
thi hành án. Như vậy, chỉ có Chấp hành viên mới có quyền trực tiếp áp dụng
biện pháp kê biên tài sản đối với người phải thi hành án. Để tăng quyền tự chủ
cũng như trách nhiệm của Chấp hành viên thì từ khi phân công cho Chấp hành
viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án. Chấp hành viên có tòan quyền
quyết định biện pháp và cách thức thực hiện việc thi hành án theo quy định của
pháp luật. Vì vậy chỉ khi Chấp hành viên đang phụ trách hồ sơ thi hành án mới
có quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án trong vụ việc đang phụ
trách khi có căn cứ là tài sản đó của người phải thi hành án;
-
Người phải thi hành án có quyền thỏa thuận với người được thi hành án về tài
sản được kê biên để đảm bảo thi hành án; trong trường hợp không thỏa thuận
được thì người phải thi hành án có quyền đề nghị thứ tự kê biên tài sản và Chấp
hành viên phải chấp hành để nghị đó nếu đề nghị đó không cản trở việc thi hành
án. Nếu người phải thi hành án không có đề nghị thì hiện nay có hai nguyên tắc
hay được áp dụng để kê biên tài sản dù hiện tại không có quy định cụ thể về thứ
pháp xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp.
Đối với tài sản kê biên thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đất
hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật thì khi kê biên, xử lý tài sản đã
kê biên Chấp hành viên phải thông báo cho các cơ quan liên quan biết.
Bằng việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đã làm chấm dứt quyền tự định đoạt tài
sản của chủ sở hữu đồng thời làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan
đến tài sản bị kê biên. Vì khi có tranh chấp về tài sản kê biên thì người phải thi hành án và
những người khác vẫn có quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Khi có quyết định kê
biên đối với một tài sản nào đó thì chủ sở hữu đã không còn quyền định đoạt tài sản cũng
như đã mất quyền sử dụng tài sản của một chủ sở hữu. Khi kê biên, chủ sở hữu tài sản sẽ
không còn cách nào khác để tẩu tán hay hủy hoại tài sản. Với biện pháp này sẽ đảm bảo
được quyền lợi của người được thi hành án.
Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thi hành án chỉ được áp dụng khi
có đủ các điều kiện dưới đây:
Một là, theo bản án, quyết định của Tòa án, người phải thi hành án có nghĩa vụ trả
tiền cho người được thi hành án;
Hai là, người phải thi hành án có tài sản để thi hành nghĩa vụ trả tiền cho người được
thi hành án. Điều kiện này là đương nhiên và rất hợp lý. Vì nếu người phải thi hành án
không có tài sản để kê biên hoặc có tài sản kê biên nhưng không đủ cho chi phí cưỡng chế
thi hành án thì ý nghĩa của việc tiến hành kê biên sẽ không còn vì không những người được
thi hành án không nhận được gì mà còn làm cho quá trình cưỡng chế kê biên thêm lãng phí
và mất nhiều thời gian;
19
Ba là, đã hết thời gian tự nguyện do Chấp hành viên ấn định nhưng người phải thi
hành án không tự nguyện thi hành án hoặc chưa hết thời gian tự nguyện nhưng cần ngăn
chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản. Sự tôn trọng quyền tự nguyện thi hành án cho người phải
thi hành án và giảm bớt thời gian cũng như chi phí cho quá trình thi hành án mà Luật Thi
20
21
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN,
XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN,
KỂ CẢ TÀI SẢN ĐANG DO NGƯỜI THỨ BA GIỮ
Việc công tác thi hành án được quy định chi tiết và cụ thể trong Luật Thi hành án dân
sự đã tạo ra một khung pháp lý quan trọng để việc thi hành án được thi hành một cách nhanh
chóng, kịp thời, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Biện pháp kê biên, xử lý
tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ là một biện pháp
cưỡng chế phức tạp, gồm nhiều giai đoạn khác nhau và liên quan đến nhiều cá nhân, cơ
quan, tổ chức. Vì vậy mà Luật Thi hành án dân sự đã quy định cụ thể về trình tự và thủ tục
khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản nhằm bảo đảm hiệu lực các phán
quyết dân sự về tài sản của Tòa án. Chính vì thế mà khi quyết định áp dụng biện pháp cưỡng
chế kê biên, xử lý tài sản thì Chấp hành viên buộc phải tuân thủ một cách chặt chẽ những
quy định trong Luật Thi hành án dân sự và các văn bản liên quan nhằm đảm bảo tính nghiêm
minh của pháp luật, đồng thời cũng tránh gây ra thiệt hại cho người dân.
2.1. Quy định của pháp luật về biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án
Kê biên tài sản là một trong những biện pháp cưỡng chế tài sản được quy định tại
khoản 3 điều 71 Luật Thi hành án dân sự. Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản được hiểu “là
việc Chấp hành viên ghi lần lượt từng tài sản là vật, quyền sở hữu trí tuệ, các quyền tài sản
của người phải thi hành án và xử lý tài sản đã kê biên nhằm thi hành nghĩa vụ trả tiền theo
bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật, được áp
dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không tự nguyện thi
hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người
nhằm đảm bảo duy trì cuộc sống bình thường và tương lai của họ. Công cụ lao động cần
thiết không được kê biên ở đây được hiểu là công cụ thông thường cần thiết được dùng làm
phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình như
cày, bừa, xe đạp…; những công cụ lao động có giá trị lớn như xe ô tô, xe máy, máy cày…thì
Chấp hành viên vẫn được kê biên, bán đấu giá để thi hành án nhưng có trích lại một khoản
tiền để người phải thi hành án có thể thay thế bằng một công cụ lao động khác có giá trị thấp
hơn. Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương cũng không được kê biên
nhằm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng cũng như truyền thống uống nước nhớ nguồn.
2.1.1.2. Đối với nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức
Khoản 1 Điều 87 Luật Thi hành án dân sự quy định nhóm tài sản thứ nhất không
được kê biên gồm có: “tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục
vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan
tổ chức”. Đối với cơ quan, tổ chức hoạt động bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp thì cơ
quan Thi hành án dân sự không kê biên các tài sản do ngân sách nhà nước trực tiếp cấp mà
yêu cầu các cơ quan, tổ chức đó có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ tài chính
để thi hành án. Trường hợp cơ quan, tổ chức có nguồn thu từ các hoạt động có thu nhập hợp
pháp khác thì cơ quan Thi hành án dân sự có quyền kê biên tài sản có được từ các hoạt động
23
đó trừ những tài sản như phương tiện thuốc men chữa bệnh, phương tiện dụng cụ của trường
học, các phương tiện thuộc cơ sở này.
Khoản 3 Điều 87 Luật Thi hành án dân sự7 quy định nhóm tài sản của người phải thi
hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ không được kê biên.
Quy định này hướng tới nhằm bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường.
2.1.2. Thẩm quyền kê biên tài sản
Tại khoản 1 Điều 41 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004 có quy định “Chấp hành
viên có quyền kê biên tài sản nếu có căn cứ cho rằng tài sản đó là của người phải thi hành
án, kể cả quyền sử dụng đất hoặc tài sản đang do người thứ ba giữ” nhưng quy định này
24
những nội dung yêu cầu đó”. Kế thừa những quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự
2004, Luật Thi hành án dân sự đã quy định rõ ràng và đầy đủ về thủ tục thông báo kê biên
tài sản. Chấp hành viên phải thông báo trước, trực tiếp bằng văn bản cho người phải thi hành
án, người được thi hành án, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi có tài sản kê biên, các cơ quan, tổ chức được quy định tại các Điều 39, 40, 41, 42 Luật
Thi hành án dân sự 2008 và Điều 11 Nghị định số 164/2004/NĐ-CP, trừ trường hợp kê biên
nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản. Việc gửi thông báo về kê biên tài sản nhằm
giúp cho Chấp hành viên không gặp khó khăn khi kê biên tài sản mà không biết tài sản đó có
bị cầm cố hay thế chấp hay không.
Trong trường hợp tài sản kê biên phải đăng ký tại trung tâm đăng ký giao dịch bảo
đảm mà không đăng ký khi Chấp hành viên gửi thông báo việc kê biên tài sản đó thì người
được thi hành án sẽ có quyền ưu tiên thanh toán trước.
2.1.3. Thủ tục kê biên tài sản của người phải thi hành án
Chấp hành viên chỉ có thể ra quyết định kê biên tài sản sau khi có kết quả xác minh
về tài sản của người phải thi hành án. Chấp hành viên có nhiệm vụ thông báo cho những chủ
thể liên quan biết về việc tổ chức kê biên tài sản là bất động sản ít nhất là trong thời hạn 03
ngày làm việc trước khi kê biên trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại,
trốn tránh việc thi hành án. Việc thông báo cưỡng chế kê biên tài sản được quy định tại Điều
38, Điều 39 và Điều 88 Luật Thi hành án dân sự. Đối tượng được nhận thông báo không chỉ
là các bên đương sự để kịp thời giam gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn
là các cơ quan có liên quan để thực hiện chức năng do Nhà nước quy định. Cụ thể Chấp
hành viên phải thông báo trước và trực tiếp bằng văn bản cho người phải thi hành án, người
được thi hành án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Ủy ban cấp xã nơi có tài sản kê
biên; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và tổ chức liên quan tới việc thực hiện quyết định
cưỡng chế thi hành án. Ví dụ:
-