MỞ ĐẦU
1 . Lý do chọn đề tài
Con người là một thực thể tự nhiên và xã hội hoàn thiện và phức tạp nhất.
Trong khi tìm đường lên các vì sao, loài người đồng thời quay lại và tìm hiểu
chính mình. Và công việc này cũng không kém phần khó khăn so với các
nghiên cứu khoa học về vũ trụ, kỹ thuật và tự nhiên. Tiến bộ khoa học gần
đây nhất - việc giải mã và công bố bản đồ gen đã mở ra cánh cửa cho việc
đem lại những hiểu biết mới về con người. Đặc biệt là đống góp cho việc
chữa trị những căn bệnh nan y. Tuy nhiên, với tư cách vừa là nhà nghiên cứu,
vừa là đối tượng nghiên cứu, con người đôi khi không thể tìm ra câu trả lời
cho những câu đố về bản thân mình.
Hiện tượng đồng tính luyến ái cũng là một trong những vấn đề mà loài
người hiện nay còn đang trên đường tìm hiểu về bản chất cũng như nguyên
nhân và giải pháp cho nó. Xét về mặt y học, các nhà khoa học cho rằng đây có
thể được coi như một loại bệnh tâm thần. Họ xếp đồng tính luyến ái vào nhóm
bệnh về lệch lạc đối tượng. Nhưng nguyên nhân dẫn đến nó thì không đơn
thuần chỉ là nằm ở khía cạnh bệnh lý mà còn ở khía cạnh tâm lý. Có thể đó là
do cách giáo dục của gia đình không phù hợp dẫn dến sự phát triển lệch lạc từ
khi còn nhỏ hoặc do người đồng tính lợi dụng. Theo quan điểm của nhiều
người, đồng tính luyến ái là một hiện tượng lệch chuẩn. Đây là một lối sống
không có lợi cho xã hội cả về đạo đức cũng như phát triển. Bởi những gia
đình của người đồng tính luyến ái sẽ khó có thể thực hiện một chức năng quan
trọng - duy trì nòi giống để đảm bảo sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên sau
một thời gian dài điều trị liên tục thất bại, các nhà khoa học đã nhận ra là
mình đã sai lầm. Nên kể từ năm 1994, đồng tính luyến ái không bị coi là bệnh
nữa, không gì có thể chữa trị được, có chăng là hỗ trợ tâm lý để giúp họ yêu
đời hơn.
1
mình. Thêm nữa, họ cũng là một bộ phận của thanh niên, những người rất dễ
bị ảnh hưởng, bị cuốn theo những điều mới lạ. Hiện tượng đồng tính luyến ái
có thể xảy ra ở bất kỳ giới nào, nghề nghiệp nào. Vì thế sinh viên cần có
những hiểu biết nhất định về nó để có thể có những cái nhìn và thái độ đúng
đắn hơn với hiện tượng đồng tính luyến ái này để tránh những cái nhìn kì thị
và qua đó giúp những người đồng tính có thêm động lực để sống và làm việc.
Xuất phát từ nhận định như vậy, chúng tôi đã chọn đề tài “Nhận thức của sinh
viên Khoa Giáo dục, Học viện quản lý giáo dục về hiện tượng đồng tính luyến
ái” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp cho mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm tìm hiểu nhận thức của nhóm sinh viên về bản chất cũng như biểu
hiện, nguyên nhân và đối tượng của hiện tượng đồng tính luyến ái
Nhằm phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức cũng như thái độ
và hành vi của sinh viên.
3. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức về hiện tượng đồng tính luyến ái của sinh viên khoa giáo dục,
Học viện quản lý giáo dục.
3.2 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên Khoa Giáo dục, Học viện quản lý giáo dục.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
+ Tổng quan về hiện tượng đồng tính luyến ái trên thế giới và ở Việt Nam
+ Hệ thống các khái niệm
- Nghiên cứu thực trạng nhận thức của sinh viên về hiện tượng đồng tính.
- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến nhận thức của sinh viên.
- Tìm hiểu thái độ và quan điểm của sinh viên đối với người đồng tính.
3
Trên thế giới, những đề tài khoa học, những nghiên cứu khoa học về
đồng tính luyến ái, hay nhận thức về đồng tính luyến ái đang có xu hướng
tăng nhanh, vì hiện tượng này, dù có kết quả thế nào vẫn không thể làm hài
lòng hay thỏa mãn hầu hết mọi người. Những nghiên cứu khoa học từ giữa
thế kỉ XX cho thấy, đồng tính luyến ái đã không còn phải là một loại bệnh.
Đó được nhìn nhận như một giới tính thực thụ. Qua những công trình nghiên
cứu, qua thời gian, đồng tính luyến ái hiện nay đang dần được xã hội có cái
nhìn thiện cảm hơn và phần nào bớt đi cái nhìn kì thị.
Những công trình nghiên cứu nổi bật của thế giới về đồng tính luyến
ái phải kể đến những công trinh nghiên cứu như: Di truyền trong sức khỏe và
rối loạn tinh thần của E.J Kalhan, ông đã tiến hành nghiên cứu trên những cặp
sinh đôi hợp tử và song hợp tử đã cho thấy “Trong mọi trường hợp sinh đôi
đơn hợp tử, nếu một đứa trẻ đồng tính, thì đứa kia cũng vậy, điều này không
5
xuất hiện ở những cặp sinh đôi song hợp tử ”. Những điều này cho thấy, khả
năng di truyền và bẩm sinh từ bé của những người đồng tính là rất lớn.
Hoặc đề tài nghiên cứu khoa học Violence agains lesbians and gaymen
của David Comstock, đây là một nghiên cứu tập trung về những vấn đề mà
người đồng tính luyến ái gặp phải trong cuộc sống. Tác giả đưa ra những số
liệu về tệ nạn sử dụng bạo lực cũng như phân biệt đối xử đối với những người
đồng tính luyến ái tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nghiên cứu năm 1992.
Cuốn sách của Scott Coltrane and Randall Collins tên Socialogy of
marriage and the family – NXB Wadsworth/Thomson Learning 2001, đây là
cuốn sách xã hội học về hôn nhân và gia đình đã đề cập rất nhiều đến vấn đề
về đời sống hôn nhân cũng như giới tính. Trong đó, đồng tính luyến ái cũng
được đề cập. Chủ yếu nghiên cứu làm sáng tỏ sự xuất hiện và phát triển của
hiện tượng này trong đời sống cá nhân, cách nhìn nhận của cộng đồng về nó.
Về phía công trình nghiên cứu của các nhà Y học trên thế giới, theo
nhiều, nhưng cũng đã bước đầu có những cái nhìn tích cực và đổi mới đối với
hiện tượng nóng trên thế giới này. Việc thống kê một cách đầy đủ và rộng
khắp để đưa ra những số liệu đúng đắn về người đồng tính ở Việt Nam có ý
nghĩa quan trọng trong hoạch định chính sách đối với người đồng tính cũng
như tác động đối với xã hội nói chung. Tuy nhiên, những đề tài khoa học của
các nhà nghiên cứu tại Việt Nam thường diễn ra trong tình trạng khó khăn,
khó khăn bởi vì tâm lý của người Việt thường ngại nhắc đến những trường
hợp nhạy cảm như thế này.Ngoài ra, sự hiểu biết những vấn đề nóng bỏng của
xã hội của người Việt vẫn chưa nhanh nhạy, mà chỉ là nghe đâu biết đấy.
Những đề tài được nhắc đến nhiều tại Việt Nam như cuộc thăm dò
trực tuyến mang tên “Đặc điểm kinh tế, xã hội của nam giới có quan hệ tình
dục đồng giới tại Việt Nam” của Viện nghiên cứu xã hội, Kinh tế và Môi
trường hợp tác với Học viện báo chí tuyên truyền. Chương trình này được
thực hiện bằng cách đăng tải bộ câu hỏi trực tuyến lên 5 diễn đàn của người
7
đồng tính, nhằm thu thập những thông tin để giúp cho mọi người hiểu rõ hơn
về cộng đồng người đồng tính tại Việt Nam.
Các đề tài nghiên cứu về Nhận thức của sinh viên về đồng tính tại
Việt Nam cũng đang ngày được chú ý hơn trước bởi sức ảnh hưởng của vấn
đề này tới Việt Nam ngày càng lớn. Tuy nhiên, những đề tài này vẫn đang ở
dạng thực nghiệm chứ chưa được nghiên cứu rộng rãi, vì người ta e ngại tính
khả quan của đề tài mang lại. Số người nghiên cứu về nó ngày càng nhiều,
nhưng những kết quả đem lại vẫn chưa thật sự khả quan và chỉ đem lại hiệu
quả tương đối.
Trong một cuộc thăm dò nghiên cứu năm 2007 của đại học Sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh, với câu hỏi “Người đồng tính luyến ái có xấu hay
không?”. Kết quả có 80% trả lời là không. Đa phần sinh viên cho rằng, đó là
quốc gia ( số 1-12-2000 ), trong tạp chí này, đồng tính luyến ái được nhắc đến
như một nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng căn bệnh HIV-AIDS, đặc biệt là
với nhóm đồng tính luyến ái nam.
Những đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường về đề tài
Nhận thức của sinh viên về hiện tượng đồng tính cũng đang được chú ý và mở
rộng nhiều hơn. Điển hình có thể kể đến các trường như Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Học viện quản lý giáo dục, Đại học Sư phạm Hà nội…. Đặc
biệt phải kể đến đề tài được đánh giá cao của sinh viên Bùi Bích Hà của Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà nội.
Nhìn chung, nhận thức của sinh viên về hiện tượng đồng tính luyến ái
hiện nay có một vai trò rất quan trọng, nó đánh giá được tầm nhìn và sự hiểu
biết của sinh viên về một vấn đề đang ngày càng được xã hội quan tâm. Bởi vì
sinh viên là lớp người kế cận thực hiện tiếp những công việc của đất nước.
Những người có trình độ học thức cao nên có những hiểu biết đúng đắn về
hiện tượng này.
9
1.2. Khái niệm về nhận thức
Theo cách hiểu thông thường, nhận thức đó chính là cách nhìn nhận, cách
hiểu biết về những sự vật hiện tượng xung quanh chúng ta.
Theo cách khoa học, Nhà tâm lý học người Đức cho rằng “Nhận thức là
sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người. Nhận thức bao
gồm nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Chúng có mối quan hệ biện
chứng với nhau, và cơ sở, mục đích tiêu chuẩn của nhận thức là thực tiễn xã
hội”.
1.3. Khái niệm “ Nhận thức của sinh viên về hiện tượng đồng tính luyến
ái”
1.3.1. Khái niệm và đặc điểm của những người đồng tính luyến ái
1.6. Khái niệm giới
Giới là khái niệm dùng để chỉ những mối quan hệ xã hội của nam và nữ.
Khái niệm giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi
được tạo nên với hai giới tính. Giới là một sản phẩm của xã hội và liên quan
đến quá trình xã hội hóa.
Các đặc điểm của giới:
- Một phần vẫn bị quy định bởi yếu tố sinh học của giới tính.
- Không mang tính di truyền, bẩm sinh mà được hình thành qua quá
trình học tập, xã hội hóa cá nhân.
- Đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức do sự đa dạng của xã
hội, nền văn hóa.
- Có thể biến đổi.
1.7. Khái niệm bản sắc giới
Bản sắc giới liên quan đến sự nhận thức của cá nhân về nam giới hay nữ
giới. Nói một cách khách, bản sắc giới là sự cảm nhận của cá nhân về giới của
mình trong nền văn hóa. Bản sắc giới thường phù hợp với giới tính của cá
11
nhân nhưng không phải trường hợp nào bản sắc giới cũng đồng nhất với giới
tính của cá nhân đó.
1.8. Khía cạnh cá nhân và xã hội
Theo các nhà khoa học, hầu hết các hiện tượng Đồng tính luyến ái là do
bẩm sinh, một số do xu hướng và một số do ngộ nhận về bản thân. Có những
người muốn tò mò về giới tính thứ 3 này và cũng có những người bị lôi kéo,
đua đòi theo xu hướng ngoại lai đang xâm nhập ngày càng nhiều vào nước ta.
Những phim ảnh, tranh ảnh đang ngày càng nói nhiều về hiện tượng đồng tính
làm giới trẻ hoang mang chưa định hướng được về mình.
1.9. Khía cạnh Tâm lý học
tác giả trong và ngoài nước về vấn đề đồng tính luyến ái, nhận thức của sinh
viên về hiện tượng đồng tính luyến ái.
Xác định những khái niệm công cụ có liên quan làm cơ sở cho nghiên
cứu thực tiễn.
Nghiên cứu thực trạng nhận thức của sinh viên Khoa Giáo dục, Học
viện quản lý giáo dục về hiện tượng đồng tính luyến ái.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đây là phương pháp nghiên cứu những chuyên đề, bài viết, công trình,
giáo trình của các tác giả trong và ngoài nước đã được công bố, đăng tải trên
các sách báo, tạp chí, mạng internet…về hiện tượng đồng tính luyến ái, nhận
thức của sinh viên, cá nhân về hiện tượng đồng tính. Đồng thời phân tích,
tổng hợp và đánh giá những công trình đó nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý
luận cho đề tài.
13
Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu lý luận - phân tích tài liệu còn giúp
tôi nghiên cứu rõ hơn về thái độ của sinh viên nói riêng và cá nhân trong xã
hội nói chung với người đồng tính luyến ái.
2.2.2. Phương pháp quan sát
Quan sát là một phương pháp nghiên cứu trong đó người quan sát sử
dụng các quá trình hình thành tri giác để thu thập thông tin về hành vi, cử chỉ,
lời nói của khách thể nghiên cứu trong những điều kiện nhất định nhằm đạt
được mục đích nghiên cứu nhất định.
Phương pháp này được sử dụng nhiều trong quá trình phỏng vấn sâu,
vừa phỏng vấn vừa quan sát điệu bộ khuôn mặt, cử chỉ, ánh mắt giọng nói của
sinh viên.
2.2.3. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Bảng hỏi là hệ thống các câu hỏi được xếp đặt trên cơ sở các nguyên tắc:
15
Chương 3
THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ
HIỆN TƯỢNG ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI
3.1. Nhận thức cơ bản về hiện tượng đồng tính luyến ái của sinh viên
3.1.1 Mức độ quan tâm đến hiện tượng đồng tính luyến ái của sinh viên
Đồng tính luyến ái đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới cũng như Việt
Nam, nhưng trước đây do điều kiện đất nước trong chiến tranh và dư luận xã
hội vẫn rất khắt khe với những hiện tượng bất bình thường nên nó không có
cơ hội để phát triển. Từ sau khi đất nước ta hình thành cơ chế mở cửa, hiện
tượng đồng tính luyến ái cũng theo đà đó phát triển hơn và được biết đến
ngày một rộng rãi hơn. Bởi tuy đây chỉ là biểu hiện của một nhóm đối tượng
nhỏ nhưng ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa xã hội rất rõ ràng.
Sinh viên là nhóm có trình độ tri thức và năng lực được đánh giá cao
trong xã hội. Họ đại diện cho một bộ phận tiên tiến của xã hội, luôn nhạy bén
với các hiện tượng mới nảy sinh cả những hiện tượng tích cực cũng như tiêu
cực. Thêm nữa, do đặc thù về lứa tuổi, đặc thù về nơi cư trú, nên sinh viên
cũng có những hiểu biết tương đối về hiện tượng này.
Sinh viên Khoa Giáo dục của trường Học viện quản lý giáo dục cũng
vậy, họ chính là lớp tri thức tiên tiến, đại diện cho một tầng lớp xã hội tài
năng và nhiều hiểu biết. Sau khi điều tra đại diện 100 sinh viên của khoa Giáo
dục về hiện tượng Đồng tính luyến ái đã đưa ra những kết quả hết sức đáng
mừng về hiểu biết của sinh viên đối với hiện tượng đang rất nóng trong xã hội
này.
Khi được hỏi “Anh(chị) có nghe nói nhiều về Đồng tính luyến ái
không?” thì có tới 90% sinh viên trả lời đã nghe rất nhiều lần, 9% sinh viên
nghe nhiều, và 1% nghe nói về hiện tượng này ở mức độ bình thường. Điều
0%
0%
0%
Bảng 1. Sự quan tâm của sinh viên tới hiện tượng đồng tính luyến ái
Qua bảng thống kê trên, ta có thể nhận thấy, số nữ sinh biết đến hiện
tượng đồng tính luyến ái cao hơn so với các nam sinh. Tuy nhiên, vì đặc thù
của khoa là nữ nhiều hơn nam nên số liệu trên chỉ là tương đối. Mặc dù chiếm
số lượng nam sinh rất ít, nhưng chúng ta có thể nhận thấy, hầu như 100% sinh
viên nam đều nghe nói rất nhiều về hiện tượng này. Điều này xuất phát từ
những nguyên nhân khách quan. Trước hết, nam giới luôn nhạy bén với các
vấn đề nóng bỏng của xã hội, năng động hơn và thích tìm hiểu những vấn đề
mới lạ, đặc biệt là liên quan đến giới tính. Còn nữ giới, luôn được quan niệm
phải dịu dàng, kín đáo. Thêm nữa, nữ giới thường e dè với những hiện tượng
nhạy cảm như đồng tính luyến ái. Do vậy, tỉ lệ nữ sinh mặc dù chiếm số đông
do chiếm nhiều hơn, nhưng tỉ lệ phần trăm nam sinh biết đến hiện tượng này
lại chiếm ưu thế so với mặt bằng chung tỉ lệ nam nữ. Và chính vì đã được
nghe rất nhiều về hiện tượng Đồng tính luyến ái trong cuộc sống nên khi được
hỏi Đồng tính luyến ái là gì, thì 100% sinh viên đều xác định được đồng tính
luyến ái chính là hai người đồng giới thích nhau.
17
Biểu đồ 1. Sự quan tâm của sinh viên tới hiện tượng đồng tính luyến ái
Một vấn đề nữa được nhận thấy sau khi nghiên cứu đó là mặc dù được
nghe nói về đồng tính luyến ái ít hay nhiều, nhưng mỗi người đều có những
hiểu biết và nhận định khác nhau, có những đánh giá chủ quan của bản thân
mình về sự ảnh hưởng của đồng tính luyến ái đến người đồng tính.
18
05
Ảnh hưởng đến
10%
20%
70%
tình cảm
Bảng 2. Mức độ ảnh hưởng của đồng tính luyến ái đến người đồng tính
theo quan điểm của sinh viên.
Nhìn vào bảng thống kê, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy đó là cách
nhìn nhận vấn đề của mỗi sinh viên là hoàn toàn không giống nhau. Khi nhắc
đến đồng tính luyến ái, 70% trong số 100 sinh viên được nghiên cứu cho rằng,
đồng tính luyến ái ảnh hưởng đến lối sống của người đồng tính. 30% sinh
viên còn lại cho rằng, đồng tính thật ra không ảnh hưởng gì đến đồng tính
luyến ái. Khi được hỏi về ảnh hưởng đến đạo đức thì đến 94% sinh viên cho
rằng, đồng tính luyến ái ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức của con người.
Và điều ấy trái với tự nhiên và thuần phong mĩ tục. Chỉ có 6% cho rằng,
không có ảnh hưởng gì đến đồng tính luyến ái.
Bản thân của mỗi sinh viên có những hiểu biết khác nhau và những cách
nhìn nhận về vấn đề không giống nhau. Nhìn vào biểu đồ thống kê, chúng ta
có thể nhận thấy, đạo đức là vấn đề được sinh viên quan tâm nhất và cho đó là
mức độ ảnh hưởng cao nhất đối với người đồng tính. Ở đây chúng ta không
xét ai đúng, ai sai. Mà chúng ta chỉ thống kê lại những số liệu đã thu thập
được sau khi điều tra.
Về hiện tượng đồng tính luyến ái, ít nhiều sẽ có những mức độ ảnh hưởng
khác nhau tùy thuộc thời điểm và tùy thuộc suy nghĩ của mỗi người. Đồng
19
tính luyến ái xuất hiện từ lâu, mặc dù được nghe nói đến nhiều,nhưng không
phải sinh viên nào cũng có những hiểu biết căn bản về nó,và đánh giá nó một
sắc giới. Đó là sự nhận thức của cá nhân về giới của mình. Bản sắc giới
thường phù hợp với giới tính nhưng cũng có trường hợp không phải như vậy.
Đó chính là những trường hợp của những người đồng tính luyến ái. Về mặt
20
sinh học, họ là nam giới hoặc nữ giới. Nhưng trong nhận thức, họ mong muốn
và cảm thấy mình thuộc về giới tính kia hoặc có thể có quan hệ tình cảm,
quan hệ tình dục với người cùng giới tính với mình.
Nam giới là đối tượng có khả năng làm lan truyền bệnh HIV - AIDS cao
hơn so với nữ giới do đặc thù về lối sống. UNAIDS - tổ chức phòng chống
căn bệnh thế kỷ đã đưa ra năm lý do giải thích tại sao sao chiến dịch phòng
chống AIDS toàn cầu năm 2000 lại tập trung vào nam giới. Trong đó có một
nguyên nhân đáng chú ý là quan hệ tình dục đồng giới không an toàn giữa
nam với nam gây nguy cơ cho cả nam và nữ. Phần lớn quan hệ tình dục giữa
nam với nam là dấu giếm. Và theo nhiều nghiên cứu tiến hành trên thế giới,
có đến hơn 1/6 nam giới nói rằng họ có quan hệ tình dục đồng giới. Rất nhiều
trong số họ đồng thời cũng có quan hệ với cả phụ nữ. Do vậy nguy cơ lây
truyền bệnh HIV/AIDS tăng lên rất nhiều.
Mặc dù hiện nay, đồng tính luyến ái đã được tổ chức y tế thế giới công
nhận không phải là một bệnh lý, nhưng quan điểm lâu đời cuả một người bao
giờ cũng khó mà có thể thay đổi. Nhất là đối với một nước phương Đông như
Việt Nam chúng ta, nhận thức của con người rất khó thay đổi. Xã hội đang
ngày càng có cái nhìn tích cực hơn đối với những người đồng tính. Nhưng
không thể phủ nhận rằng, tình trạng kì thị người đồng tính hiện nay vẫn còn
nhiều. Nhất là ở những vùng quê. Tình trạng kì thị người đồng giới ngày một
tăng cao. Họ cho rằng, đó là bệnh hoạn và đi trái với thuần phong mĩ tục của
nước nhà. Chính vì vậy, bản thân người đồng giới còn phải mất rất nhiều thời
gian để có thể được công nhận là một giới tính thực thụ.
Nam giới và nữ giới ở lứa tuổi thiếu niên nếu bị đồng tính luyến ái có
9%
Bảng 4. Tần suất sinh viên gặp hiện tượng đồng tính luyến ái
Biểu đồ 2. Tần suất gặp hiện tượng đồng tính luyến ái của sinh viên
Nhìn vào bảng số liệu thống kê thu được, ta có thể dễ dàng nhận thấy tỉ lệ
sinh viên đã gặp, đã biết những người đồng tính luyến ái ít nhất 1 lần trở lên
lên đến con số 91%,trong khi đó chỉ có 9% sinh viên chưa gặp hiện tượng này
bao giờ.
22
Điều này càng khẳng định rằng đồng tính luyến ái không còn là một hiện
tượng cá biệt riêng ai, ít người quan tâm, biết đến mà mức tồn tại của nó đã
khá phổ biến. Trong số 91% sinh viên trả lời đã từng gặp những người đồng
tính, có 7% sinh viên gặp thường xuyên, đến 70% sinh viên thỉnh thoảng gặp
và 14% sinh viên hiếm khi gặp. Xã hội Việt Nam mở cửa với quốc tế, chính
vì vậy cái nhìn của xã hội cũng đã rộng mở hơn rất nhiều, mặc dù cũng có
nhiều người không dám nhận mình như thế, tuy nhiên, số người công khai
bản thân mình cũng đủ để nhóm sinh viên nhận ra. Người đồng tính hiện nay
đã nhận được thái độ cởi mở hơn của dư luận, họ vẫn đang cố gắng sống tốt
để khẳng định với mọi người là đồng tính luyến ái không phải là xấu mà chỉ
khác đi về xu hướng tình dục. Điều đó thuộc về cá nhân và không ảnh hưởng
đến ai.
Mức độ
Nam sinh
Nữ sinh
Tổng
Thường xuyên
2%
Ngoài ra chúng ta có thể nhận thấy đó là đặc trưng của sinh viên khoa
Giáo dục đó là 80% các bạn sống xa gia đình, và phải tự lập từ rất sớm.
Những khoảng thời gian rảnh rỗi, những khoảng trống trong lúc học tập cũng
chính là lúc các bạn tìm hiểu những vấn đề đang được xã hội hết sức quan
tâm. Người đồng tính hiện nay ngày càng xuất hiện với mật độ rất đông. Bằng
chứng đó là có rất nhiều người đi ra đường đã gặp và nhìn thấy những người
đồng tính. Người đồng tính đang ngày càng tìm được những chỗ đứng riêng
cho mình mà không sợ xã hội kì thị. Môi trường sống của sinh viên cũng ảnh
hưởng rất lớn đến nhận thức của họ. Sinh viên cũng là những người thuộc
tầng lớp thanh niên, đang ở độ tuổi trưởng thành về tâm sinh lý. Do vậy, có
thể xuất hiện xu hướng sống lệch lạc nếu trong môi trường có những người
đồng tính luyến ái hoặc do chính sự tò mò của bản thân. Một trường hợp sinh
viên nam học tại trường đại học của Hải Phòng đã tự kể về nguyên nhân mình
đã trở thành người đồng tính luyến ái trong một phóng sự của báo Hoa Học
Trò (“Tôi tự đánh mất giới tính của mình thế nào” số 420 - 421, ra ngày 2712- 2001 và 1-1-2002) “Tôi thức giấc vì nghe tiếng cười, tôi không còn tin ở
mắt mình nữa khi thấy Kvà V, hai anh sinh viên năm 4 phòng tôi đang làm
một cái trò kỳ quái vô cùng ngay trên chiếc giường dưới tôi. Cả hai anh ấy
đều hành động như vợ chồng..”. Bạn trai này đã phải trải qua những giờ phút
kinh hoàng với sự ám ảnh. Bạn đã định tâm sự với những người còn lại trong
phòng nhưng không ngờ những người bạn ấy cũng xử sự như những người
24
đồng tính luyến ái. Vì gia đình quá nghèo, bạn không thể xin chuyển ra ngoài
ở trọ và cuối cùng đã đánh mất giới tính của chính mình. Sự dụ dỗ, lôi kéo
của những người xung quanh cùng với sự tồn tại công khai quan hệ tình dục
đồng giới đã khiến một bạn sinh viên trở thành người đồng tính luyến ái. Sinh
viên thuê nhà trọ ở ngoài có tỷ lệ gặp hiện tượng ở nơi sống của mình cao
nhất. Bởi nếu những người trong ký túc xá đều là sinh viên thì những người ở
nhà trọ có nghề nghiệp và lối sống rất khác nhau. Đây là môi trường thuận lợi