Xu hướng chọn nghề của học sinh lớp 12 trường THPT Mỹ Đức B – Hà Nội - Pdf 30

Học Viện Quản Lý Giáo Dục

Khóa luận tốt nghiệp

XU HƯỚNG CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH LỚP 12
TRƯỜNG THPT MỸ ĐỨC B_HÀ NỘI
I.Phần mở đầu:
1.Lý do chọn đề tài:
Việt Nam đang bước vào thời kì công nghiệp hoá- hiện đại hóa với nền kinh
tế mở, năng động. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường trong những năm qua
cùng với sự hội nhập mạnh mẽ với khu vực và trên thế giới đã có những tác động to
lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội như kinh tế, văn hóa, giáo dục… trong đó có
vấn đề nghề nghiệp và việc làm. Như chúng ta đã biết, nước ta là một nước có dân
số trẻ, trong đó tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 66% (2009). Cho
nên, vấn đề nghề nghiệp - việc làm luôn là mối quan tâm hàng đầu của giới trẻ hiện
nay. Đặc biệt là đối với các em trung học phổ thông khi đang đứng trước ngưỡng
cửa của cuộc đời. Xác định cho mình một hướng đi đúng đắn về nghề nghiệp, việc
làm tức là các em đã có một nửa thành công trên con đường lập nghiệp. Bởi chọn
nghề chính là chọn cuộc đời, chọn tương lai.
Ngay từ những năm tháng đang ngồi trên ghế nhà trường, bên cạnh việc
trang bị những tri thức khoa học, các em học sinh đã bắt đầu định hướng cho mình
về nghề nghiệp trong tương lai. Lớp 12- năm học cuối cấp là thời điểm các em đưa
ra những quyết định quan trọng trong việc lựa chọn nghề. Nếu chọn nghề không
đúng, không phù hợp với năng lực, sở thích, hứng thú, cũng như nhu cầu của bản
thân thì sẽ dẫn đến tình trạng: không học được nghề, không thể tiến bộ trong nghề,
không thể lập thân, lập nghiệp được…Do vậy, ta có thể thấy được hoạt động giáo
dục hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông giữ một vị trí, vai trò
hết sức quan trọng. Không chỉ có ý nghĩa trong việc giáo dục hoàn thiện nhân cách
cho học sinh mà giáo dục hướng nghiệp nhằm mục đích giúp cho học sinh phổ
thông, đặc biệt là các em học sinh lớp 12 có được sự hiểu biết cơ bản về các ngành
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích

theo mong muốn của bản thân mà theo ý muốn của người khác: không ít các em lựa
chọn ngành nghề là do sự quyết định của cha mẹ, đôi khi là do sự rủ rê của bạn bè,
có những em chỉ mới nghe thấy tên của một nghề nào đó đã cảm thấy thích và chọn
trong khi không có nhiều thông tin về nghề đó…dẫn đến tình trạng có rất nhiều học
sinh sau khi đã được vào học tại các trường chuyên nghiệp mới nhận ra rằng mình
không thích, không phù hợp với nghề đã chọn.
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích

2

Lớp: K1A- TLGD


Học Viện Quản Lý Giáo Dục

Khóa luận tốt nghiệp

Cho nên nhiều em đã rơi vào tình trạng chán nản, học tập không tiến bộ, bỏ học để
tiếp tục thi vào trường khác…
Từ những lý do trên, đồng thời dựa trên sự khảo sát thực tế tại trường THPT
Mỹ Đức B, Hà Nội đã khiến tôi quyết định lựa chọn đề tài “Xu hướng chọn nghề
của học sinh lớp 12 trường THPT Mỹ Đức B – Hà Nội”. Từ đó tìm ra xu hướng
chọn nghề cúa các em và đưa ra những biện pháp nhằm giúp các em chọn đúng
nghề.
2. Ý nghĩa của đề tài:
2.1. Ý nghĩa lý luận:
Đề tài “Xu hướng chọn nghề của học sinh lớp 12 trường THPT Mỹ Đức B –
Hà Nội ”mong muốn tìm ra những yếu tố chi phối, tác động tới sự lựa chọn của học
sinh lớp 12 trường THPT Mỹ Đức B. Từ đó tìm ra xu thế chung của các em trong
việc lựa chọn ngành nghề của họ. Bên cạnh đó đề tài còn mong muốn tìm hiểu

Hà Nội.
4. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Xu hướng lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trường THPT Mỹ Đức B
4.2.Khách thể, phạm vi nghiên cứu:
4.2.1.Khách thể nghiên cứu:
- Học sinh lớp 12 trường THPT Mỹ Đức B – Hà Nội
4.2.2.Phạm vi nghiên cứu:
* Không gian nghiên cứu: tập chung tại trường Mỹ Đức B
* Thời gian nghiên cứu: học kì 2 lớp 12 năm học 2011- 2011
5.Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1.Nghiên cứu cơ sở lý luận về xu hướng chọn nghề của học sinh THPT.
5.2.Thực trạng xu hướng chọn nghề của học sinh lớp 12 trường THPT Mỹ
Đức B – Hà Nội.
5.3. Đề xuất biện pháp giáo dục giúp các em học sinh lớp 12 THPT Mỹ Đức
B- Hà Nội chọn đúng nghề.
6.Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên nguyên tắc và lí luận của chủ nghĩa duy vật.
Bên cạnh đó vận dụng lí thuyết của nhiều môn như: giáo dục học, Giáo dục giá trị,
Tâm lí học đại cương, Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm…
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích

4

Lớp: K1A- TLGD


Học Viện Quản Lý Giáo Dục

Khóa luận tốt nghiệp

5

Lớp: K1A- TLGD


Học Viện Quản Lý Giáo Dục

Khóa luận tốt nghiệp

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XU HƯỚNG CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH
LỚP 12 TRƯỜNG THPT MỸ ĐỨC B.
2.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu
2.2. Thực trạng và xu hướng chọn nghề của học sinh lớp 12 trường THPT Mỹ Đức
B.
2.2.1. Thực trạng nhận thức và xu hướng chọn nghề của học sinh lớp 12
trường THPT Mỹ Đức B
2.2.2. Lựa chọn của học sinh lớp 12 THPT trường Mỹ Đức B sau khi tốt
nghiệp.
2.2.3. Các ngành nghề được lựa chọn và các yếu tố tác động đến sự lựa chọn
đó.
2.2.4. Khó khăn, thuận lợi khi lựa chọn.
2.2.5. Mong muốn về công việc trong tương lai.
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.

Sinh viên: Nguyễn Thị Bích

6



Lớp

: TLGD K1A

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Minh Hằng

Hà Nội, tháng 1 năm 2011

PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I . CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
I. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Nghề nghiệp,việc làm luôn là mối quan tâm hàng đầu của mỗi người. Sự
phong phú, đa dạng của nghề nghiệp không chỉ nói lên sự phát triển của xã hội
mà còn thể hiện sự phát triển của cá nhân trong xã hội đó. Bàn về vấn đề nghề
8
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
Lớp: K1A- TLGD


Học Viện Quản Lý Giáo Dục
Khóa luận tốt nghiệp
nghiệp đã có rất nhiều tác giả bỏ công sức ra nghiên cứu cả trong nước cũng nhu
nước ngoài. Chúng tôi có thể điểm lại những công trình đã được nghiên cứu
trước đây.
1.1.

Các nghiên cứu ở nước ngoài:
Ở phương Tây, nghiên cứu về vấn đề nghề nghiệp đã có từ rất lâu.


Khóa luận tốt nghiệp
trong tương lai nếu không chuẩn bị ngay từ thời ấu thơ thiên hướng nghề
nghiệp mà bé thích hợp”( ).
Ở Liên Xô( cũ), vấn đề hướng nghiệp cũng được quan tâm đặc biệt
ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX. V.I.Lênin đã có chỉ thị yêu cầu phải
cho học sinh làm quen với khoa học kỹ thuật, làm quen với cơ sở của nền sản
xuất hiện đại. Trên cơ sở luận điểm hướng nghiệp của C.Mác và Lênin, các
nhà giáo dục Liên Xô như V.N Spukin, V.P Gribanov, X.N Trixtaiakova,
N.N Dakharov…khi nghiên cứu về: Hứng thú nghề nghiệp của học sinh đã
cho rằng: học sinh THPT thường có dự định, mong muốn được tiếp thu nền
học vấn cao hơn, không thích đi làm ngay. Những nghề học sinh dự định
chọn tùy theo từng thời kỳ khác nhau và theo đặc điểm lứa tuổi, giới tính.
N.K Crupxcaia-Nhà giáo dục lỗi lạc đã từng nêu lên luận điểm “tự do chọn
nghề” cho mỗi thanh, thiếu niên. Theo bà, mỗi trẻ em phải nhận thức sâu sắc
được hướng phát triển kinh tế của đất nước, những nhu cầu của nền sản xuất
trong lĩnh vực lao động sản xuất. Đồng thời bà nhấn mạnh. Công tác giá dục
hướng nghiệp phải giúp cho trẻ em phát huy được hứng thú và năng lực của
bản thân, dạy cho các em có thái độ đúng đắn đối với lao động, động cơ chọn
nghề trong sang. Từ đó hình thành cho các em thái độ tự giác trong việc chọn
nghề.
Bên cạnh những tác phẩm nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp, nhiều
tác giả cũng đi vào nghiên cứu động cơ chọn nghề của học sinh. Trong cuốn
“Tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm”( tập1, 2, 3), các tác giả A.V
Petropxki, N.D Levitov… đã đánh giá động cơ chọn nghề có ý nghĩa lớn đối
với việc hình thành nhân cách và việc tự quyết định đường đời của thanh
niên. Ông đã đưa ra một số động cơ cả bên trong lẫn bên ngoài có ảnh hưởng
đến sự lựa chọn nghề của các em. Còn tác giả V.A Cruchetxki trong khi
nghiên cứu “Những cơ sở của Tâm lý học sư phạm” thì cho rằng sự kết hợp
giữa nguyện vọng, khả năng của cá nhân với ý nghĩa xã hội của nghề nghiệp
10

nhằm giúp cho HS củng cố và phát triển những kết quả của THCS, hoàn thiện
học vấn để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học nghề nhiệp, học nghề, và đi
vào cuộc sống lao động”. Chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 - 2010 đã xác
11
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
Lớp: K1A- TLGD


Học Viện Quản Lý Giáo Dục
Khóa luận tốt nghiệp
định rõ: “Thực hiện chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho HS có học
vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự
phát huy năng lực của mỗi HS, giúp HS có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng
hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân luồng sau THPT, để HS vào
đời hoặc chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp”( ).
Ngoài ra có thể kể đến công trình nghiên cứu của tập thể các tác giả Viện
Khoa Học Giáo Dục( ), đã nghiên cứu về xu hướng chọn nghề, dự định nghề
nghiệp của học sinh THPT. Trong nghiên cứu này các tác giả cho biết: Đa số
học sinh có xu hướng đạt trình độ học vấn đại học trước khi đi vào lao động. Xu
hướng chọn nghề ở nam và nữ có sự khác nhau không chỉ ở lứa tuổi mà còn cả
đặc điểm giới tính quy định nữa. Từ hứng thú nghề nghiệp của nam và nữ các
tác giả đi đến tìm hiểu những yếu tố tác động đến sự hình thành xu hướng nghề
nghiệp của học sinh cấp III, để tìm hiểu xem những yếu tố nào tác động mạnh
nhất. Tuy nhiên trong công trình này các tac giả chưa đề cập đến thực trạng
nhận thức nghề của học sinh cũng như ảnh hưởng của nó đến sự lựa chọn nghề
của học sinh.
Nhiều công trình nghiên cứu của giáo sư Phạm Tất Dong đã xem xét rất sâu
sắc và kỹ lưỡng những vấn đề cơ bản về nội dung, phương pháp hướng nghiệp
cho học sinh. Điều này thể hiện qua rất nhiều bài viết cũng như các công trình
nghiên cứu như “Hứng thú trong công tác hướng nghiệp”, được đăng trên tạp

được luận chứng cho hệ thống GDHN trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Năm 2006, ông xuất bản cuốn sách: “Hoạt động giáo dục hướng
nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trường THPT. Cuốn sách đã trình bày một
cách có hệ thống về cơ sở lý luận cũng như vân đề tổ chức giáo dục trong nhà
trường THPT trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra con phải kể đến công trình nghiên cứu “Việc làm cho thanh niên,
giải pháp và chính sách”(tập 2-Chương trình Chính sách thế hệ trẻ) của hai tác
giả Phạm Nguyệt Lãng và Trần Anh về xu hướng nghề nghiệp của thanh niên,
học sinh THPT đã có những nhận xét rằng: thiếu niên, học sinh suy nghĩ về
nghề nghiệp rất muộn. Suy nghĩ đó thường hay thay đổi và thiếu ổn định.
Có thể nói rằng, ở Việt Nam cũng đã quan tâm nhiều đến lĩnh vực nghề
nghiệp. Những kết quả đó là tiền đề để tiếp tục nghiên cứu vấn đề này vào thời
điểm hiện nay, khi đất nước đang bước vào thời kì CNH-HĐH. Đã có nhiều tác
13
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
Lớp: K1A- TLGD


Học Viện Quản Lý Giáo Dục
Khóa luận tốt nghiệp
động đến xu hướng chọn nghề của các em học sinh. Trên cơ sở đó, chúng tôi
tiến hành đề tài “ Xu hướng chọn nghề của học sinh lớp 12 trường THPT Mỹ
Đức B-Hà nội” nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác hướng nghiệp
trong nhà trường THPT, góp phần vào sự phát triển đất nước.
II.CÁC KHÁI NIỆM VÀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN.
2.1.Xu hướng:
2.1.1. Khái niệm xu hướng: : Xu hướng là một khái niệm tâm lý học khá phức
tạp và có khá nhiều cách tiếp cận cũng như cách hiểu khác nhau.
Theo đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nxb Văn hoá thông
tin(1998) thì xu hướng là: Hướng đi tới, thể hiện khá rõ thực chất của nó. Ví dụ:

ra cho mình những mục tiêu và viễn cảnh khác nhau, có thái độ lựa chọn khác
nhau vói những giá trị xã hội xung quanh. Xu hướng của mỗi người khác nhau là
khác nhau. Nhà Tâm lý học Liên Xô X.L.Rubinstein đã nói: “Vấn đề xu hướng
trước hết là câu hỏi về khuynh hướng thúc đẩy như là động cơ quy định hoạt động
của con người”.
Như vậy, xu hướng là ý định hướng tới đối tượng trong một thời gian lâu dài
nhằm thỏa mãn những nhu cầu hay hứng thú hoặc vươn tới những mục tiêu cao
đẹp mà cá nhân lấy làm lẽ sống của mình. [ ]
Xu hướng là sự xác định mục đích mà cá nhân hướng tới đồng thời xác định hệ
thống động cơ tương ứng với hoạt động của con người nhằm đạt mục đích. Xu
hướng của con người được biểu hiện ở những mặt sau:
* Nhu cầu: Là sự thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhânđối với haon cảnh,
là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển.[ ]
Đối tượng của nhu cầu hết sức đa dạng, phong phú. Nhu cầu vật chất gắn liền
với sự tồn tại của cơ thể như nhu cầu ăn, ở, mặc. Còn nhu cầu tinh thần gắn liền
với sự phát triển của cá nhân như nhu cầu nhận thức, lao động, giao tiếp, thẩm
mỹ...Đối tượng của nhu cầu cang được xác định cụ thể, ý nghĩa đối với đời sống xã
hội của các nhân và xã hội càng được nhận thức sâu sắc thì nhu cầu càng chóng nảy
sinh, củng cố và phát triển.
* Hứng thú: Là thái độ dặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó có ý nghĩa
trong đời sống vừa có khả năng mang lại khoái cảm.[ ]
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích

15

Lớp: K1A- TLGD


Học Viện Quản Lý Giáo Dục
Khóa luận tốt nghiệp


Lớp: K1A- TLGD


Học Viện Quản Lý Giáo Dục
2.2. Nghề nghiệp và định hướng giá trị nghề nghiệp.

Khóa luận tốt nghiệp

2.2.1. Nghề nghiệp và việc làm
Theo từ điển tiếng Pháp “nghề nghiệp” là “Profession”- là hoạt động thường
ngày được thực hiện bởi con người nhằm tự tạo nguồn thu nhập cần thiết để tồn tại.
Theo E.A Klimôp: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức mạnh vật chất và
tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công
lao động xã hội mà có). Nó tạo cho mỗi con người khả năng sử dụng phương tiện cần
thiết cho việc tồn tại và phát triển”.[ ]
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công
lao động trong xã hội. Nghề nghiệp là nghề để sinh sống và phục vụ xã hội. Có thể
thấy rằng, nghề nghiệp là một thuật ngữ để chỉ một hình thức lao độngtrong xã hội
theo sự phân công lao động mà con người sử dụng lao động của mình để tạo ra
những sản phẩm vật chất, tinh thần cho xã hội. Con người thông qua việ hành nghề
để duy trì sự tồn tại và phát triển của cuộc sống cá nhân, đồng thời góp phần xây
dựng đất nước.
Từ một số quan niệm về nghề nghiệp nêu trên, có thể hiểu một cách ngắn
gọn, nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào
tạo chuyên biệt, có những kiến thức, kỹ năng, kĩ xảo chuyên môn nhất định,
có phẩm chất, đạo đức phù hợp với yêu cầu của dạng lao động tương ứng.
Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sản phẩm thoả
mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của cá nhân và xã hội.
Bất kỳ một quốc gia nào cũng có hai loại nghề:Nghề được đào tạo và nghề

đòi hỏi của xã hội đối với nghề này hay nghề khác”.
GS. TS. Phạm Tất Dong, khái niệm hướng nghiệp đuợc hiểu: Hướng nghiệp được
coi là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh
trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân
tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản
xuất trong xã hội. [ ]
Như vậy có thể hiểu, hướng nghiệp là sự tác động của một tổ hợp các lực lượng xã
hội vào các em học sinh nhằm giúp các em các em làm quen và có sự hiểu biết về
một số ngành nghề phổ biến trong xã hội để khi tốt nghiệp ra trường, các em có thể
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích

18

Lớp: K1A- TLGD


Học Viện Quản Lý Giáo Dục
Khóa luận tốt nghiệp
lựa chọn cho mình một cách có ý thức nghề nghiệp tương lai.[ ]
2.3. Xu hướng nghề nghiệp và năng lực nghề nghiệp .
2.3.1. Xu hướng nghề nghiệp:
Có thể nói cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra một khái niệm cụ thể về xu
hướng nghề nghiệp. Cho nên khi nghiên cứu vấn đề này hầu hết các tác giả đều tiếp cận
các yếu tố cấu thành của xu hướng: Nhu cầu nghề nghiệp, động cơ nghề nghiệp, hứng
thú nghề nghiệp, lý tưởng nghề nghiệp, nguyện vọng nghề nghiệp...
* Nhu cầu và động cơ nghề nghiệp:
Chọn nghề đều có xuất phát điểm từ nhu cầu của cá nhân. Bởi chọn nghề là
chọn tương lai, cho nên khi xuất hiện nhu cầu chọn nghề sẽ tạo nên động cơ, đó là
những yếu tố nội tại đưa cá nhân tới những hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu. Tuy
nhiên cũng cần phải phân biệt giữa nhu cầu và ước muốn nghề nghiệp, ước muốn

đặc điểm tâm lý và sinh lý của con nguời với những yêu cầu do nghề đặt ra. Không có
sự tương ứng này thì con người không thể theo đuổi nghề được.[ ]
Như vậy, năng lực nghề nghiệp là một tập hợp các thuộc tính nhân cách tương đối
bền vững, được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động có liên quan tới nghề
nghiệp. Năng lực nghề nghiệp vốn không có sẵn trong con người, không phải là
những phẩm chất bẩm sinh. Nó hình thành và phát triển qua hoạt động học tập và hoạt
động lao động. Trong quá trình làm việc, năng lực tiếp tục phát triển hoàn thiện. ở
những người thất bại trong nghề nghiệp thì chính họ đã không đánh giá được mình
nên đã dẫn đến những sự lựa chọn sai lầm về đủ mọi phương diện.
2.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng chọn nghề của học sinh lớp 12
trường THPT Mỹ Đức B-Hà Nội.
2.4.1. Những đặc điểm cơ bản về tâm lý và nhân cách của học sinh THPT.
2.4.1.1. Đặc điểm hoạt động học tập:
Nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở thanh niên khác rất nhiều so với
hoạt động học tập ở thiếu niên. Học sinh càng trưởng thành, kinh nghiệm sống của
HS THPT càng trở nên phong phú, các em đã ý thức được rằng mình đang đứng
trước ngưỡng cửa cuộc đời. Do vậy thái độ có ý thức đối với học tập ngày càng phát
triển và trở nên có lựa chọn hơn đối với mỗi môn học. Ở các em, đã hình thành những
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích

20

Lớp: K1A- TLGD


Học Viện Quản Lý Giáo Dục
Khóa luận tốt nghiệp
hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp. Cuối bậc THPT các em đã
xác định được cho mình một hứng thú ổn định với một môn học nào đó, đối với một
lĩnh vực tri thức nhất định. Hứng thú này thường liên quan với việc lựa chọn một

Khóa luận tốt nghiệp
niên học sinh có thay đổi quan trọng. Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trìu
tượng một cách độc lập sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học ở trường.
Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn. Đồng thời tính phê phán
của tư duy cũng phát triển…Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho học sinh thực hiện
các thao tác tư duy toán học phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của các khái niệm trìu
tượng và nắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và trong xã hội…Đó là cơ sở
để hình thành thế giới quan.
Tuy vậy một số học sinh THPT đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như
trên còn chưa nhiều. Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy
nghĩ của bản thân. Như vậy, ở lứa tuổi này các em dễ mắc sai lầm trong việc chọn nghề.
Việc định hướng và giúp đỡ của giáo viên là hết sức cần thiết trong việc xác định cho
mình một nghề nghiệp phù hợp và đúng đắn cho bản thân.
2.4.1.3. Sự phát triển của tự ý thức (ý thức bản ngã)
Sự phát triển của tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách
của thanh niên. Nó là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều mức độ khác nhau. Ở tuổi
thanh niên quá trình phát triển ý tức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính chất đặc thù
riêng.
Đặc điểm quan trọng trong sự tự nhận thức của thanh niên là: Sự tự ý thức của họ
xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động – địa vị trong tập thể. Các em không
chỉ nhận thức cái tôi của mình mà còn nhận thức vị trí cuản mình trong xã hội, trong
tương lai.. Thanh niên có thể hiểu rõ mình ở những phẩm chất nhân cách bộc lộ rõ (lòng
yêu lao động, tính cần cù, dũng cảm…)Thanh niên còn có thể hiểu rõ những phẩm chất
phức tạp, biểu hiện những quan hệ nhiều mặt của nhân cách (tinh thần trách nhiệm, lòng
tự trọng, tình cảm, nghĩa vụ…).
Thanh niên không chỉ có nhu cầu đánh giá, mà còn có khả năng đánh giá sâu sắc
về những phẩm chất, mặt yếu của những người cùng sống và của chính mình. Nhưng
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích

22

quan. Họ có những quan niệm lệch lạc về lối sống do ảnh hưởng từ mặt trái của cơ chế
cơ chế thị trường, thích sống cuộc sống hưởng thụ, sống gấp, sống lại…học hành chểnh
mảng. trong khi cũng có những người sống khép mình, thiếu cởi mở…Chính điều này
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích

23

Lớp: K1A- TLGD


Học Viện Quản Lý Giáo Dục
Khóa luận tốt nghiệp
đã ảnh hưởng đến nhận thức cũng như cuộc sống của mỗi cá nhân, tác động đến sự lựa
chọn nghề nghiệp của các em.
2.4.1.5. Đời sống tình cảm:
Đời sống tình cảm của thanh niên học sinh rất phong phú. Đặc điểm đó được thể
hiện rõ nhất trong tình bạn của các em. Ở tuổi này nhu cầu về tình bạn tâm tình cá nhân
tăng lên rõ rệt. Các em có yêu cầu cao đối với tình bạn (yêu cầu sự chân thật, lòng vị
tha, tin tưởng, tôn trọng nhau và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau). Trong quan hệ bạn bè, các
em không chỉ có cảm xúc chân thành, mà còn có khả năng đáp ứng lại cảm xúc của
người khác.
Tình bạn của thanh niên học sinh rất vững bền. Nó có thể vượt qua mọi khó khăn
thử thách và kéo dài suốt cuộc đời. Quan hệ tình bạn khác giới được tích cực hóa một
cách rõ rệt, phạm vi quan hệ bạn bè được mở rộng. Bên cạnh nhóm thuần nhất, xuất
hiện nhiều nhóm pha trộn(cả nam và nữ). Ở một số em đã xuất hiện những cảm xúc
khác giới, nhu cầu chân chính về tình yêu. Đó là một trạng thái mới mẻ nhưng rất tự
nhiên trong đời sống tình cảm của thanh niên.[ ]
1.4.1.6. Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT.
Hoạt động lao động tập thể có vai trò to lớn trong sự hình thành nhân cách thanh
niên học sinh. Hoạt động lao động được tổ chức đúng đắn sẽ giúp các em hình thành

khác. Nguyên nhân này do đâu? Những yếu tố nào trong trường hợp này được cho là
quyết định đối với học sinh và có tác động nhất định đối với các em? Con người trong
hoạt động của mình tiếp nhận quyết định lựa chọn nghề, đặt trước bản thân mình mục
đích đánh giá giá trị của nghề. Nhưng phải thấy rằng trong sự phát triển như nhau về
kiến thức, việc dánh giá giá trị nghề nghiệp là khác nhau. Điều này phụ thuộc vào mức
độ tích cực hoạt động nhận thức của mỗi cá nhân và khả năng tiếp nhận các giá trị của
nghề.
Trong quá trình học sinh trung học phổ thông hình thành xu hướng nghề
nghiệp, họ đã gặp phải rất nhiều khó khăn bởi những tác động tiêu cực từ mặt trái của
cơ chế thị trường, do sự cản trở của dư luận xã hội... Cần phải khẳng định rằng, không
phải học sinh nào cũng chọn cho bản thân nghề mà mình yêu thích. Bởi vì việc lựa
chọn nghề nghiệp của học sinh là một hiện tượng xã hội cho nên nó chịu sự tác động
và chi phối đồng thời của nhiều yếu tố, các yếu tố cơ bản có thể kể đến là: gia đình
học sinh, bạn bè, công tác hướng nghiệp của nhà trường, các phương tiện thông tin
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích

25

Lớp: K1A- TLGD


Trích đoạn phù hợpvới sở thích Muốn bạn chọn nghề có thu nhập cao và dễ tìm việc sau khi tốt nghiệp E Để bạn tự chọn nghề. Không xác định được năng lực, hứng thú, sở thích của mình với công việc nào D Thích một lúc nhiều nghề.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status