SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TP.HỒ CHÍ MINH
XU HƯỚNG CHỌN NGHỀ CỦA HỌC
SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY VÀ CÁC GIẢI PHÁP
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP.
Chủ nhiệm đề tài : Th.S Nguyễn Ngọc Tài
TP.HỒ CHÍ MINH – THÁNG 8/2008
Báo cáo khoa học Phần I – Những vấn đề chungTrang 2
Thành viên tham gia đề tài :
Phú Nhuận.
BGH các trường THPT Củ Chi.
THPT Nguyễn Thò Minh Khai.
THPT Cần Thạnh.
THPT Gia Đònh.
THPT Mạc Đónh Chi.
THPT Nguyễn Hiền.
THPT Nguyễn Hữu Huân.
THPT DL Trương Vónh Ký.
THPT BC Marie-Curie.
Phân hiệu PT Trường CĐKT Lý Tự Trọng.
Và tất cả các GV, PHHS, HS tham gia điền phiếu khảo sát
đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi
hoàn thành đề tài này.
Tháng 8/2008
Chủ nhiệm đề tài
Th.S Nguyễn Ngọc Tài
Báo cáo khoa học Phần I – Những vấn đề chungTrang 4
DANH MUÏC VIEÁT TAÉT
Cán bộ quản lý CBQL
Cao đẳng CĐ
Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa CNH-HĐH
4-Đối tượng nghiên cứu 4
5-Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6-Nội dung nghiên cứu
7-Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận vấn đề 5
8-Phương thức sử dụng kết quả nghiên cứu 7
9-Các tác động của kết quả nghiên cứu
10-Cơ quan phối hợp chính 8
Phần II
: Cơ sở lý luận của đề tài 9
I-Cơ sở lý luận của đề tài 10
1-Các văn bản, nghò quyết
2-Các khái niệm cơ bản về hướng nghiệp và dạy nghề 12
3-Kinh nghiệm GDHN ở nhiều nước trên thế giới 15
II-Cơ sở thực tiễn của đề tài 32
1-Thống kê tuyển sinh CĐ-ĐH-TCCN năm 2003-2004-2005-2006
2-Các ngành nghề mới trong thế kỷ XXI 38
3-Dự thảo danh mục giáo dục, đào tạo cấp III (nhóm ngành) và cấp IV (ngành) 43
của Bộ GD−ĐT (25/5/2005)
Phần III
: Trình bày kết quả khảo sát 59
I-Kết quả khảo sát HS tại các trường THCS-THPT 60
II-Kết quả khảo sát PHHS tại các trường THCS-THPT 72
III-Kết quả khảo sát GV tại các trường THCS-THPT 79
Phần IV
: Các giải pháp 87
I-Giải pháp vi mô trong hướng nghiệp đối với HS 88
II-Giải pháp vi mô về sự hỗ trợ của các Trung tâm Tư vấn Giáo dục & 96
các Cơ quan Truyền thông Đại chúng đối với việc hướng nghiệp của HS
III-Chương trình khung và các chuyên đề lồng ghép trong GDHN 112
ở các trường phổ thông
THPT cần phải GDHN và định hướng nghề cho HS. Trên tinh thần đó nhóm nghiên
cứu đã đề xuất đề tài "Xu hướng chọn nghề của HS các trường THPT tại TP.Hồ
Chí Minh hiện nay và các giải pháp GDHN".
2/ Mục tiêu của đề tài
:
Tìm hiểu thực trạng xu hướng chọn nghề của HS trong vài năm nay từ đó đề
xuất triển khai thí điểm một số giải pháp GDHN một cách tích cực, năng động hơn
trong các trường trung học (từ lớp 8-9 đến các lớp 10-12), nhằm giúp HS có nhận
thức đúng về ý nghĩa của lao động nghề nghiệp (Mọi nghề điều cần thiết cho xã hội
và giá trị
nghề nghiệp được xác định bởi sự đóng góp tích cực của bản thân và nhu
cầu của xã hội) từ đó xác định được phương hướng lựa chọn nghề nghiệp thích hợp
cho mình.
3/ Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
:
a) Tình hình nghiên cứu trong nước
:
Để tiến tới CNH-HĐH đất nước thì nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực là một yếu
tố cơ bản. Việc định hướng chọn nghề cho HS là một việc làm không thể thiếu ở các
cấp quản lý giáo dục. Hiện nay đã có một số đề tài liên quan đến vấn đề chọn nghề
của HS như : quản lý, hướng nghiệp, giới thiệu các ngành nghề đào tạ
o của các
trường ĐH-CĐ-TCCN
Báo cáo khoa học Phần I – Những vấn đề chungTrang 8
b) Tình hình nghiên cứu ngoài nước
:
– Nghiên cứu qui mô đào tạo của một số nước đã trải qua thời kỳ CNH-
Trang 9
5. Giải pháp huấn luyện nghề cho thanh niên HS nghỉ học ở nông thôn một
số tỉnh phía Nam bằng modun nghề nghiệp – Chủ nhiệm đề tài PGS-TS Đào Trọng
Hùng.
Tình trạng đề tài : mới
⌧ Kế tiếp đề tài đã kết thúc giai đoạn trước.
4/ Đối tượng nghiên cứu
:
– Chủ thể nghiên cứu : Nghiên cứu xu hướng chọn nghề của HS THPT.
– Khách thể nghiên cứu : HS, PHHS, CBQL và GV.
5/ Giới hạn phạm vi nghiên cứu
:
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ở 10 trường THPT tại nội ngoại thành TP.Hồ
Chí Minh, với các loại hình trường là công lập, dân lập, bán công và phân hiệu của
Trường CĐ Kỹ thuật.
6/ Nội dung nghiên cứu
:
Các nội dung nghiên cứu chủ yếu :
− Nghiên cứu lý luận về việc phân luồng HS sau THCS và THPT vào các
cơ sở dạy nghề ở TP.Hồ Chí Minh; sự thích ứng khả năng và sở thích của HS theo 6
nhóm nghề diện rộng; qui mô đào tạo nguồn nhân lực (ĐH-CĐ-TCCN) nhằm đáp
ứng nhu cầu CNH-HĐH ở TP.Hồ Chí Minh.
− Đánh giá thực trạng xu hướng chọn nghề của HS trong nhiều n
ăm gần
đây. Phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó trong một số bộ phận HS; tổng kết
kinh nghiệm trong công tác tư vấn hướng nghiệp cho HS.
− Đề xuất một số giải pháp GDHN trong HS ở các trường trung học bao
gồm :
+ Xác định nội dung giáo dục.
Chúng tôi tiến hành khảo sát ở 10 trường THPT tại ngoại thành và nội thành
TP.Hồ Chí Minh :
1. Trường THPT Nguyễn Hiền-Quận 11-TP.Hồ Chí Minh.
Báo cáo khoa học Phần I – Những vấn đề chungTrang 11
2. Trường THPT Củ Chi-Huyện Củ Chi-TP.Hồ Chí Minh.
3. Trường THPT Dân lập Trương Vĩnh Ký-Quận Tân Bình-TP.Hồ Chí
Minh.
4. Trường THPT Cần Thạnh-Huyện Cần Giờ-TP.Hồ Chí Minh.
5. Trường THPT Gia Định-Quận Bình Thạnh-TP.Hồ Chí Minh.
6. Trường THPT Mạc Đỉnh Chi-Quận 6-TP.Hồ Chí Minh.
7. Trường THPT Bán công Marie Curie-Quận 3-TP.Hồ Chí Minh.
8. Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai-Quận 3-TP.Hồ Chí Minh.
9. Trường THPT Nguy
ễn Hữu Huân-Quận Thủ Đức-TP.Hồ Chí Minh.
10. Phân hiệu Phổ thông Trường CĐ Kỹ thuật Lý Tự Trọng-Quận Tân Bình-
TP.Hồ Chí Minh.
+ Phiếu khảo sát MO1 : Chúng tôi đã khảo sát 987 HS để tìm hiểu thực
trạng xu hướng chọn nghề của HS hiện nay.
+ Phiếu khảo sát MO2 : Chúng tôi khảo sát quan niệm GDHN của 427
CBQL và GV ở 10 trường, trong đó được chia ra như sau :
167 thầy chiếm 40.2% mẫu khảo sát.
248 cô chiếm 59.8% mẫu khảo sát.
+ Phiếu khảo sát MO3 : Chúng tôi khảo sát trên 936 PHHS có con em
đang học THPT tại TP.Hồ Chí Minh về động cơ lựa chọn nghề nghiệp cho HS.
− Nghiên cứu xây dựng chương trình khung GDHN cho nhóm đối tượng
HS khác nhau.
+ Tổ chức hội thảo về xu hướng chọn nghề của HS và các giải pháp khắc
HS.
9/ Các tác động của kết quả nghiên cứu
:
− Bồi dưỡng, đào tạo cán bộ KH&CN : Các cán bộ ở Sở GD-ĐT, các
Phòng GD-ĐT, GV các trường THCS-THPT sẽ được trang bị kiến thức về giáo dục
nghề nghiệp có định hướng cho HS tốt hơn.
Báo cáo khoa học Phần I – Những vấn đề chungTrang 13
− Đối với lĩnh vực khoa học có liên quan : Đề tài góp phần vào việc định
hướng nghề nghiệp cho HS, khắc phục sự mất cân đối trong đào tạo nguồn nhân lực
phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Báo cáo khoa học Phần I – Những vấn đề chungTrang 14
− Đối với kinh tế-xã hội :
+ Hiệu quả kinh tế : Nhờ có định hướng nghề nghiệp nên HS và PHHS
không bị lãng phí tiền bạc, sức lực, thời gian khi chọn sai nghề nghiệp.
+ Hiệu quả xã hội : Giúp Bộ GD-ĐT có nhiều thuận lợi trong công tác
tuyển sinh hằng năm. Giúp xã hội có đủ nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH-
HĐH đất nước. Giúp cho SV Khoa Giáo dục h
ọc Trường ĐH KHXH & NV TP.Hồ
Chí Minh trong học tập.
− Khác : Các cán bộ tư vấn tại các trung tâm tư vấn, tổng đài 1088 sẽ có
kinh nghiệm được học hỏi qua đề tài, để góp phần tư vấn cho khách hàng trong việc
chọn nghề, định hướng nghề nghiệp cho HS.
10/ Cơ quan phối hợp chính
:
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục họ
c lên
hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Giáo dục tiểu học nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng
cơ bản để HS tiếp tục học THCS.
3. Giáo dục THCS nhằm giúp HS cũng cố và phát triển những kết quả
của
giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu
về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào
cuộc sống lao động.
4. Giáo dục THPT nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của
giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và nhữ
ng hiểu biết thông thường về kỹ
thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng
phát triển tiếp tục học ĐH, CĐ, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Điều 28 : Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông.
1. Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bả
n, toàn
diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm lý
lứa tuổi của HS, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.
Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho HS có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự
nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có
Báo cáo khoa học Phần II – Cơ sở lý luận của đề tàiTrang 11
thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm
nhạc, mỹ thuật.
Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học,
Trang 12
trung sức mạnh xây dựng một trường ĐH đạt đẳng cấp quốc tế, đào tạo nhân tài cho
đất nước".
2/ Các khái niệm cơ bản về hướng nghiệp và dạy nghề
:
a) Nhận thức của HS với nghề nghiệp
:
HS ở các lứa tuổi khác nhau có những nhận thức ở những mức độ khác nhau.
Đối với lĩnh vực nghề nghiệp thì sự hiểu biết của HS rất ít.
Khi nhận thức về nghề một số HS có thể phân tích theo năng lực tri thức, kỹ
năng nhưng vẫn có một số em bị bên ngoài tác động như bạn bè, cha mẹ Một số thì
do cảm tính, hứng thú xuất hiện m
ột cách ngẫu nhiên. Một số HS muốn học lên ĐH,
muốn đi học nghề cho thấy những nhận thức đó cũng là điều tự nhiên phù hợp với
tâm lý lứa tuổi, có nhận thức về nghề nghiệp chưa ổn định, chưa chắc chắn.
Sự hình thành nhận thức nghề nghiệp ở HS phổ thông có thể do nhiều nguyên
nhân, nhưng theo con đường nào cũng phải tạ
o cho các em được niềm tin – Khi được
giới thiệu một nghề nào đó, nếu được chú ý các em sẽ hỏi về tác dụng của nghề trong
nền kinh tế-xã hội, quá trình hành nghề gặp khó khăn, thuận lợi gì? Những em thiết
tha sẽ mong muốn có tài liệu giới thiệu về nghề để đọc thêm. Niềm tin với một nghề
còn phụ thuộc vào sự hiểu biết về xã hội mới, về quan ni
ệm giữa cống hiến và hưởng
thụ, về địa điểm làm việc Những vấn đề này, đòi hỏi nhà trường phải cung cấp cho
HS nhiều thông tin liên quan đến nghề nghiệp có trong địa phương, trong tỉnh, trong
nước, trong khu vực và trên thế giới.
b) Hướng nghiệp
:
được đề cập đến đó là sự hứng thú. Hứng thú là một xu
hướng nhận thức tích cực của con người trước một đối tượng nào đó. Hứng thú là
một động lực quan trọng, thiếu hứng thú cuộc sống sẽ trở nên buồn chán. Hứng thú
tạo nên niềm vui, say mê công việc
Vì vậy nếu muốn HS hứng thú với nghề thì phải tổ chức được những hình thức
h
ướng nghiệp mang sắc thái hấp dẫn phù hợp với tâm lý lứa tuổi, phù hợp địa lý, môi
trường, tính cách của HS thì mới đạt hiệu quả cao. Trong quá trình hướng nghiệp cần
tạo ra những sự kiện, hiện tượng, hoạt động làm tăng hứng thú của HS với thế giới
nghề nghiệp.
c) Phân loại nghề :
Các nhà khoa học Phạm Tất Dong, Nguyễn Thế Trường đưa ra cách phân
loại nghề theo yêu cầu của nghề đối với người lao động, như các nghề thuộc lĩnh vực
như sau :
Báo cáo khoa học Phần II – Cơ sở lý luận của đề tàiTrang 14
– Những nghề thuộc lĩnh vực hành chính.
– Những nghề thuộc lĩnh vực tiếp xúc với con người.
– Những nghề thợ thủ công.
– Những nghề trong lĩnh vực kỹ thuật.
– Những nghề trong lĩnh vực văn học nghệ thuật.
– Những nghề thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
– Những ngh
ề tiếp xúc với thiên nhiên.
– Những nghề có điều kiện lao động đặc biệt.
d) Công thức nghề
:
Công thức nghề được dựa trên 4 dấu hiệu cơ bản là :
Miền chọn nghề một cách tối ưuMiền chọn nghề một cách tối ưu
Tôi muốn
(hứng thú)
Tôi có thể
(năng lực)
Tôi phải
(nhu cầu xã hội)
Tôi muốn
(hứng thú)
Tôi có thể
(năng lực)
Tôi phải
(nhu cầu xã hội)
Tôi muốn
(hứng thú)
Tôi có thể
(năng lực)
Tôi muốn
(hứng thú)
Tôi có thể
(năng lực)
Tôi phải
(nhu cầu xã hội)
f) Miền chọn nghề tối ưu :
Miền chọn nghề tối ưu cần thỏa mãn 3 điều kiện là : Phù hợp với hứng thú của
cá nhân, phù hợp với năng lực của bản thân, phù hợp với yêu cầu phát triển sản xuất
của xã hội.
Điều kiện chọn nghề tối ưu
3/ Kinh nghiệm GDHN ở nhiều nước trên thế giới :
GDHN và đào tạo nhân lực tồn tại như một hệ thống sản xuầt hàng đầu của xã hội, là
máy cái của mọi guồng máy sản xuất. Dễ thấy rằng, sự tồn tại và mục đích của
GDHN trong quá trình đào tạo nhân lực là do nhu cầu của toàn bộ các hệ th
ống sản
xuất khác, đơn giản vì hệ thống nào cũng cần có những con người hữu ích.
− Họ coi việc GDHN cho giới trẻ là một khởi đầu có tính chiến lược, là
một nền tảng cho sự đón đầu các cơ hội, và sự đối đầu mọi thách thức của phát triển.
Bởi vì, GDHN là công việc trực tiếp chuẩn bị nhân lực hôm nay và ngày mai, trong
đó con người là yế
u tố căn bản và cũng là tài nguyên căn bản cho mọi sự đầu tư và
phát triển của toàn xã hội.
− Họ không quan niệm GDHN là giai đoạn sau của giáo dục phổ thông
(học chữ xong mới hướng nghiệp, hoặc là học chữ xong mới học nghề!). Trái lại, họ
xác định GDHN song hành với giáo dục phổ thông và không phải kết thúc sau thi cử.
GDHN còn kéo dài mãi đến cuối đời. Khi đã có nghề
, lập nghiệp và hành nghề,
người lao động "có học" vẫn phải là người còn trăn trở với những yêu cầu của
hướng nghiệp trong chính công việc mình đang làm.
− Từ đó, họ vạch rõ một tầm nhìn, một nhân sinh quan trong GDHN :
Hướng nghiệp không chỉ là việc chuẩn bị cho nghề nghiệp, việc làm và mưu sinh.
Điều căn bản và có giá trị nhất của hướng nghiệp nằm
ở chỗ : hình thành nhân cách
cho người lao động tương lai của đất nước. Tại đó, người lao động cần thấm nhuần
một định hướng : các giá trị nghề lương thiện và giá trị người chân chính phải
được song hành với nhau trong suốt cuộc đời tác nghiệp.
Báo cáo khoa học Phần II – Cơ sở lý luận của đề tàiTrang 17
Bốn vấn đề nói trên từ lâu đã được các quốc gia như Thụy Điển, Đan Mạch, Hà
không gian thường là một trở ngại khó vượt đối với dân nghèo đi học, dù đó là nghề
được ham thích.
Báo cáo khoa học Phần II – Cơ sở lý luận của đề tàiTrang 18
− Hoàn cảnh thời gian : Nếu chọn nghề hợp với mình nhưng thời gian
đào tạo quá lâu, không có điều kiện dứt ra được để đeo bám suồt nhiều năm liên tục,
cuối cùng có thể phải bỏ ngang, rất lãng phí!
− Điều kiện về chính trị-xã hội : Chẳng hạn, không phải ai thích nghề
cảnh sát cũng được chọn vào ngành công an. Bởi vì, những ngành nghề như công an,
tình báo phải được sàng lọc từ đầu về lý lịch gia đình, quan hệ cá nhân
Tóm lại, việc lựa chọn ngành nghề đối với HS là một bài toán có rất nhiều
tham số. Ngay trong mỗi tham số cũng có nhiều biến số. Chẳng hạn, "tham số" đặc
điểm cá nhân có ít nhất 4 "biến số": năng lực, tính cách, giới tính, sức khỏe Bởi
vậy, trong quá trình GDHN, HS rất cần được tư vấn từ nhi
ều nguồn, nhất là từ các tổ
chức tư vấn chuyên nghiệp, để HS không chọn lầm nghề. Nếu làm tốt, đó là sự phối
hợp thiết thực và hiệu quả giữa nhà trường và xã hội đối với quốc sách chuẩn bị nhân
lực cho tương lai.
c) Một tổ chức xã hội phối hợp với Bộ Giáo dục chăm lo GDHN cho HS
:
Qua thử thách hàng chục năm, thấy được lợi ích của triết lý đào tạo nhân lực
nói trên, nhiều quốc gia phát triển đã vận dụng tinh thần đó bằng cách mở rộng phạm
vi phối hợp tác động trên bình diện xã hội. Bởi thế, tại nhiều nước như Canada, Mỹ,
Úc, Anh, Áo đã thành lập những ủy ban tư vấn, như Ủy ban về kỹ năng của lực
lượng lao động (CSW−Commission on the Skills of the Workforce). Họ xác định
rằng, việc GDHN không thể bó hẹp trong phạm vi nhà trường hay gia đình. Vì nó
liên quan trực tiếp đến lao động xã hội, nên một tổ chức như thế phải tập hợp được trí
tuệ của nhiều nguồn lực xã hội, nhằm tham mưu cho sự liên kết giữa nhà trường và
và lập nghiệp. Ví dụ, có thể phân tích giá trị
cơ bản của việc hướng nghiệp không phải ở chuyện thi cử và việc làm, cũng không
phải chuyện lập nghiệp và mưu sinh. Cái chủ yếu là ở bản lĩnh dấn thân để biến mình
thành người hữu ích thông qua nghề nghệp mà mình theo đuổi. Giá trị đích thực của
hướng nghiệp nằm ở chỗ đó −
ở thực chất, thay vì danh nghĩa.
d) Tạo môi trường thuận lợi cho HS thâm nhập và thử vai nghề nghiệp
:
Ủy ban CSW không chỉ đóng vai trò cố vấn, tham vấn, còn là một cơ quan
quyền lực, có ảnh hưởng đến các chiến lược đào tạo, chi phối các hoạch định về
chương trình, nội dung, phương pháp và tổ chức GDHN trong nhà trường. Nhờ vậy,
ở những nước có ủy ban CSW luôn luôn tạo được thế chủ động phối hợp GDHN
trong các trường với ngoài xã hội, nhất là với các cơ sở sản xuấ
t và kinh doanh. Theo
đó, trong một ngày hay một tuần, người học có dịp được thực hành qua nhiều vai :
vừa là HS, vừa là người thợ, vừa tập sản xuất, vừa thử kinh doanh ; có khi nhập vai
nhà quản lý, người chủ xí nghiệp để đưa ra những ý tưởng điều hành Cũng có khi
đóng vai nột chính khách (nhà lãnh đạo, vị dân biểu ) đứng ra vận động hành lang