Ảnh hưởng của giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường đến việc lựa chọn ngành nghề của học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HOC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HUYỀN ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG
NHÀ TRƯỜNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN NGÀNH NGHỀ
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC HÀ NỘI - 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HOC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HUYỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG

GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
GDHN
Giáo dục hƣớng nghiệp
HS
Học sinh
THPT
Trung học phổ thông
THCS
Trung học cơ sở
THCN
Trung học chuyên nghiệp
UBND
Ủy ban nhân dân 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn 7
2.1. Ý nghĩa khoa học 7
2.2. Ý nghĩa thực tiễn 7
3. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của đề tài. 8
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu. 8
3.2. Khách thể nghiên cứu. 8
3.3 Phạm vi nghiên cứu: 8

1.4. Cơ sở lý luận 29
1.4.1. Thuyết lựa chọn duy lý 29
1.4.2. Lý thuyết hành động xã hội 30
1.4.3. Lý thuyết xã hội hóa 31
1.4.4. Lý thuyết vai trò 32
1.4.5. Lý thuyết mạng xã hội 33
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP TẠI TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 34
2.1 Một số vấn đề phổ biến công tác hƣớng nghiệp trong trƣờng phổ thông 34
2.1.1. Thời điểm học sinh đƣợc giáo dục hƣớng nghiệp 34
2.1.2. Thời gian dành cho GDHN trong nhà trƣờng 36
2.2. Mục đích của hoạt động GDHN trong trƣờng THPT 37
2.3. Nội dung của GDHN trong trƣờng THPT 40
2.4. Hình thức của GDHN trong trƣờng THPT 43
2.4.1. Hình thức giáo dục hƣớng nghiệp qua việc lồng ghép vào các môn học 44
2.4.2. Giáo dục hƣớng nghiệp thông qua các buổi sinh hoạt lớp 48
2.4.3. Giáo dục hƣớng nghiệp thông qua các hoạt động của Đoàn thanh niên 49
2.4.4. Giáo dục hƣớng nghiệp thông qua các buổi tập trung toàn trƣờng 50
2.4.5. Giáo dục hƣớng nghiệp thông qua các buổi sinh hoạt ngoại khoá 51
2.4.6. Giáo dục hƣớng nghiệp thông qua các giờ học nghề 51

3
2.5. Thái độ và hành vi của học sinh THPT khi tham gia vào các giờ học
hƣớng nghiệp 53
2.5.1 Thái độ của học sinh khi tham gia vào hoạt động GDHN 53
2.5.2. Về hành vi tham gia của học sinh vào hoạt động hƣớng nghiệp
của nhà trƣờng 57
Chƣơng 3. TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP TỚI XU
HƢỚNG LỰA CHỌN NGÀNH NGHỀ CỦA HỌC SINH THPT 59
3.1. Đánh giá của học sinh về mức độ quan trọng của GDHN 59

Bảng 3.2: Những vấn đề HS THPT có nhu cầu và hứng thú 66
Bảng 3.3: Dự định của HS sau khi tốt nghiệp THPT 68
Bảng 3.4 : Xu hƣớng lựa chọn ngành nghề của học sinh 71
sau khi tốt nghiệp THPT 71
Bảng 3.5: Xu hƣớng lựa chọn ngành nghề của học sinh sau khi tốt nghiệp
THPT phân theo giới tính 73
Bảng 3.6: Các kênh thông tin giúp HS có đƣợc định hƣớng lựa chọn ngành nghề 78
Bảng 3.7: Yếu tố quan trọng giúp học sinh có đƣợc lựa chọn ngành nghề 79
Bảng 3.8: Tƣơng quan giữa nghề nghiệp của bố mẹ và đánh giá của học sinh
về mức độ ảnh hƣởng của GDHN đến lựa chọn ngành nghề 83
Bảng 3.9: Tƣơng quan giữa địa bàn cƣ trú và đánh giá của học sinh về mức độ
ảnh hƣởng của GDHN đối với lựa chọn ngành nghề 85
Bảng 3.10: Tƣơng quan giữa năm học và đánh giá của học sinh về mức độ ảnh
hƣởng của GDHN đối với lựa chọn ngành nghề 86
Bảng 3.11: Tƣơng quan giữa kết quả học tập và đánh giá của học sinh về mức
độ ảnh hƣởng của GDHN đối với lựa chọn ngành nghề 87 5
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 2.1: Thời điểm học sinh đƣợc GDHN trong nhà trƣờng 34
Biểu đồ 2.2: Thời gian dành cho giáo dục hƣớng nghiệp ở trƣờng trong một tuần 36
Biểu đồ 2.3: Mục đích của hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp trong trƣờng
trung học phổ thông 37
Biểu đồ 2.4: Các hình thức giáo dục hƣớng nghiệp trong trƣờng phổ thông 43
Biểu đồ 2.5: GDHN thông qua các bộ môn khoa học 44
Biểu đồ 2.6: Đánh giá của học sinh về hiệu quả của hoạt động hƣớng nghiệp
trong trƣờng THPT 55
Biểu đồ 3.1: Kì vọng của học sinh vào hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp của
nhà trƣờng 59

Cụ thể sau khi tốt nghiệp THPT hầu hết HS lựa chọn con đƣờng thi đại học,
cao đẳng thay vì đi học trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề, rất nhiều em cho
rằng để có cuộc sống ổn định, một nghề nghiệp chính thức, thu nhập cao phải bằng
con đƣờng học thức, phải thi đỗ đại học, coi “đại học là con đƣờng duy nhất để lập
nghiệp” cho dù năng lực có hạn vẫn cố thi ĐH, thậm chí thi đến ba, bốn năm mới
đỗ trong khi xã hội còn đang thiếu đội ngũ công nhân có chuyên môn cao. Ngoài ra,
khi lựa chọn nghề nghiệp học sinh có xu hƣớng lựa chọn ngành nghề chủ yếu dựa
vào giá trị nghề nghiệp tức là những ngành tạo thu nhập cao và dễ xin việc mà
không quan tâm đến những ngành nghề đang thiếu nguồn nhân lực. Hậu quả để lại
rất nhiều sinh viên ra trƣờng bị thất nghiệp hoặc làm trái nghề “Theo điều tra của
Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2011, cả nước có tới 63% sinh viên tốt nghiệp ĐH-

7
CĐ ra trường không có việc làm, 37% có việc làm nhưng nhiều sinh viên phải làm
trái nghề hoặc phải qua đào tạo lại”[28] đồng thời nó cũng gây mất cân bằng
trong đào tạo và cơ cấu lao động đòi hỏi Nhà nƣớc phải có những điều chỉnh và
khắc phục. Có thể lí giải điều đó bằng nhiều lí do khác nhau nhƣ: do mạng lƣới đào
tạo đại học ngày càng mở rộng khiến học sinh có nhiều cơ hội hay do chất lƣợng
đào tạo đại học chƣa cao mặt khác với tâm lí trọng bằng cấp của các bậc phụ huynh
đã ảnh hƣởng phần nào đến học sinh và điều quan trọng hơn cả là do hiệu quả của
hoạt động GDHN trong trƣờng chƣa cao.
Nhƣ vậy, công tác giáo dục hƣớng nghiệp (GDHN) cho học sinh trong nhà
trƣờng là một giải pháp quan trọng ảnh hƣởng không nhỏ đến định hƣớng nghề
nghiệp cho các em học sinh từ giai đoạn sớm để sau này các em có sự lựa chọn
đúng đắn.
Chính vì lý do trên đã gợi mở cho chúng tôi thực hiện đề tài "Ảnh hưởng
của giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường đến việc lựa chọn ngành nghề của
học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp tại
Trường THPT Yên Hoà và Trường THPT Cao Bá Quát Hà Nội) để qua đó đƣa ra
khuyến nghị và giải pháp giúp hoạt động hƣớng nghiệp đạt hiệu quả cao hơn.

- Thời gian: Từ tháng 8/2011 - Tháng 1/2013
4. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài ảnh hƣởng của GDHN trong nhà trƣờng đến lựa chọn
ngành nghề của HS THPT tại Hà Nội hiện nay nhằm tìm hiểu mức độ ảnh hƣởng
của GDHN đến xu hƣớng lựa chọn ngành nghề của HS. Từ đó, đề tài góp phần đƣa
ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDHN đồng thời giúp HS THPT có cái
nhìn đúng đắn hơn trong lựa chọn ngành nghề.
5. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu thực trạng giáo dục hƣớng nghiệp ở một số trƣờng THPT trên địa
bàn Hà Nội.
- Tìm hiểu nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của GDHN
- Tìm hiểu xu hƣớng lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT hiện nay.
- Tìm hiểu mức độ ảnh hƣởng của GDHN trong nhà trƣờng đến lựa chọn
ngành nghề cho tƣơng lai học sinh.
- Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả GDHN

9
trong trƣờng THPT.
6. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng GDHN ở các trƣờng THPT trên địa bàn Hà Nội đang diễn ra
nhƣ thế nào?
- Học sinh đánh giá nhƣ thế nào về vai trò GDHN của nhà trƣờng?
- Sau khi tốt nghiệp học sinh có xu hƣớng lựa chọn ngành nghề gì? Lí do
chính khiến học sinh có lựa chọn nhƣ vậy?
- GDHN có ảnh hƣởng nhiều hay ít đến lựa chọn ngành nghề của học sinh?
Mức độ ảnh hƣởng của GDHN đến học sinh có cha mẹ làm nghề nghiệp khác nhau,
giữa học sinh nông thôn và thành thị, giữa HS lớp 10 và 12 khác nhau nhƣ thế nào?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
- GDHN đã đƣợc phổ biến rộng rãi đối với học sinh THPT, đƣợc triển khai

này thì việc đƣa ra những hoạch định, những chính sách cụ thể về giáo dục và đào
tạo con ngƣời là một yêu cầu cơ bản hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã
hội hiện nay.
7.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
Để có sự định hƣớng đúng cho tuổi trẻ khi lựa chọn nghề, khắc phục tình
trạng xuống cấp của giáo dục trong bƣớc đi ban đầu vào kinh tế thị trƣờng chúng ta
không thể để cho công tác hƣớng nghiệp bị coi nhẹ (nếu không nói là lãng quên)
trong giáo dục toàn diện hiện nay của các trƣờng phổ thông. Tình trạng trên đây đòi
hỏi phải làm sao cho hàng chục triệu HS ra trƣờng hàng năm đƣợc định hƣớng về
nghề nghiệp, đƣợc chuẩn bị về nhận thức, kỹ năng lao động cần thiết để chủ động đi
vào các lĩnh vực nghề nghiệp. Làm đƣợc điều đó, chúng ta mới có thể sử dụng hợp
lý nguồn nhân lực trẻ, gắn đƣợc trách nhiệm của ngƣời thanh niên với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mƣời năm trở lại đây, mạng lƣới các trƣờng Đại học,
Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp ( ĐH, CĐ, THCN) và dạy nghề có sự gia tăng
đột biến. Đây vừa là cơ may cho nhiều học sinh tốt nghiệp THPT nhƣng cũng tạo ra
những khó khăn trong việc phân luồng nguồn nhân lực này một cách hợp lý. Từ
thực tiễn của hoạt động giáo dục và đào tạo (GD & ĐT) trong mối quan hệ với phát
triển bền vững nền kinh tế xã hội, Đảng và nhà nƣớc ta đã có những chủ trƣơng kịp

11
thời và đúng đắn đối với giáo dục hƣớng nghiệp. Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản
Việt Nam lần thứ IX đã ghi rõ : Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng
học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp
phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương. [16].
Luật Giáo dục cũng đã khẳng định : Giáo dục trung học phổ thông nhằm
giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của trung học cơ sở, hoàn thiện
học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để
tiếp tục học ĐH, CĐ, THCN, học nghề và đi vào cuộc sống lao động [16]. Khoản 1
Điều 20 Bộ Luật lao động của nƣớc ta đã ghi: "Mọi người có quyền tự do chọn nghề
và học nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mình"

Chúng tôi đã tiến hành phát 368 phiếu trƣng cầu ý kiến, trong đó mỗi trƣờng là
184 phiếu. Kết quả chúng tôi đã thu lại đƣợc 350 phiếu với cơ cấu mẫu nhƣ sau:
 Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo tiêu chí giới tính
Giới tính
Số ngƣời
Tỷ lệ %
Nam
184
52.6
Nữ
166
47.4
 Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo tiêu chí năm học
Năm học
Số ngƣời
Tỷ lệ %
Lớp 10
175
50
Lớp 12
175
50
 Cơ cấu mẫu theo tiêu chí địa bàn cƣ trú
Địa bàn cƣ trú
Số ngƣời
Tỷ lệ %
Thành thị
175
50
Nông thôn

20.9
Kinh doanh
116
33.1
Nghề khác
20
5.7
Đề tài sử dụng các thông tin định lƣợng thu đƣợc từ bảng hỏi dƣới dạng
thông tin đã xử lý bằng chƣơng trình SPSS 16.0.
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Phỏng vấn sâu 16 ngƣời trong đó có 12 học sinh, 4 giáo viên và thông tin
phỏng vấn sâu mang tính chất định tính, tập trung vào các khía cạnh liên quan đến
hƣớng nghiệp cho HS THPT của nhà trƣờng.
7.2.4 Phương phát quan sát
Đối với HS lớp 10 chúng tôi tiến hành quan sát hoạt động GDHN thông qua
tiết sinh hoạt lớp để xem GDHN đạt hiệu quả nhƣ thế nào. Quan sát đƣợc diễn ra tại
2 lớp 10 Trƣờng THPT Yên Hoà và 2 lớp10 Trƣờng THPT Cao Bá Quát (mỗi lớp
quan sát 2 lần)
Đối với HS lớp 12: Chúng tôi tiến hành quan sát học sinh làm hồ sơ thi vào
các trƣờng Cao đẳng, Đại học. Quan sát diễn ra tại 3 lớp 12 Trƣờng THPT Yên Hoà
và 3 lớp12 Trƣờng THPT Cao Bá Quát (mỗi lớp quan sát 2 lần). Quá trình quan sát
cho chúng ta thấy xu hƣớng lựa chọn ngành học cũng nhƣ nghề sau khi tốt nghiệp
của học sinh THPT. Tham dự sinh hoạt có nội dung GDHN để thu đƣợc thông tin
về chƣơng trình GDHN. Trên cơ sở đó tiến hành ghi chép và hình thành phiếu trƣng
cầu ý kiến. Trong quá trình phỏng vấn quan sát thái độ ngƣời đƣợc phỏng vấn nhằm
đánh giá mức độ tin cậy của thông tin ngƣời đó trả lời.
7.2.5 Phương pháp thảo luận nhóm
Chúng tôi tổ chức hai thảo luận nhóm cho học sinh khối lớp 10 và12 tại hai
trƣờng vào thời điểm học sinh chuẩn bị làm hồ sơ thi vào các trƣờng ĐH, CĐ và


bè, truyền thông đại chúng
Điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội
Thực trạng GDHN ở trƣờng THPT
Xu hƣớng lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT

15
NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về vấn đề đƣợc nghiên cứu, chúng tôi sẽ
trình bày tóm tắt một số nghiên cứu, các bài viết, sách, tƣ liệu có liên quan đến quá
trình lựa chọn nghề nghiệp của học sinh.
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới:
Có thể nói, những tƣ tƣởng về định hƣớng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có
từ thời cổ đại, tuy nhiên ở dƣới dạng rất sơ khai và biểu hiện thông qua việc phân
chia, phân cấp lao động tuỳ thuộc vào địa vị và nguồn gốc xuất thân của mỗi ngƣời
trong xã hội. Điều này thể hiện rõ tính áp đặt của giai cấp thống trị và sự bất bình
đẳng trong phân công lao động xã hội. Đến thế kỷ XIX, khi nền sản xuất xã hội phát
triển cùng với những tƣ tƣởng tích cực về giải phóng con ngƣời trên khắp thế giới
thì khoa học hƣớng nghiệp mới thực sự trở thành một khoa học độc lập.
Cuốn sách “Hƣớng dẫn chọn nghề” xuất bản năm 1949 ở Pháp đƣợc xem là một
trong những cuốn sách đầu tiên nói về hƣớng nghiệp [11]. Nội dung cuốn sách đã đề
cập đến sự phát triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của
công nghiệp từ đó đã rút ra những kết luận coi GDHN là một vấn đề quan trọng không
thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển.
Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J.L. Holland đã nghiên cứu và thừa
nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp. Tác giả đã chỉ ra rằng,
tƣơng ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp là một số những nghề nghiệp mà cá
nhân có thể chọn để có đƣợc kết quả làm việc cao nhất. Lý thuyết này của J.L.

còn có sự tác động của anh chị em trong gia đình, bạn bè.
Michael Borchert [22], trên cơ sở khảo sát 325 học sinh trung học của trƣờng
Trung học Germantown, bang Wisconsin đã đƣa ra nhận xét: trong ba nhóm yếu tố
chính ảnh hƣởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp là: Môi trƣờng, cơ hội và đặc điểm
cá nhân thì nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân có ảnh hƣởng quan trọng nhất đến sự
chọn lựa nghề nghiệp của HS trung học.

17
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, giáo dục hƣớng nghiệp tuy đƣợc xếp ngang tầm quan trọng với
các mặt giáo dục khác nhƣ đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhƣng bản thân nó lại
rất non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất thiếu về lực lƣợng,
không mang tính chuyên nghiệp. Vì vậy, việc thực hiện không mang lại nhiều hiệu
quả. Vấn đề hƣớng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và đƣợc xã hội quan tâm khi nền
kinh tế đất nƣớc bƣớc sang cơ chế thị trƣờng với sự đa dạng của các ngành nghề và
nhu cầu rất lớn về chất lƣợng nguồn nhân lực.
Đảng và Nhà nƣớc ta cũng rất quan tâm đến công tác hƣớng nghiệp. Điều
này đƣợc thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết, văn kiện, các nguyên lý giáo dục của
Đảng và nhà nƣớc. Có thể lấy ví dụ nhƣ nghị định 126/CP ngày 19/03/1981 của
Chính phủ về công tác hƣớng nghiệp trong trƣờng phổ thông và việc sử dụng hợp lý
HS các cấp THCS và THPT tốt nghiệp ra trƣờng. Trong văn kiện Đại hội Đảng lần
thứ IX đã ghi rõ “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung
học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”.
Luật Giáo dục năm 2005 đã khẳng định: “Giáo dục THPT nhằm giúp cho học
sinh củng cố và phát triển những kết quả của THCS, hoàn thiện học vấn để tiếp tục
học đại học, cao đẳng, trung học nghề nhiệp, học nghề, và đi vào cuộc sống lao
động”. Chiến lƣợc phát triển giáo dục năm 2001 - 2010 đã xác định rõ: “Thực hiện
chƣơng trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho học sinh có học vấn phổ thông, cơ
bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực

kĩ thuật ở nhà trƣờng THPT trong điều kiện kinh tế thị trƣờng và sự nghiệp CNH -
HĐH đất nƣớc hiện nay. Trong thời gian gần đây, nhằm hiện thực hoá những
phƣơng hƣớng, mục tiêu mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra về GDHN
và phân luồng học sinh phổ thông, đã có rất nhiều những nghiên cứu về hƣớng
nghiệp ở nhiều cách tiếp cận khác nhau tạo nên một giai đoạn mới với sự đa dạng
trong nghiên cứu khoa học hƣớng nghiệp ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của giảng viên Khoa Tâm lý (Đại học Sƣ phạm Hà Nội)
đã rút ra kết luận: (1) Các hình thức hƣớng nghiệp trong nhà trƣờng phổ thông hiện

19
tại chƣa thực sự phong phú và đƣợc tổ chức thƣờng xuyên. Nhiều hình thức hấp
dẫn, có sức thuyết phục tốt nhƣ tham quan thực tế các cơ sở sản xuất địa phƣơng,
nghe các nghệ nhân nói chuyện về nghề … ít đƣợc thực hiện. (2) Nhu cầu tìm hiểu
nghề là nhu cầu chính đáng của học sinh, nhƣng khi tìm hiểu về nghề thì các em gặp
phải rất nhiều khó khăn nhƣ nhà trƣờng ít tổ chức hƣớng nghiệp, các nội dung
hƣớng nghiệp thực hiện không đồng bộ. (3). Do tác động của nhà trƣờng trong việc
hƣớng nghiệp chƣa cao nên các thông tin về nghề mà học sinh thu nhận đƣợc khi
chọn nghề phần lớn từ các kênh ngoài nhà trƣờng nhƣ từ cha mẹ, ngƣời thân, từ
những ngƣời đang làm trong nghề đó hay từ các sách báo hoặc phƣơng tiện thông
tin đại chúng khác.
Bài viết của tác giả Huỳnh Văn Sơn đƣợc đăng trên tạp chí Khoa học và
công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 2(43)2011 “Đánh giá của học sinh về hiệu quả của
hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông tỉnh
Bình Dương” đã nêu lên những đánh giá của học sinh về hiệu quả của các hoạt động
hƣớng nghiệp trong trƣờng phổ thông đồng thời lí giải nguyên nhân tại sao hoạt
động hƣớng nghiệp chƣa đạt hiệu quả cao. Từ đó, tác giả đƣa ra giải pháp nâng cao
chất lƣợng giáo dục hƣớng nghiệp.
Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu việc tổ chức tư vấn nghề cho sinh
viên trong trường đại học” của GS.TS Nguyễn Minh Thuyết và TS. Trịnh Văn
Tùng đề cập tới thực trạng nhận thức về hƣớng nghiệp và tƣ vấn nghề của sinh viên

Hà Nội : Trƣờng THPT Yên Hoà và Trƣờng THPT Cao Bá Quát. Hai trƣờng đƣợc
tác giả lựa chọn có lịch sử hình thành gần giống nhau và đại diện cho hai khu vực
khác nhau là khu vực nông thôn và khu vực thành thị.
1.2.1. Trường THPT Yên Hoà - Cầu giấy
 Địa chỉ: 251 Nguyễn Khang - Yên Hoà - Cầu Giấy - Hà Nội
 Lịch sử và thành tích của nhà trường
Trƣờng phổ thông cấp II – III Yên Hoà đƣợc thành lập năm 1960 , năm học
đầu tiên trƣờng chỉ có hai lớp 8 đến năm 1961, Trƣờng chính thức mang tên Trƣờng
phổ thông cấp III Yên Hoà.
Bƣớc vào những năm chống Mỹ cứu nƣớc đầy thử thách cẳng thẳng, giáo
viên và học sinh Yên Hoà đã nỗ lực thi đua “dạy tốt và học tốt” . Trong 5 năm liền

21
(1965 -1970), Trƣờng liên tục đƣợc công nhận là Trƣờng tiên tiến chống Mỹ cứu
nƣớc của Sở giáo dục Hà Nội. Ngoài ra, Trƣờng còn đƣợc nhận Bằng khen của Bộ
Giáo dục, uỷ ban nhân dân (UBND) Thành phố Hà Nội và của Thủ tƣớng Phạm
Văn Đồng.
Trong 10 năm (1975 – 1985), Trƣờng liên tiếp 3 lần đạt danh hiệu Trƣờng
tiên tiến xuất sắc, 2 lần đƣợc nhận Cờ thi đua luân lƣu của UBND Thành phố Hà
Nội. Đến 1990, Trƣờng vinh dự đƣợc Hội đồng Nhà nƣớc trao tặng Huân chƣơng
Lao động hạng Ba. Năm 1999, Trƣờng đƣợc tặng Huân chƣơng Lao động hạng Ba
lần thứ hai. Từ năm học 1992-1993 đến nay, Trƣờng liên tục giữ vững ngọn cờ tiên
tiến xuất sắc.
Năm học 2003-2004, cùng với 6 trƣờng trong Thành phố, trƣờng THPT Yên
Hoà đã thực hiện thí điểm phân ban lần 2.
Năm học 2005-2006, trƣờng THPT Yên Hoà đã vinh dự đƣợc Đảng và Nhà
nƣớc trao tặng Huân chƣơng Lao động hạng Nhì.
Với thành tích trên, trƣờng THPT Yên Hoà năm 2006 đã đƣợc Bộ GD&ĐT
xếp thứ 25/100 trƣờng THPT có chất lƣợng đào tạo tốt nhất toàn quốc. Năm 2007
trƣờng đứng thứ hạng cao của Hà Nội có điểm thi ĐH cao. Năm 2008, Trƣờng đứng

tập và làm theo tấm gƣơng đạo đức Hồ Chí Minh” (đƣợc Huyện ủy Gia Lâm tặng
giấy khen), “Xây dựng trƣờng học thân thiện, học sinh tích cực” (đƣợc Chủ tịch
UBND TP.Hà Nội tặng Bằng khen). “Mỗi thày cô giáo là một tấm gƣơng đạo đức,
tự học và sáng tạo” (đƣợc Giám đốc Sở GD & ĐT tặng Giấy khen). Từ đó, chất
lƣợng giáo dục, hoạt động phong trào, ngoài giờ của trƣờng không ngừng đƣợc
nâng cao và nhận đƣợc sự tín nhiệm của đông đảo phụ huynh, học sinh trên địa bàn.
Sau hơn 50 năm trƣởng thành và phát triển, thầy trò trƣờng THPT Cao Bá
Quát vô cùng tự hào vì đã đạt đƣợc nhiều thành tích đáng trân trọng: Nhiều năm
liên tiếp đƣợc công nhận là: Tập thể lao động xuất sắc, đƣợc UBND thành phố Hà
Nội, Bộ GD & ĐT, Thủ tƣớng Chính phủ tặng Bằng khen và đặc biệt trƣờng đã 2
lần vinh dự đƣợc Đảng và Nhà nƣớc tặng thƣởng Huân chƣơng Lao động (hạng Ba
năm 1976 và hạng Nhì năm 1983).
 Đội ngũ học sinh
Tổng số lớp: 38 lớp và tổng số học sinh: 1774


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status