PHẦN I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH.
1. 1. Khái niệm chung.
Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến "lịch sử hành chính Việt Nam". Đặc biệt Chính
phủ đã có những công trình nghiên cứu về lịch sử Chính phủ. Tuy nhiên, cần nhìn
nhận một cách chính xác hơn về cách tiếp cận để nghiên cứu lịch sử cũng như
những hoạt động cải cách hành chính nhà nước Việt Nam qua các giai đoạn khác
nhau.
Trước hết cần nhận thức đúng về thuật ngữ hành chính trên phương diện khoa học
hành chính để từ đó tiến hành nghiên cứu lịch sử hành chính Việt Nam cũng như
cải cách hành chính qua từng giai đoạn bao gồm những nội dung cơ bản gì.
Không ít tài liệu nghiên cứu lịch sử hành chính Việt Nam đã đề cập đến lịch sử của
hành chính từ những khi nhà nước Việt nam ra đời, bao gồm cả thời kỳ phong
kiến. Điều đó đã không nhận thức đúng bản chất của thuật ngữ hành chính dưới
giác độ khoa học hành chính.
Thuật ngữ hành chính "Administration" trên phương diện khoa học xuất hiện khi
hoạt động quản lý nhà nước bắt đầu có sự phân chia thành các nhóm quyền lực: lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Chính vì vậy, khoa học nghiên cứu việc sử dụng
quyền lực nhà nước đã có từ ngay khi có nhà nước ra đời và sử dụng quyền lực nhà
nước bởi những chủ thể khác nhau, nhưng trong thời kỳ phong kiến khái niệm
quyền lực và sử dụng quyền lực nhà nước mang tính tập quyền rất lớn. Hệ thống
pháp luật chưa hình thành và có "mần mống của pháp luật cũng chỉ là pháp luật do
1
một người đề ra để cai trị nhiều người”. Xét xử hay vận hành hệ thống đó cũng chỉ
tuân thủ theo nguyên tắc "vua là thiên tử". Chính vì vậy, nghiên cứu hành chính
của những thời kỳ phong kiến là một trong những xu hướng "nghiên cứu nhà nước
hơn là nghiên cứu hành chính”. Không ít công trình không phân biệt giữa hai phạm
trù “nhà nước – quản lý nhà nước” và hành chính như là một yếu tố cấu thành của
những nền tảng cơ bản để cho hệ thống này vận hành. Có thể nghiên cứu tập trung
vào các nhóm yếu tố:
- Thể chế hành chính.
- Tổ chức và hoạt động của hệ thống các tổ chức được gọi là cơ quan hành
chính nhà nước.
- Những vấn đề liên quan đến con người làm việc trong hệ thống các tổ chức
trên.
- Những yếu tố về quản lý và sử dụng nguồn lực trong cá tổ chức được gọi là
cơ quan hành chính nhà nước (trung ương và địa phương).
- Những phương pháp, cách thức các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng
để đạt được mục tiêu.
- Những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của hệ thống
các tổ chức trên.
- Khác.
Mục tiêu của đề tài này, không nghiên cứu cả các yếu tố trên trong giai đoạn lịch
sử của Việt nam từ 1945-2005. Vấn đề chủ yếu của nhóm nghiên cứu là tập trung
vào các dữ liệu có được để hình thành ra một bức tranh về hành chính nhà nước
3
Việt Nam qua các giai đoạn và các hoạt động cải cách hành chính chủ yếu gắn với
từng giai đoạn.
Nghiên cứu cải cách hành chính gắn liền vào từng giai đoạn nhưng không có điều
kiện để mô tả những nét lịch sử môi trường chính trị, kinh tế, văn hoá,.. trong đó
các tổ chức hành chính trung ương - địa phương tồn tại, vận động và phát triển. Đó
cũng có thể là một hạn chế.
Nghiên cứu cải cách hành chính qua các giai đoạn phát triển của nhà nước Việt
nam từ 19945 lại nay sẽ tập trung trên các nội dung chủ yếu các yếu tố cấu thành
hệ thống hành chính nhà nước theo tư duy của khoa học hành chính (cổ điển cũng
trung ương đến tận cơ sở với những quy định mang tính pháp luật (Hiến pháp,
lụât, pháp lệnh, sắc lệnh, nghị quyết, văn bản lập quy,...) về sự tồn tại, vận đồng và
phát triển của hệ thống các cơ quan đó. Về tổng thể thể chế hành chính, tuy theo
từng giai đoạn cụ thể cũng như điều kiện pháp luật của quốc gia, các loại thể chế
hành chính nhà nước được xác định từ văn bản pháp luật nhà nước cao nhất (đạo
luật gốc, cơ bản – hiến pháp) hay các văn bản khác. Ví dụ, trong điều kịên cụ thể
của Hiến pháp đầu tiên của VIệt nam, các thể chế hành chính nhà nước chưa được
xác định một cách chi tiết. Do đó, nhiều loại thể chế hành chính ra đời do các văn
bản pháp luật thấp hơn quy định và tuỳ theo từng thời kỳ có sự khác nhau. Có
những thể chế mới được thay thế, bổ sung bằng văn bản dưới luật, sắc lệnh,....
Nhiều nước, hiến pháp không quy định cụ thể về thể chế hành chính nhà nước tại
địa phương. Thay vào đó, hiến pháp quy định các loại thể chế đó do các văn bản
luật quy định.
5
Thể chế hành chính nhà nước trung ương (chính phủ, bộ,....) thường được ghi nhận
trong Hiến pháp (ví dụ Hiến pháp quy định chính phủ, thủ tướng bao nhiêu phó thủ
tướng, bao nhiêu bộ,...) nhưng cũng có nhiều nước, những quy định đó thông qua
luật hay văn bản nghị quyết kỳ họp (như cách làm của Việt Nam ).
Trong luật cũng có thể không quy định cụ thể về các loại thể chế hành chính. Sự ra
đời, bổ sung các thể chế hành chính mới là một đòi hỏi tất yếu của hoạt động quản
lý hành chính nhà nước. Trong nhiều văn bản luật của các nước, không quy định cụ
thể thể chế hành chính trung ương (bao nhiêu bộ) mà do một cơ chế chính phủ
(một đảng đa số hay liên minh- chính phủ liên hiệp) để đề nghị thể chế bộ (bao
nhiêu bộ). Đảng đa số (một đảng) thường có số thể chế bộ hạn chế hơn so với
chính phủ liên hợp nhiều đảng để có liên minh đa số.
Đối với chính quyền địa phương cũng tương tự. Hệ thống văn bản lập quy có thể
xác định các loại thể chế hành chính địa phương. Ví dụ, để có một thể chế mới về
như các cơ quan chuyên môn) sẽ phát hiện ra khá nhiều vấn đề về tổ chức và hoạt
động của các loại cơ quan đó: chồng chéo, trùng lắp, rõ ràng, không tương xứng
giữa các yếu tố.
Nghiên cứu các tổ chức hành chính (cơ quan hành chính) dưới giác độ của khoa
học tổ chức nhằm chỉ ra những sự sai lệch giữa khoa học, lý luận và thực tiễn của
tổ chức hoạt động của cơ quan hành chính.
7
Nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam đã chỉ ra rằng cách thức tổ chức và
hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước bị chi phối bởi nhiều yếu tố và
trong nhiều trường hợp không theo cơ sở của khoa học tổ chức.
Nghiên cứu cải cách về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
nhằm tìm ra mô hình hợp lý cho các cơ quan hành chính nhà nước và cách thức
tiến hành các hoạt động của chính các loại cơ quan này.
1.2.3. Vấn đề nhân sự, nguồn nhân lực trong các cơ quan hành chính nhà
nước.
Yếu tố quyết định hoạt động hiệu quả của hệ thống các cơ quan hành chính chính
là cách thức quản lý và sử dụng con người làm việc trong cơ quan hành chính nhà
nước.
Tổ chức hành chính nhà nước là một loại cơ quan nhà nước, chính vì vậy các loại
cơ quan này chịu sự chi phối rất nhiều yếu tố liên quan đến quản lý và sử dụng lực
lượng lao động làm việc trong cơ quan này.
Tính chính trị của người làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và hành
chính nói riêng tồn tại ở tất cả các nước và đó cũng chính là nguyên nhân phổ biến
của hoạt động không hiệu quả của các tổ chức nhà nước so với các loại tổ chức
khác.
Trong xu hướng chung của cải cách hành chính, nhiều nước trên thế giới đã và
9
Mỗi một cơ quan nhà nước nói chung đều hoạt động dựa trên nguồn lực (ngân sách
nhà nước) cung cấp. Các cơ quan hành chính nhà nước cũng tương tự. Mặt khác,
các cơ quan hành chính nhà nước còn phải quản lý một nguồn ngân sách lớn của
nhà nước dành cho hoạt động đầu tư phát triển. Trên nguyên tắc đó, có hai khía
cạnh được xem xét:
- Khía cạnh quản lý ngân sách và sử dụng ngân sách nói chung.
- Quản lý ngân sách nhà nước dành cho hoạt động của từng cơ quan hành
chính nhà nước.
Trong lĩnh vực thứ nhất, nhiều nội dung cần được nghiên cứu riêng, nhưng có thể
thấy rõ của các nước là đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước phải có những
kiến thức, trình độ, kỹ năng khi tham gia vào lĩnh vực này (quản lý thu, chi ngân
sách nhà nước).
Trong khi đó, mảng thứ hai gắn liền với từng loại cơ quan. Đây cũng là một trong
những vấn đề đang được các nước và Việt Nam xem xét dưới giác độ hiệu quả của
việc sử dụng ngân sách nhà nước dành cho từng loại cơ quan hành chính.
Thực tế của các nước cũng như ở Việt Nam, thiếu những cơ chế để kiểm soát hoạt
động sử dụng ngân sách nhà nước dành cho từng loại cơ quan. Nguyên nhân cơ
bản là ngân sách đó không thuộc của bất cứ một cá nhân nào, nhưng lại có nhiều
người có quyền được sử dụng nó. Và khi không thuộc của một ai, nhiều loại hình
“sử dụng” sẽ xuất hiện.
Khoán chi hành chính đã trở thành một yếu tố cơ bản của cải cách hành chính. Tuy
nhiên, bên cạnh vấn đề “khoán”, có nhiều vấn đề khác đạt ra cần quan tâm (xem
10
mục chi tiết ở cải cách hành chính giai đoạn 2001-2005 – mô hình khoán chi hành
chính).
tổ cức , doanh nghiệp tồn tại, vận động và phát triển cũng chứa đựng nhiều yếu tố
cần được quan tâm, xem xét, phân tích và đánh giá. Phân tích môi trường trong đó
tổ chức hay doanh nghiệp Nhà nước cũng như các loại hình doanh nghiệp sản xuất,
kinh doanh khác tổn tại, vận động và phát triển có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng.
Lý thuyết phân tích tổ chức cũng như phân tích môi trường trong đó tổ chức tổn
tại, vận động và phát triển không chỉ nhằm giúp các nhà quản lý thấy rõ được
những điểm mạnh yếu của chính bản thân tổ chức mình mà còn là một công cụ
quan trọng nhằm chỉ ra được những thách thức đang tác động hay đe doạ đến sự
tồn tại, vận động và phát triển của tổ chức nhằm hướng đến mục tiêu của tổ chức.
Phân tích SOWT đã trở thành công cụ quan trọng của các nhà quản lý nhằm đạt
được mục tiêu đó. 1
Trong lý thuyết phân tích tổ chức, môi trường trong đó tổ chức tồn tại, vận động và
phát triển được chia thành hai bộ phân: môi trường bên ngoài của tổ chức là những
yếu tố không thuộc phạm vi quản lý, tác động của tổ chức nhưng có ảnh hưởng
quan trọng đến sự tồn tại, vận động và phát triển. Môi trường bên trong của tổ
chức là những yếu tố thuộc phạm vi quản lý của tổ chức đó và tác động qua lại,
ảnh hưởng đến sự tồn tại, vận động và phát triển của tổ chức. Phân tích cả môi
trường bên trong và bên ngoài của tổ chức cần được quan tâm.
1
Xem chí tiết “ Phân tích và dự báo kinh tế - xã hội cho các nhà quản lý “. Nhà XB KHKT, 1998
12
Nền hành chính Nhà nước luôn luôn tồn tại, vận động và phát triển trong môi
trường rất phức tạp. Tính phức tạp của môi trường thể hiện không chỉ quy mô,
phạm vi tác động của nó đến sự tồn tại, vận động và phát triển của nền hành chính
Nhà nước mà còn thể hiện thông qua số các nhân tố tác động cũng như hình thức
và phương thức tác động của các nhân tố đó. Nhiều hình thức tác động của các
quy mô toàn thế giới đã tạo ra những hình thái và phương thức tổ chức khác nhau
của Nhà nước. Sự đối đầu giữa Liên xô và Mỹ cũng như sự đối đầu giũa NATO và
WARSAW đã làm cho mô hình Nhà nước giũa các nước thuộc các tổ chức này
khác nhau và do đó các phương thức khác nhau của tổ chức bộ máy hành chính
Nhà nước. Nhà nước dân chủ nhân dân, Nhà nước cộng hoà thay cho nhà nước tư
sản, độc quyền làm cho cuộc đấu tranh ý thức hệ trở nên phức tạp hơn, khó khăn
hơn. Trong khi đó các nước tư bản cũng đã có nhiều phương thức tố chức nhà nước
cũng như phương pháp điều hành nền hành chính nn nhằm phục vụ cho những
nhịêm vụ phức tạp của cuộc đối đầu giữa các cường quốc với nhau.
Sự tan rã của khối xã hội chủ nghía Đông Âu và Liên xô được coi như là sự kết
thúc cuộc chiến tranh lạnh đã kéo dài hơn nửa thế kỷ. Sự tan rã của mô hình Nhà
nước kiểu Liên xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây không thể nói đó là sự
tan rã hay sụp đổ của lý tưởng về chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản. Điều
này đã được thể hiện thông qua sự có mặt của hơn 1.500 đại biểu từ 70 quốc gia và
tổ chức quốc tế đã tụ họp nhau lại tại Pari, thủ đô nước Pháp để kỷ niệm 150 ngày
14
sinh K. Mác và sự thắng lợi của nhiều đảng cộng sản tại các nhà nước trong các
cuộc tổng tuyển cử bầu quốc hội - cơ quan lập pháp. Sự tan rã đó là sự tan rã của
một mô hình quản lý Nhà nước kém hiệu quả, kém hiệu lực và không phát huy
được hết sức mạnh nội lực của dân tộc trong cuộc đấu tranh kinh tế nhằm phát
triển kinh tế - xã hội. Trong nnững giai đoạn đầu của cuộc đấu tranh giành độc lập,
giải phóng dân tộc, Nhà nước của các nước thuộc khối Liên xô và Đông Âu đã tỏ
ra rất hiệu quả trong việc đấu tranh giành độc lập, giải phóng nhân dân lao động
khỏi sự áp bức của giai cấp tư sản. Song bước sang giai đoạn mới của sự phát triển.
Giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, tư duy và cách thức tổ chức, quản lý, điều
hành trước đó đã không còn có hiệu lực và những người lãnh đạo đất nước đã bị
chủ nghĩa duy ý chí cản đường và không nhận thức được những gì cần phải thay
đổi khi môi trường quản lý đã thay đổi. Sự trì trệ đó đã làm cho bộ máy Nhà nước
môi trường chính trị quốc tế đang diễn biến rất phức tạp như hiện nay.
Môi trường kinh tế thế giới cũng đang tác động rất mạnh hoạt động của bộ máy
hành chính Nhà nước của các quốc gia trên thế giới. Nếu như các yếu tố thuộc ý
thức hệ tác động đến hoạt động của nền hành chính Nhà nước có thể biểu hiện
nhiều hình thức khác nhau và thông qua những hoạt động “diễn biến hoà bình”,
khó nhận dạng nó, thì vấn đề kinh tế thế giới tác động đến bộ máy Nhà nước nói
chung và nền hành chính Nhà nước nói riêng có thể dẽ nhận dàng hơn và mức độ
tác động của nó có thể rất mạnh và đo lường cụ thể.
Thị trường kinh tế thế giới đang ngày càng mở rộng và tính không biên giới của thị
trường kinh tế càng ngày càng thể hiện cụ thể. Nếu như những năm của thập kỷ
1970, 1980 là cuộc thương lượng dai dẳng về vòng đàm phán URUGOAY, và kế
quả đạt được của nó hạn chế vì tiếng nói của nhiều quốc gia bị hạn chế bởi các
16
cường quốc kinh tế như Mỹ, Đức, Nhật, thì sự ra đời của WTO (World Trade
Organization) đã là nơi hội tụ tiếng nói rộng hơn, đa dạng hơn và các quốc gia yếu
về kinh tế cũng đã đưa được tiếng nói của mình nhằm hạn chế thua thiệt trong
buôn bán trên thị trường thế giới. Nhiều khu vực mậu dịch tư do [2] đã được hình
thành nhằm giải quyết tốt hơn và thúc đẩy buôn bán giữa các nước với nhau và tạo
ra một sự bình đẳng, cùng có lợi vì sự phát triển. Nếu như trước đây, các nước áp
dụng những chính sách để bảo hộ hàng sản xuất trong nước, hạn chế sự xâm nhập
của hàng nước ngoài thông qua hàng rào thuế quan, thì sự hìanh thành các khu mậu
dịch tự do tạo ra những cơ hội cạnh tranh lớn hơn; tạo cơ hội sử dụng tốt hơn, hiệu
quả hơn lợi thế so sánh giưã các nước thuộc khu vực mậu dịch tư do. Điều đó cũng
có nghĩa tăng hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
Nền kinh tế thế giới trong thời đại ngày nay đòi hỏi cần có sự hợp tác mạnh mẽ
giũa các quốc gia nhằm giải quyết nhiều vấn đề mang tính chất toàn cầu. Thay cho
sự đối đầu trong sự phát triển là sự cạnh tranh và hợp tác.
Tính toàn cầu hoá và khu vực hoá về kinh tế cũng như các vấn đề khác đã tạo ra
nước) trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng và cả hệ thống
nhà nước nói chung.
Trước khi có chương trình tổng thể, cải cách hành chính đã được thực hiện dưới sự
định hướng của Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8
(Khoá VII) và Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 7 (khoá VIII).
Đồng thời chính phủ đã xây dựng chương trình cải cách hành chính năm 2001 với
nội dung chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến tổ chức và hoạt động
của các cơ quan hành chính nhà nước 3/.
3
Quyết định 217/2000/QĐ-TTg về chương trình cải cách hành chính năm 2001 của Thủ tướng chính phủ.
18
Cải cách hành chính mang tính toàn diện cả về quản lý, sử dụng nguồn lực nhà
nước trong giai đoạn 2001-2005 có ý nghĩa toàn diện và kế thừa những thành quả
của các hoạt động cải cách trước đó. Báo cáo tổng kết hoạt động cải cách hành
chính giai đoạn 2001-2005 đã rút ra một số bài học 4/:
1. Bài học về bảo đảm sự nhất quán, kiên trì liên tục trong triển khai cải cách
hành chính bao gồm từ xây dựng chương trình, kế hoạch cải cách hành chính hàng
năm của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và các tỉnh cần xác định rõ các
mục tiêu, các nhiệm vụ và giải pháp bảo đảm thực hiện, đến tổ chức và kiểm tra
thực hiện, đánh giá, kiểm điểm công tác cải cách hành chính phải dựa vào đánh
giá những mục tiêu đã đề ra cũng như tác động tới xã hội thông qua công tác cải
cách hành chính.
2. Bài học về công tác chỉ đạo triển khai thống nhất cải cách hành chính từ Chính
phủ tới chính quyền địa phương các cấp đóng vai trò quyết định sự thành công của
cải cách, do đó phải được duy trì và bảo đảm. Chương trình công tác, các cuộc
Giai đoạn 1 đã đạt được những thành tịu quan trọng. Tuy nhiên, mục tiêu của cải
cách tương ứng với giai đoạn 1 (thời gian đến 2005) chưa đạt được như mong
muốn. Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XI, Thủ tướng chính phủ đã trình bày
những hạn chế của cải cách hành chính và khảng định quyết tâm của chính phủ đẩy
mạnh cải cách hành chính giai đoạn 2006-2010.
Môi trường trong đó hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung và hành chính nói
riêng đang có nhiều thuận lợi, tạo tiền đề cho những hoạt động cải cách cả về thể
chế hành chính; tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; vấn đề
đội ngũ cán bộ, công chức và cách thức quản lý và sử dụng nguồn lực nhà nước.
20
Trước hết, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã định hướng cụ thể về cải cách
hành chính trong giai đoạn từ sau 2006. Những nội dung cơ bản đó đang được
Chính phủ cụ thể hoá bằng những hành động cụ thể.
Hai là, hệ thống lập pháp hoạt động mạnh hơn trong việc xây dựng nền tảng cơ
bản cho các thể chế hành chính (trung ương, địa phương, chính phủ, Uỷ ban Nhân
dân,..) hoạt động hiệu qủa hơn và có những cơ sở để giám sát, kiểm tra, thanh tra.
Nhiều văn bản pháp luật (luật, pháp lệnh, nghị quyết,..) đã kịp thời ban hành làm
nền tảng cho các thể chế hành chính hoạt động.
Ba là, chính phủ mới quyết tâm cải cách hành chính và có những lộ trình cụ thể.
Quyết định 94/2006/QĐ-TTg đã vạch ra lộ trình cụ thể cho cải cách hành chính
giai đoạn 2006-2010.
Bốn là, xã hội, công dân và cán bộ, công chức nhận thức được đúng hơn, rõ hơn về
cải cách hành chính và vai trò của họ trong quá trình cải cách hành chính. Nếu như
trước 2001, nguyên nhân cản trở cải cách hành chính thuộc về nhận thức hạn chế
của cán bộ, công chức (bao gồm cả lãnh đạo, quản lý và cán bộ, công chức) và của
nhân dân, thì mức độ nhận thức của công dân về cải cách hành chính đã được nâng
22
Hạ tầng phục vụ cho hoạt động quản lý vẫn là hạn chế cơ bản ảnh hưởng đến việc
áp dụng các công cụ mới để quản lý. Quốc hội đang bàn đến Luật Hộ khẩu. Nhiều
Đại biểu muốn đề nghị áp dụng mô hình quản lý hộ tịch theo một cơ chế khác nhau
tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân. Nhưng trên thực tế, các cơ quan hành
chính nhà nước chưa có thể thực hiện mô hình quản lý người dân như các nước.
Thực tế, đây sẽ là một khó khăn không chỉ trên lĩnh vực hộ khẩu như Quốc hội
đang bàn mà trên nhiều linh vực khác. Cơ chế “một cửa” chỉ có thể có được khi cơ
quan hành chính nhà nước quản lý được người dân thông qua “một cửa”- đó chính
là công giao dịch điện tử giữa nhà nước và công dân (mô hình G-C). Liệu khi nào
các cơ quan quản lý nhà nước biết được đích thực một người có giấy phép lái xe
thật giả, và họ đã vi phạm bao nhiêu lần?
3.4. Một số kiến nghị về cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2006-2010.
Trong giai đoạn 2006- 2010, cải cách hành chính ở Việt Nam bước sang giai đoạn
hai việc thực hiện chương trình cải cách hành chính. Chính phủ đã tiến hành tổng
kết việc thực hiện cải cách hành chính giai đoạn 2001-2005. Những bài học kinh
nghiệm về cải cách hành chính giai đoạn I (2001-2005) đã được các nhà khoa học,
nghiên cứu, quản lý đánh giá tại Hội thảo về tổng kết giai đoạn I của cải cách hành
chính
Cải cách hành chính theo chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn
2001-2010 ban hành kèm theo quyết định 136/2001/QĐ-TTg đề cập đến một cách
tổng thể tất các các yêu tố cấu thành nền hành chính nhà nước
Về phương diện lý luận, hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước (cơ quan
23
động đạt được lý do tồn tại của tổ chức và thực hiện những nhiệm vụ mà tổ chức
phải làm một cách hiệu quả nhất. Lý thuyết chung về con người làm việc trong tổ
chức đã xác định nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của họ. Đó là
những yếu tố gắn liền với quyền lợi' nghĩa vụ; thưởng/phạt; động cơ làm việc/
đường chức nghiệp. Nếu thiếu một sự rõ ràng về những vấn đề đó, hoạt động của
người làm việc trong tổ chức sẽ không đạt được mong muốn của tổ chức. Thiếu sự
rõ ràng về quyền lơi/ nghĩa vụ/ trách nhiệm/ chịu trách nhiệm,.... sẽ làm cho tổ
chức trở thành một tập hợp của nhiều người. Khi vui thì ai cũng cười, nhưng khi có
khuyết điểm, sai lầm xẩy ra không quy kết được trách nhiệm cụ thể. Nhiều vấn đề
tập trung nhằm giải quyết "....
Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng một khoản ngân sách rất lớn
của nhà nước để nhằm duy trì sự tồn tại, vận động và phát triển của hệ thống này
(chi phí thường xuyên). Đồng thời chính hệ thống các cơ quan này lại được giao
quản lý sử dụng một lượng ngân sách nhà nước khổng lồ cho hoạt động đầu tư phát
triển. Chỉ một PMU 18 thuộc Bộ GTVT đã được giao trong thời gian chỉ khoảng 8
năm một khoản tiền 33.000 tỷ đồng. Bình quân mỗi năm khoảng 4.000 tỷ đồng.
Phát động mua công trái để hỗ trợ các xã nghèo, Chính phủ cũng chỉ dự kiến
khoảng 4.000 tỷ. Đây là khoản tiền rất lớn, đó là "mồ hôi, nước mắt xương máu
của nhân dân". Nhưng quản lý sử dụng nó kém hiệu quả, thất thoát quá lớn và sử
dụng để đánh bạc. Thật sự không có một quốc gia nào có thể để tiền của nhà nước
sử dụng như vậy. Cải cách việc sử dụng tiền nhà nước bằng nhiều nội dung, trong
đó tập trung vào những nội dung đã được quyết định trong chương trình tổng thể
cải cách hành chính. Nhưng không có những quy trình kiểm soát cụ thể nên ngân
sách nhà nước đã bị sử dụng sai mục đích.
25