Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đÒ tài
Hiện nay, dưới tác động ngày càng mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hoá và
quốc tế hoá chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ngày càng phát triển đã đặt ra
cho báo chí nhiều vấn đÒ cần giải đáp. ĐÓ có cách giải quyết đóng đắn, phải
tìm hiểu tổng kết những hoạt động thực tiễn tạo chỗ dùa lý luận vững chắc
cho hoạt động báo chí. Nghiên cứu hoạt động của báo chí đối với vấn đÒ cải
cách thể chế hành chính nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã chỉ
ra những bài học, phương pháp vận dụng cách thông tin về nội dung Êy vào
thực tiễn hiệu quả hơn.
Năm 2010 là năm cuối cùng nước ta thực hiện ĐÒ án 30 - Chương
trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ giai đoạn 2001-2010. Trong
gần 10 năm thực hiện đÒ án nền hành chính nhà nước ta đã có những chuyển
biến tích cực, bước đầu đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới, đặc biệt trong
lĩnh vực xây dựng và cải cách thể chế hành chính. Đạt được những thành tích
đáng kể như hiện nay, đÒ án nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức
và quần chúng nhân dân. Trong đã, với vai trò quan trọng báo chí có tác động
to lớn, sâu rộng đÕn toàn xã hội, là công cô đắc lực đÓ tập hợp lực lượng,
hướng quần chúng vào những mục tiêu chung đã đóng góp một phần không
nhỏ thành tích của đề án cải cách hành chính nhà nước. Báo chí không chỉ cầu
nối, là công cụ tuyên truyền, cổ động, hướng dẫn hoạt động cải cách hành
chính nói chung và thể chế hành chính nhà nước nói riêng mà nó còn tham gia
trực tiếp vào công cuộc này.
Cải cách hành chính hiện đang là vấn đề mang tính toàn cầu. Cả các
nước đang phát triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính nh
1
mét động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ và
các mặt khác của đời sống xã hội. Chủ trương cải cách nền hành chính nhà
nước ở Việt Nam được bắt đầu cuối những năm 80 của thế kỷ XX, gắn liền
với thời điểm bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước theo đường lối phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Nhà nước pháp quyền
hành chính mà còn góp phần đánh giá, tìm ra nguyên nhân và qua đó sẽ đưa ra
được các giải pháp phù hợp góp phần phát huy vai trò to lớn của báo chí trong
cải cách hành chính. Vì thế tác giả lùa chọn đÒ tài “Báo chí với vấn đÒ cải
cách thể chế hành chính nhà nước Việt Nam hiện nay”
2. Lịch sử nghiên cứu
Hiện nay, tác động của báo chí đối với các vấn đÒ chính trị, kinh tế,
văn hoá và xã hội là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà báo và học giả trên
thế giới và Việt Nam.
Tại Việt Nam, cũng đã có nhiều luận án, luận văn, các bài báo và bài
viết của các nhà khoa học đề cập đến tác động của báo chí đối với các vấn đề
kinh tế, chính trị, xã hội như : Nguyễn Lê Anh " Báo chí góp phần hoàn
thiện chính sách tài chính đối ngoại", Luận văn thạc sĩ báo chí, Hà Nội, 2002;
Nguyễn Thanh Vân : "Vai trò của báo chí đối với công cuộc cải cách hành
chính (khảo sát báo in thành phố HCM từ năm 2001 đÕn năm 2004), Luận
văn thạc sĩ khoa học, TP Hồ Chí Minh, 2006; Nguyễn Văn Thắng : “Báo chí
tham gia xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam” Luận văn
thạc sĩ truyền thông đại chúng, Hà Nội, 2009 …
3
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đÒ tài nào nghiên cứu về sự tác động
của báo chí đối với cải cách thể chế hành chính nhà nước Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
3. Mục đÝch và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đÝch
Mục đÝch của đÒ tài là thông qua nghiên cứu, khảo sát các tác phÈm
báo chí đÓ thấy được sự tác động của báo chí đối với cải cách thể chế hành
chính ở Việt Nam hiện nay; đÒ xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
chất lượng tuyên truyền và khẳng định vai trò của báo chí trong việc tham gia
vào cải cách thể chế hành chính nhà nước Việt Nam.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đÝch trên, đÒ tài có nhiệm vụ chính sau:
+Phương pháp diễn dịch, quy nạp được sử dụng trong quá trình nhận
xét và đánh giá nhằm rót ra những mặt đạt dược và hạn chế trong việc tuyên
truyền về cải cách thể chế hành chính nhà nước Việtt Nam ở 3 tạp chí.
6. Những đóng góp mới về khoa học của đÒ tài
Khảo sát đầy đủ, toàn diện luận văn sẽ có đóng góp vào việc làm rõ
được vai trò của báo chí trong việc xây dựng và cải cách thể chế hành chính
5
nhà nước ở nước ta hiện nay. Qua đã, góp phần nâng cao trình đé và năng lực
của người làm báo, nhất là đội ngò phóng viên chuyên trách về lĩnh vực này,
đồng thời góp phần nâng cao chất lượng các Ên phẩm báo chí khi tuyên
truyền về chủ đÒ cải cách thể chế hành chính nhà nước ta hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn “Báo chí với vấn đề cải cách thể chế hành chính nhà nước ở
Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận và thực tiễn đối
với các cơ quan báo chí khi thực hiện chức năng “cơ quan ngôn luận của
Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và là diễn đàn của nhân dân”. Qua
đó, góp phần tích cực vào công cuộc cải cách thể chế hành chính nhà nước ở
nước ta hiện nay theo hướng thống nhất, khả thi.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo bổ Ých cho hoạt
động của những người làm baó khi tuyên truyền về đề tài cải cách thể chế
hành chính nhà nước.
8. Kết cấu của đÒ tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm 3 chương, 7 tiết.
6
Chương 1: Một số vấn đề lý luận báo chí và cải cách thể chế hành chính ở
nước ta hiện nay
1.1. Báo chí- một số vấn đề lý luận cơ bản
1.1.1. Một sè quan niệm về báo chí
Báo chí là một hiện tượng xã hội đặc biệt phổ biến nhưng ra đời khá
về phương pháp, hình thức sáng tạo của nhà báo, đến nguyên tắc về sự tác
động qua lại giữa báo chí và công chúng. Những vấn đề về lý luận trong báo
chí đều liên quan đến thuật ngữ này. Sự tồn tại của thông tin trong báo chí có
những đặc trưng riêng gắn với mối quan hệ nhà báo- tác phẩm và công chúng.
Thông tin trong hoạt động báo chí liên quan trực tiếp đến chất lượng và hiệu
quả báo chí như là sự tác động vào xã hội, tạo thành một bộ phận của tri thức
có tác động tích cực vào quá trình vận động của các lĩnh vực đời sống xã hội.
Thế giới hiện thực chứa đầy lượng thông tin, báo chí có cách riêng của
mình để phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tầng líp xã hội
với những mối quan tâm sở thích và nhu cầu khác nhau. Chính điều đó khiến
cho báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng
động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được.
Có quan niệm cho rằng báo chí là báo và chí, thông báo về sự việc mới
diễn ra hàng ngày; Báo chí là thông tin thời sự; phương diện giao tiếp xã hội;
8
Báo chí là diễn đàn cung cấp và trao đổi thông tin. Hay hiểu theo nghĩa hẹp
thì báo chí là báo, tạp chí và các sản phẩm in Ên, theo nghĩa rộng báo chí bao
gồm các loại hình: báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử. Theo
Giáo trình nghiệp vụ báo chí, tập I, khoa Báo chí, trường Tuyên huấn trung
ương “Báo chí là những tư liệu sinh hoạt tinh thần nhằm thông tin và nói rõ
về những sự kiện thời sự đã và đang diễn ra cho một nhóm đối tượng nhất
định, nhằm mục đích nhất định, xuất bản định kỳ, đều đặn”.
Trên thế giới có hai quan niệm về báo chí đối lập nhau, một là của giai
cấp tư sản và một là của giai cấp vô sản.
Theo giai cấp tư sản: Báo chí là phương tiện thông tin, thông tin sự
kiện, khách quan, độc lập và không phụ thuộc vào chính trị, “không can dự
vào những cuộc đấu tranh giai cấp”. Báo chí độc lập với chính trị; là quyền
lực thứ tư (giám sát quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp)
Giai cấp vô sản: Từ lý luận và thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản
đấu tranh chống giai cấp tư sản, qúa trình hình thành và phát triển của xã hội
chính trị quá nhiều, không biết giữ bí mật”. Người cũng quan tâm đặc biệt đến
sự hấp dẫn của tờ báo khi phê bình báo chí ta là “không vui vẻ” và “in nhem
nhuốc, luộm thuộm” [25-139]
Từ những vấn đề khái quát, Bác nêu bật yêu cầu có tính nguyên tắc
trong hoạt động, rèn luyện của người làm báo. Đó là “gần gũi quần chúng”,
viết về quần chúng và viết cho quần chúng đọc, quần chúng hiểu; phải biết Ýt
nhất một ngoại ngữ đề học hỏi kinh nghiệm bên ngoài, luôn biết lắng nghe,
rèn luyện, cầu tiến bộ. Người làm báo cần phải chú trọng học tập chính trị,
10
nắm vững chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước; đi sâu vào thực tế đi
sâu vào quần chúng lao động.
Luật Báo chí Việt Nam 1990, luật sửa đổi một số điều quy định rõ ràng
“Báo chí ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa luật Việt Nam phương tiện thông
tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các
tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân
dân” [23, tr.4].
Thực tế gần 25 năm qua, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi
xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch
sử. Trong những thành tựu đó những người làm báo Việt Nam tự hào về
những đóng góp của mình Báo chí kịp thời đưa những chủ trường, đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đến với các tầng líp
nhân dân; phát hiện, nhân rộng những điển hình tiên tiến, những sáng kiến
nguyện vọng của mọi tầng líp nhân dân. Báo chí là tiếng nói của Đảng và
Nhà nước, đồng thời là diễn đàn của nhân dân, là cầu nối giữa ý Đảng và
lòng dân. Đồng thời báo chí tích cực đầu tranh chống tiêu cực, tham nhòng,
lãng phí, chống lại các âm mưu và luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.
Theo đà đổi mới báo chí nước ta cũng đã có những bước tiến bộ nhảy vọt cả
về số lượng và chất lượng. Đội ngò những người làm báo phát triển nhanh
chóng, trưởng thành về nhiều mặt.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, thấm nhuần chủ nghĩa Mác
người.
12
Thứ hai, đó là phương tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới
công chúng.
Trong hoạt động báo chí, thông tin có vai trò hết sức to lớn, là công cụ
chủ yếu để nhà báo thực hiện mục đích của mình. Thông tin trở thành "cầu
nối" giữa báo chí và công chúng. Căn cứ việc phân loại theo phương thức thể
hiện, người ta chia thông tin báo chí thành các loại hình: Thông tin bằng chữ
viết (báo in); thông tin bằng tiếng nói (phát thanh); thông tin bằng hình ảnh
(truyền hình); thông tin trên mạng internet (đa phương tiện).
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ
thì khả năng và cách thức đáp ứng nhu cầu thông tin giao tiếp của con người
là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của quốc gia. Đồng thời xu thế này
cũng là động lực cho báo chí phát triển mạnh mẽ.
Vai trò thông tin - giao tiếp của báo chí thể hiện qua ba phương thức cơ
bản : Mét là, thông tin sự kiện thời sự, đây là tiêu chí hàng đầu, quan trọng
nhất để đánh giá chất lượng sản phẩm báo chí; Hai là, giải thích và giải đáp về
những sự kiện, vấn đề thời sự đã và đang diễn ra; Ba là, bình luận, đây là cách
chủ yếu và tập trung nhất báo chỉ thể hiện quan điểm thái độ qua đó góp phần
định hướng dư luận.
Đối với báo chí mà cụ thể là với nhà báo thì thông tin báo chí có vị trí
và vai trò đặc biệt quan trọng. Báo chí ra đời và phát triển nhằm thoả mãn nhu
cầu thông tin ngày càng cao của con người. Thông tin là động lực kích thích
sự phát triển của con người, xã hội. Xã hội càng phát triển thì thông tin càng
đa dạng và các phương tiện, phương thức truyền thông cũng ngày càng đa
dạng để có thể đáp ứng nhu cầu phát triển.
13
Trong hoạt động báo chí, thông tin giao tiếp là vai trò có ý nghĩa quan
trọng, quyết định đến chất lượng các sản phẩm báo chí. Vị vậy, trong hoạt
động thông tin báo chí cần phải chú ý một số điểm sau :
các tri thức văn hoá toàn diện đáp ứng nhu cầu thông tin cũng như giải trí cho
nhân dân lao động. Sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng là
điều kiện quan trọng để đại chóng hoá những giá trị tinh thần của nhân loại,
giúp mỗi thành viên trong xã hội có cơ hội không ngừng bổ sung vốn tri thức,
làm phong phú đời sống tinh thần của mình. Giao tiếp qua báo chí và truyền
thông đại chúng có vai trò rất quan trọng trong việc khẳng định và nhân rộng
các giá trị văn hoá dân téc, giữ gìn và lưu truyền các giá trị văn hoá Êy.
Xã hội càng phát triển, trình độ giáo dục chung của nhân dân ngày càng
cao, sự hình thành nhân cách, lối sống văn hoá của con người chịu ảnh hưởng
ngày càng nhiều yếu tè. Trong khi thực hiện việc nâng cao trình độ hiểu biết
của nhân dân, báo chí đề cập đến rất nhiều các lĩnh vực khác nhau, những
khía cạnh phong phú của đời sống con người. Mục đích của hoạt động không
chỉ là nâng cao trình độ hiểu biết cho nhân dân mà còn hình thành một nền
văn hoá toàn diện, lành mạnh, tiên tiến. TÝnh chất của nền văn hoá đó thể
hiện tất cả các hoạt động, quan hệ của con người. Công chúng lùa chọn báo
chí và coi nó như trường học một cách tự nguyện, tự lùa chọn với phương
thức tiếp nhận thông tin phù hợp nhất cho mỗi người, mỗi nhóm công chúng,
15
thông qua việc lùa chọn các Ên phẩm truyền thông. Với những ưu thế là tính
tự giác, khả năng lùa chọn rộng rãi, cơ chế tiếp nhận linh hoạt, gần gũi thực
thực tế, sinh động, báo chí đã tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo con
người một cách hiệu quả trên cả chiều rộng và chiều sâu.
Nhận thức của người dân ngày một cao hơn cùng với sự phát triển
không ngừng của các phương tiện truyền thông đại chúng tạo điều kiện để
xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
téc. Hơn nữa, báo chí trở thành những kênh cho đông đảo quần chúng tham
gia giải trí lành mạnh, hướng dẫn và tổ chức cho công chúng sử dụng thời
gian hợp lý để cân bằng trạng thái tâm lý cũng như tái sản xuất sức lao động.
Báo chí ngày một thể hiện ưu thế của mình trong công tác giáo dục và nâng
cao trình độ dân trí. Rất nhiều kiến thức bổ Ých, phong phú, toàn diện được
khuyết điểm, những vấn đề khó khăn ách tắc trong việc chỉ đạo thực hiện các
quyết định quản lý. Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo
cho hoạt động được thực hiện đúng mục đích và đạt hiệu quả tốt nhất trong
điều kiện có thể. Kết quả hoạt động giám sát kiểm tra của báo chí là nguồn
thông tin giúp các cơ quan Đảng và Nhà nước kịp thời quyết định, có biện
pháp tích cực điều chỉnh hoạt động của cơ quan, tổ chức cấp dưới.
Phản biện xã hội là một nhu cầu của cuộc sống bởi nhờ có nó con
người có thể loại bỏ những yếu tố sai để tiệm cận tới sự hợp lý trong các
quyết định, các hành vi của mình. Trong khoa học, phản biện cũng là một
trong những cách thức chủ yếu để các nhà nghiên cứu tiệm cận tới các chân lý
khoa học. Còn trong đời sống xã hội, phản biện là một công cụ không thể
17
thiếu để tổ chức ra một xã hội dân chủ. Với Việt Nam, hoạt động phản biện xã
hội là sự phát huy dân chủ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân, ý thức
trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, góp ý kiến
với cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước. Phản biện xã hội là nhu cầu
cần thiết và đòi hỏi bắt buộc của quá trình lãnh đạo và điều hành đất nước,
khắc phục tệ quan liêu Đây được coi là chủ trương mới của Đảng ta, nhằm
“xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN”. Thông qua phản
biện xã hội, nhân dân giúp Đảng và Nhà nước chống tham nhòng, đói nghèo,
tụt hậu có hiệu quả, làm trong sạch bộ máy. Đó là sự phản biện trên tinh thần
xây dựng, đồng tình với những vấn đề hợp với nguyện vọng, lợi Ých của
nhân dân, phản đối những vấn đề có hại đến lợi Ých của nhân dân. Không chỉ
là công cụ tuyên truyền có hiệu quả của Đảng, Nhà nước, báo chí Việt Nam
còn là một kênh phản biện rất hiệu quả đối với công tác quản lý và điều hành
xã hội của Nhà nước, góp phần tích cực xây dựng một xã hội hướng tới “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Không giới hạn
mình ở những khuôn khổ nhất định, báo chí Việt Nam thể hiện sự phản biện ở
tất cả các khía cạnh, lĩnh vực của xã hội.
1.2. Báo chí với vấn đề cải cách thể chế hành chính nhà nước Việt Nam
văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cã thẩm quyÒn ban
hành nhằm điều chỉnh về các mặt tổ chức và hoạt động, chế độ công vụ, tài
chính, nhân sự liên quan đÕn hệ thống các cơ quan hành chÝnh nhà nước;
bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước trên mọi mặt đời sống xã
hội của bộ máy hành chÝnh nhà nước.
19
Trong quá trình xây dựng và ban hành thể chế hành chính nhà nước
phải đảm bảo các yêu cầu (nguyên tắc) cơ bản sau:
1. Đảm bảo vÒ tÝnh hợp hiÕn, hợp pháp: ĐiÒu này cã nghĩa là thể
chÕ hành chÝnh phải phù hợp với các quy định của HiÕn pháp và luật, hai
văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật của nước ta (vÝ dô như ChÝnh phủ ban hành Nghị định phải cã nội dung
phù hợp với các quy định trong HiÕn pháp và luật cã liên quan, uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh ban hành thể chÕ hành chÝnh phải phù hợp với văn bản luật của
Quốc hội, văn bản của ChÝnh phủ, Thủ tướng ChÝnh phủ, Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh…).
Đảm bảo yêu cầu này cũng là việc tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc
pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành thể chÕ hành chÝnh. Cã nghĩa
là, các cơ quan nhà nước ban hành thể chÕ hành chÝnh phải theo đúng thẩm
quyÒn, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng. Các văn bản quy phạm pháp luật do
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành không được trái với
chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảm bảo tÝnh khả thi, thực tiễn: Thể chÕ hành chÝnh được ban hành
phải cã khả năng áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, phù hợp với yêu cầu của
thực tiễn, tránh tình trạng thể chÕ hành chÝnh được ban hành là để “đánh đổ”
đối tượng áp dụng, khi thực hiện hoặc không thể thực hiện.
Yêu cầu này còng là việc phải đảm bảo tÝnh khách quan trong xây
dựng ban hành thể chÕ hành chÝnh. Các cơ quan nhà nước cã thẩm quyÒn
xây dựng, ban hành thể chÕ hành chÝnh xuất phát từ đòi hỏi, yêu cầu và
trí đặc biệt quan trọng vì nó phản ánh cụ thể, rõ nét nội dung, phương thức
quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, hiệu lực hiệu quả
hoạt động, kết quả, hiệu quả phục vụ nhân dân của bộ máy nhà nước. Nội dung
của cải cách thể chế hành chính nhà nước theo Chương trình tổng thể cải cách
hành chính của Chính phủ giai đoạn 2001-2010, bao gồm 4 vấn đề chủ yếu:
- Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thể chế về tổ chức và hoạt động
của hệ thống hành chính nhà nước.
- Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Bảo đảm việc thực thi pháp luật nghiêm minh của các cơ quan nhà
nước, của cán bộ, công chức.
- Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính.
Không chỉ dừng lại ở những định hướng chung, trong 7 chương trình
hành động thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai
đoạn 2001-2010, có 2 chương trình tập trung vào cải cách thể chế: chương
trình “Đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản
quy phạm pháp luật” (do Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ chủ trì) và
chương trình “Hiện đại hoá hành chính” (do Văn phòng Chính phủ chủ trì).
Những cơ chế cải cách, sáng kiến thí điểm, như cơ chế một cửa, cải cách thủ
tục hành chính cảng biển, Iso 9000 trong quản lý hành chính, chính phủ điện
tử và hệ thống quản lý theo kết quả đều tập trung vào mảng cải cách thể chế
hành chính của Việt Nam.
22
1.2.2. Mối quan hệ của báo chí đối với cải cách thể chế hành chính
nhà nước
1.2.2.1. Quan hệ biện chứng, phối hợp bổ sung cho nhau
Cải cách thể chế hành chính nhà nước là một khái niệm trương đối trừu
tượng đối với phần lớn quần chúng nhân dân. Thể chế hành chính nhà nước là
một phần thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội nếu không được giải thích
một cách cụ thể sẽ dẫn đến nhầm lẫn. Bởi trên thực thế khái niệm này cũng
dân đều bình đẳng. Tuy nhiên, trong quan hệ hành chính nhà nước thì không
hẳn như vậy vì một bên chủ thể trong quan hệ này là cơ quan nhà nước, nên
công dân phải hoàn toàn nghe theo những quy định này một cách bắt buộc và
không thể đòi hỏi sự công bằng một cách tuyệt đối. Nhà báo cũng cần phải đề
cao ý thức thực hiện nghiêm những quy định về hành chính mà nhà nước đã
đề ra, không thể lợi dông quyền hạn của mình.
Luật báo chí quy định: Nhà báo phải là người có Quốc tịch Việt Nam,
có địa chỉ thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn chính trị, đạo đức và
nghiệp vụ báo chí do Nhà nước quy định, đang hoạt động hoặc công tác
thường xuyên với một cơ quan báo chí Việt Nam và được cấp thẻ nhà báo.
Điều này thể hiện báo chí và nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật. Báo chí hoạt động theo luật pháp, luật pháp quy định thể thức thành lập,
đăng ký, chấm dứt hoặc đình bản hoạt động của cơ quan báo chí. Ngược lại
bằng vai trò, chức năng của mình báo chí làm sáng rõ hơn tính minh bạch của
các văn bản pháp luật, kể cả với bản thân Luật báo chí, làm cho các văn bản
quy phạm pháp luật đi vào cuộc sống dễ dàng hơn, tính khả thi cao hơn.
24
Báo chí là công cụ thông tin tham gia tích cực vào công tác cải cách thể
chế hành chính nhà nước, làm cho các văn bản quy phạm pháp luật trở nên
gần gũi với đời sống xã hội. Trong đó, báo chí đăng tải toàn văn các dự án
luật điều chỉnh về các mặt tổ chức và hoạt động, chế độ công vụ, tài chính,
nhân sự liên quan đÕn hệ thống các cơ quan hành chÝnh nhà nước lấy ý kiến
của nhân dân, của các chủ thể có liên quan, báo chí tổ chức hội thảo tham gia
ý kiến đóng góp vào các văn bản, phóng viên được tạo điều kiện trực tiếp
tham dự các phiên họp của Quốc hội, Chính phủ; báo chí tuyên truyền, phổ
biến, giải đáp các thắc mắc, đăng tải ý kiến, kiến nghị của các bên có liên
quan để hoàn thiện các văn bản.
Thông qua hoạt động của mình báo chí giúp cho các chủ thể dễ dàng
tiếp cận, thay đổi nhận thức và cải biến hành vi. Đơn cử mấy năm qua nếu
như báo chí không tham gia tuyên truyền mạnh mẽ cho việc triển khai rộng