LUẬN VĂN:
Đảng Cộng sản Việt Nam lónh đạo cải
cách nền hành chính nhà nước từ 1986
đến 1996
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền hành chính nhà nước là bộ phận trọng yếu của Nhà nước, có chức năng tổ
chức thực thi pháp luật, đưa ý chí của Đảng và nguyện vọng của nhân dân đã ghi nhận
trong luật pháp được hiện thực hóa. Không thể thực hiện được đúng và đủ ý chí của đảng
cầm quyền, nếu nền hành chính nhà nước yếu kém, kể cả khi ý chí đó đã được thể chế
hóa đầy đủ về mặt lập pháp. Vì vậy, bao giờ và ở đâu còn giai cấp và Nhà nước, thì lúc
đó và ở đó giai cấp cầm quyền luôn tìm mọi cách giữ và chi phối nền hành chính nhà
nước, để qua đó nắm và điều khiển quyền lực nhà nước khi vận hành trên phương diện
hành pháp.
Nhận thức rõ điều đó, từ khi trở thành đảng cầm quyền đến nay, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã hết sức chăm lo xây dựng, củng cố nền hành chính nhà nước đủ khả năng
thực thi đường lối của mình ở từng thời điểm lịch sử cụ thể. Bước vào thời kỳ đổi mới,
cùng với khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, Đảng chủ trương cải cách nền hành
chính nhà nước nhằm tháo gỡ những rào cản trong cơ chế quản lý kinh tế, giải phóng sức
sản xuất, dân chủ hóa đời sống xã hội, phát huy cao nhất năng lực nội sinh của nhân dân,
tạo thế và lực mới để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh những kết quả tích cực
đã đạt được - có thể đo đếm bằng con số, sự kiện và cảm nhận của người dân qua thụ hưởng
trong cuộc sống hàng ngày - thì cũng phải khách quan thấy rằng, cải cách hành chính tiến
hành rất chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Còn thiếu những thể chế
hành chính nhà nước định hướng cho cơ chế quản lý mới phát triển; tổ chức bộ máy vừa
cồng kềnh, vừa kém hiệu lực; phẩm chất và năng lực của công chức còn không ít bất cập;
Đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc cải cách nền hành chính
nhà nước trong những năm đổi mới có mấy nhóm nghiên cứu sau:
Một là: Những nghiên cứu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước về xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về đổi mới sự
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Tiêu biểu trong số này là công trình của Trường
Chinh: "Mấy vấn đề về Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam", (1991); của
Nguyễn Văn Linh: "Đổi mới để tiến lên", (1988); của Đỗ Mười: "Xây dựng nhà nước
của nhân dân - Thành tựu, kinh nghiệm và đổi mới", (1991)... Các công trình nêu trên,
trong một chừng mực nhất định có tổng kết quá trình hình thành và phát triển của nền
hành chính nhà nước Việt Nam mà mỗi giai đoạn có những đặc trưng riêng. Từ tổng
kết bước đầu các giai đoạn lịch sử đã qua, các nghiên cứu này đã trình bày những
quan điểm lớn định hướng cho quá trình tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta
nói chung và nền hành chính nhà nước nói riêng. Tuy không nghiên cứu riêng về nền
hành chính nhà nước, nhưng những quan điểm cơ bản được trình bày trong các tác
phẩm này rất có giá trị, trở thành định hướng để mở rộng nghiên cứu sự lãnh đạo của
Đảng đối với từng cơ quan bộ máy nhà nước, mà ở đó nền hành chính bao giờ cũng
chiếm vị trí nổi bật.
Hai là: Nghiên cứu của các nhà lý luận và các nhà tổ chức thực tiễn về tổ
chức bộ máy nhà nước, về hoạt động của Nhà nước, về nền hành chính nhà nước...
Đáng chú trong số này là công trình của Trần Trọng Đường: "Bộ máy nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam", (1998); của Lê Sĩ Dược: "Cải cách bộ máy hành
chính cấp Trung ương trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta", (2000); của
Thang Văn Phúc: "Cải cách hành chính nhà nước - Thực trạng, nguyên nhân và giải
pháp", (2001); của Nhiều tác giả: "Về nền hành chính nhà nước ta hiện nay - Những kinh
nghiệm xây dựng và phát triển", (1996); của Nguyễn Duy Gia: "Cải cách một bước bộ
máy nhà nước ở nước ta hiện nay", (1996)... Đây là nhóm công trình chiếm số lượng
nhiều nhất, phần nào phác họa được quá trình đổi mới nền hành chính nhà nước trong
những năm qua, bao gồm từ thể chế hành chính nhà nước, tổ chức bộ máy nhà nước,
Bốn là: Nghiên cứu của các tổ chức hoặc cá nhân nhà khoa học nước ngoài về
công cuộc đổi mới ở Việt Nam, trong đó có đề cập ở mức độ này hay mức độ khác,
góc độ này hay góc độ khác về nền hành chính nhà nước. Nổi bật trong số này là công
trình của Dwight H.Perkns, David D. Dapice, Jonathan H.Haughton (chủ biên): "Việt
Nam cải cách theo hướng rồng bay", (1995); Borje Ljunggren (chủ biên): "Những
thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương", (1994); Ngân hàng thế giới:
"Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi", (1998)... Loại trừ những quan điểm
trái ngược với đường lối Đảng ta, thì những công trình loại này đã cho thấy cách nhìn
của người nước ngoài đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam, mà ở đó bất cứ lĩnh vực
nào cũng liên quan đến nền hành chính nhà nước với tư cách là chủ thể tiến hành các
hoạt động cải cách hoặc đối tượng chịu sự tác động, chi phối bởi các quyết định quản
lý hành chính. Một số nghiên cứu về các chính sách kinh tế - xã hội cụ thể đều trực
tiếp khuyến nghị một số giải pháp cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng nền
hành chính gần dân, tăng cường khả năng tham gia của quần chúng vào công việc
Chính phủ, mở rộng các dịch vụ hành chính công nhằm đáp ứng tốt hơn xu hướng văn
minh, tiến bộ và thúc đẩy cải cách kinh tế, xã hội.
Mặc dù chưa có nghiên cứu riêng về Đảng lãnh đạo cải cách nền hành chính
nhà nước trong những năm 1986-1996, song 4 nhóm công trình nêu trên đã cung cấp
một số tài liệu và cách tiếp cận được tác giả kế thừa khi thực hiện đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích: Luận chứng cơ sở lịch sử của các kinh nghiệm được tổng kết với ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạt động lý luận và tổ chức thực tiễn
trên lĩnh vực lãnh đạo cải cách nền hành chính nhà nước.
* Nhiệm vụ:
- Trình bày bối cảnh lịch sử, tính tất yếu và những nhân tố tác động đến quá
trình lãnh đạo cải cách nền hành chính nhà nước của Đảng trong những năm 19861996
- Phân tích, luận giải, làm sáng rõ những quan điểm, đường lối của Đảng cũng
như quá trình tổ chức thực tiễn trong lãnh đạo cải cách nền hành chính nhà nước của
Đảng.
trường hợp cụ thể xây dựng nền hành chính thì thường được sử dụng khi phản ánh đổi
mới có tính mạnh mẽ. "Cải cách" là sự điều chỉnh những mặt bất hợp lý và bổ sung,
sáng tạo thêm những nội dung mới mà trước đó chưa có, nhằm làm cho nền hành
chính nhà nước Việt Nam thể hiện ngày càng đầy đủ, toàn diện và rõ nét hơn bản chất
của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
+ "Nền hành chính nhà nước" gồm nhiều cấp độ tổ chức, đề tài chỉ tìm hiểu
những nét chung nhất của cải cách nền hành chính nhà nước trên phương diện vĩ mô
gắn với vai trò của Chính phủ và các bộ/ngành. Còn về nội dung, đề tài giới hạn ở bốn
khía cạnh: tổ chức bộ máy hành chính, thể chế hành chính, công chức hành chính và
chế độ công vụ.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
- Các nguồn tư liệu sau đây được sử dụng để nghiên cứu đề tài:
+ Các văn kiện của Đảng, Nhà nước.
+ Báo cáo tổng kết, tổng hợp của các cơ quan đảng, Nhà nước, kỷ yếu các kỳ
họp của Quốc hội, báo cáo của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, niên giám
thống kê hàng năm của Tổng cục Thống kê...
+ Kế thừa tài liệu từ công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài
nước có liên quan đến đề tài được đăng tải trên các báo, tạp chí và các loại ấn phẩm
khác.
- Để thực hiện luận văn, tác giả đã vận dụng, kết hợp hai phương pháp chính
là lịch sử và lôgíc. Phương pháp lịch sử được quán triệt trong phân kỳ, trình bày tiến
trình phát sinh, phát triển của mỗi chủ trương, chính sách, là cơ sở khoa học cho việc
đúc rút các nhận xét và kết luận. Phương pháp lôgíc được thể hiện trong trình bày
từng chương, tiết, đặc biệt là những vấn đề mang tính khái quát như đúc rút nhận xét
và tổng kết kinh nghiệm. Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp khác như đồng
vệ Nhà nước nói chung và nền hành chính nhà nước nói riêng trở thành một nội dung
trọng yếu trong chức năng lãnh đạo của Đảng. Đến trước Đại hội VI, nền hành chính nhà
nước cách mạng Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển mà mỗi giai đoạn gắn
với những sắc thái riêng trong nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng.
1.1.1. Thời kỳ 1945 - 1975
Từ 1945 đến 1975 là thời kỳ nền hành chính nhà nước cách mạng mới ra đời,
được xây dựng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng giải phóng dân tộc và sau đó
xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc, với các giai đoạn chính sau đây:
- Từ 1945 đến 1946: Đây là giai đoạn Đảng Cộng sản Việt Nam mới bước lên địa
vị cầm quyền, tiến hành xây dựng nền hành chính nhà nước cách mạng trở thành công cụ
cơ bản để điều hành công cuộc "kháng chiến" và "kiến quốc". Mới giành được chính
quyền về tay nhân dân, Nhà nước cách mạng non trẻ đã phải đối phó với sự chống phá
quyết liệt của thù trong, giặc ngoài. Đặc điểm này chi phối rất lớn đến tổ chức bộ máy, cơ
chế vận hành của nền hành chính nhà nước cũng như phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với nền hành chính nhà nước.
Một là: Chính phủ lâm thời được thiết lập từ cuộc Cách mạng Tháng Tám đã
từng bước được hợp thức hóa sau cuộc Tổng tuyển cử (6-1-1946). Sau Tổng tuyển cử,
Đảng tiếp tục lãnh đạo bầu ra Chính phủ chính thức và lãnh đạo bầu cử Hội đồng nhân
dân địa phương và cơ sở (3-1946), kiện toàn ủy ban hành chính các cấp. Đặc điểm của
nền hành chính nhà nước giai đoạn này là: 1) Hội đồng nhân dân chỉ được thiết lập ở 2
cấp: tỉnh và xã, riêng khu vực đô thị thiết kế theo mô hình chính quyền một cấp hoàn
chỉnh nên Hội đồng nhân dân chỉ có ở cấp thành phố (hoặc thị xã); 2) ủy ban hành chính
được thiết lập ở 4 cấp: kỳ, tỉnh, huyện và xã.
Hai là: Cơ cấu tổ chức của cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương lúc mới
hình thành luôn ở trong trạng thái "động", phải thường xuyên cải tổ, thực hành liên hiệp,
với sự tham gia rộng rãi của nhiều lực lượng chính trị, đảng phái, nhằm xây dựng khối
đoàn kết dân tộc và hạn chế sự chống phá của thù trong, giặc ngoài. Sắc lệnh số 75/SL
(17-12-1945) về trưng tập công chức phục vụ kháng chiến là nỗ lực nằm trong mục tiêu
18].
- Từ 1947 đến 1954: Đây là giai đoạn Đảng lãnh đạo toàn quốc kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược, nền hành chính nhà nước được điều chỉnh nhằm đảm bảo
thích ứng với yêu cầu chỉ đạo, điều hành cuộc kháng chiến. Toàn quốc kháng chiến bùng
nổ đã đặt ra nhu cầu tăng cường khả năng chỉ đạo tập trung, thống nhất của nền hành
chính nhà nước. Do đó, Hiến pháp năm 1946 chưa có điều kiện cụ thể hóa thành các đạo
luật, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn buộc phải sử dụng sắc lệnh để điều hành đất nước, tăng
cường quyền lực của người đứng đầu nền hành chính nhà nước. Đối với cơ quan hành
chính địa phương, để phù hợp với nhu cầu chỉ đạo một đất nước trải dài từ Bắc đến Nam,
từ cuối 1945 đã hình thành các chiến khu với chức năng quân sự, đến khi toàn quốc
kháng chiến bùng nổ được đổi thành các "khu" (từ 12-1946 đến 1-1948), rồi "liên khu"
(từ 1-1948) với sự kiêm nhiệm chức năng hành chính và quân sự. Chính quyền từ tỉnh
xuống xã cũng hợp nhất giữa ủy ban kháng chiến và ủy ban hành chính thành ủy ban
kháng chiến - hành chính với chức năng hành chính - quân sự nêu trên. Mặc dù phải tập
trung điều hành cuộc kháng chiến, nhưng Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh,
vẫn tập trung nhiều nỗ lực xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; chỉnh đốn tác phong của
cơ quan hành chính các cấp; ban hành nhiều chính sách đáp ứng nhu cầu của thực tiễn
cuộc kháng chiến và chuẩn bị tiền đề cho giai đoạn phát triển sau. Nỗ lực ấy được phản
ánh ở việc Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tâm lực, trí lực viết tác phẩm "Sửa đổi lối làm
việc" (1947) để làm tài liệu huấn luyện, giáo dục cán bộ, công chức; thành lập hệ thống
các trường đào tạo cán bộ; ban hành Sắc lệnh 188/SL (9-5-1948) lập chế độ công chức
với thang lương chung các ngạch và các hạng phù hợp với chính thể dân chủ cộng hòa;
ban hành Sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công chức ấn định những nghĩa vụ, quyền lợi, tổ
chức quản lý, sử dụng, tuyển dụng, thăng thưởng, hưu trí, kỷ luật, thôi việc... đối với
công chức. Đây là những văn bản pháp luật về công chức mang tính khoa học, dân chủ,
có hiệu lực cao và nội dung hoàn chỉnh phù hợp với nền công chức hiện đại lúc bấy giờ
đang thực hiện ở một số nước phát triển trên thế giới.
- Từ 1954 đến 1975: Đây là giai đoạn đất nước bị chia làm hai miền, phải tiến
tăng lên (xem biểu 1), vì vậy, ngày 5-11-1974 Chính phủ đã ra Nghị định số 245/CP về
tinh giản bộ máy hành chính nhà nước.
Bảng 1.1: Thống kê diễn biến số lượng cán bộ, công chức
những năm 1954 - 1975
Năm
1954
1955
Số
lượng
44.620 98.752
(người)
Năm
1963
Số
1965
1956
116.55
1
1968
160.00 240.60 281.19 320.91 240.60 418.95 474.02 478.41
lượng
(người)
0
0
1
9
0
8
8
7
Nguồn: [65].
Nhìn chung, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền hành chính nhà nước trên miền Bắc
sau năm 1954 đã được điều chỉnh cho thích ứng với yêu cầu chuyển từ điều hành kháng
chiến sang điều hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc và có những thời
đoạn chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, đảm
đương vai trò hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Nền hành chính nhà
nước đó mặc dù tổ chức và hoạt động trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, song
nước được tiếp tục xây dựng và củng cố.
Về tổ chức bộ máy nền hành chính nhà nước, đã được điều chỉnh lại từ Trung
ương đến địa phương theo Hiến pháp năm 1980 và các luật tổ chức nhà nước. Theo đó,
thiết chế Hội đồng Chính phủ được chuyển thành Hội đồng Bộ trưởng, Thủ tướng Chính
phủ được chuyển thành Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; lập thiết chế Chủ tịch Hội đồng nhà
nước - tổ chức và hoạt động theo nguyên lý chế độ nguyên thủ tập thể - để thay thế cho thiết
chế Chủ tịch nước trước đó. Nếu như Hiến pháp năm 1959 xác định hai tư cách của Hội
đồng Chính phủ là: 1) "cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất"; 2) "và
là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa" [34, tr.
53], thì Hiến pháp năm 1980 chỉ xác định một tư cách của "Hội đồng Bộ trưởng... là cơ
quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất" [34, tr. 113-114]. Địa giới hành chính các tỉnh cũng được điều chỉnh theo hướng
sáp nhập các tỉnh nhỏ thành tỉnh lớn.
Về thể chế hành chính, giai đoạn này, Quốc hội đã có nhiều nỗ lực ban hành các
đạo luật và Chính phủ ban hành các văn bản dưới luật cần thiết phục vụ yêu cầu xây dựng
tổ chức bộ máy nhà nước và quản lý kinh tế - xã hội như: Luật tổ chức Hội đồng Bộ
trưởng (4-7-1981), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (30-6-1983),
Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ (20-5-1981), Pháp lệnh về việc xét và giải quyết đơn thư
khiếu nại và tố cáo của công dân (27-11-1981), Pháp lệnh về trừng trị các tội đầu cơ,
buôn bán hàng lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép (30-6-1982), Điều lệ xí nghiệp
công nghiệp quốc doanh (1-12-1978)... Trong khuôn khổ cơ chế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp, song Chính phủ cũng đã có một số văn bản dưới luật thể hiện dấu hiệu đổi mới,
phản ánh sự thể chế hóa quan điểm của Hội nghị Trung ương sáu khóa VI của Đảng (91979) như: Quyết định tiến hành cải cách giáo dục phổ thông (27-3-1981), Quyết định
25/CP (21-1981) về thực hiện "ba phần kế hoạch" trong các xí nghiệp quốc doanh,
Quyết định 26/CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán sản phẩm và vận dụng hình
thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh của Nhà nước.
Về chế độ công chức, công vụ, chế độ tiền lương, Chính phủ đã ban hành nhiều
văn bản dưới luật quy định lề lối làm việc, chính sách và chế độ với cán bộ, như: Quyết
những vấn đề quan trọng của đất nước. Vì không thực hiện tốt chức năng lập pháp nên
thiếu những luật pháp cần thiết tạo khuôn khổ pháp lý cho nền hành chính nhà nước vận
hành, để lại những khoảng trống mà những cán bộ tha hoá, biến chất trong hànhcác cơ
quan công quyền lạm dụng, đẩy các tệ nạn trong bộ máy nhà nước gia tăng. Vì buông
lỏng chức năng giám sát tối cao, thậm chí gần như lãng quên, nên những biểu hiện lạm
quyền và sai phạm trong cơ quan hành chính nhà nước ít bị ngăn chặn, phát hiện và đưa
ra ánh sáng. Vì buông lỏng vai trò của Quốc hội trong quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước, chính xác hơn là có thông qua tại các kỳ họp của Quốc hội một cách
hình thức, chiếu lệ, không được nghiên cứu cẩn trọng, nên dẫn tới các cơ quan hành
chính nhà nước quyết định tùy tiện những vấn đề lớn của đất nước, nhiều khi gây ra hậu
quả nghiêm trọng, mà các chủ trương nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, công
nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa... là những ví dụ điển hình.
- Hiểu và vận dụng nguyên tắc "tập trung dân chủ" trong xây dựng nền hành
chính nhà nước chưa thấu đáo. Mặc dù đường lối của Đảng vẫn khẳng định phải quán
triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng bộ máy nhà nước, nhưng trên thực tế
thiết kế mô hình tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của Nhà nước lại chưa xử lý đúng
đắn mối quan hệ giữa tập trung và dân chủ. Nguyên tắc tập trung dân chủ khi vận dụng
vào từng trường hợp cụ thể của hệ thống chính trị chưa được làm sáng tỏ, nhất là sự khác
nhau trong xây dựng cơ quan lãnh đạo đảng và bộ máy nhà nước, giữa cơ quan dân cử
hoạt động theo chế độ tập thể và nền hành chính theo chế độ thủ trưởng, giữa cơ quan
hành chính nhà nước Trung ương, địa phương và cơ sở. "Tập trung" là một thuộc tính
vốn có của quyền lực nhà nước, nhưng "tập trung" lại chưa dựa trên nền tảng "dân chủ",
không bị kiểm soát bởi một "cơ chế dân chủ", nên dẫn tới tha hóa quyền lực ở các tầng
nấc khác nhau của cơ quan hành chính nhà nước. Vì thế dẫn tới tình trạng Trung ương
không kiểm soát hết địa phương, cấp trên không nắm hết được tình hình cấp dưới, các cơ
quan quản lý nhà nước không bao quát hết đối tượng quản lý. Càng tập trung cao độ theo
cơ chế kế hoạch hóa, càng dẫn tới quan liêu và ngày càng xa rời quần chúng, không nắm
hết những vận động của quy luật khách quan đang tồn tại trong thời kỳ quá độ.
- Các "cơ quan quản lý hành chính- kinh tế can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất
955.828
1984
1.991.510
1985
1.235.010
1986
1.195.923
(nguời)
Nguồn: [65].
- Chế độ chính sách đối với cán bộ được thực hiện bằng cung cấp giá trị hiện
vật, theo lối bình quân, không tạo được động lực cho đội ngũ cán bộ phấn đấu. Thêm vào
đó đời sống ngày càng khó khăn, phân phối hiện vật không đáp ứng được nhu cầu tái tạo
sức lao động, dẫn tới đội ngũ cán bộ chỉ chú ý đến "làm kế hoạch 3" để giải quyết sinh
kế, không chú tâm với công việc. Công vụ hành chính vốn đã bị nghiệp dư hóa, cộng
thêm đời sống khó khăn và sự không chú tâm đó, càng đẩy hoạt động của nền hành chính
nhà nước rơi vào trì trệ, xơ cứng, quan liêu, xa dân, cán bộ không thiết tha với công việc,
ngại phấn đấu học tập để nắm bắt các tri thức quản lý, năng lực ngày càng bị mai một.
- Thể chế hành chính nhà nước được ban hành chủ yếu xuất phát từ nhu cầu đảm
bảo chức năng thống trị chính trị, thiếu những thể chế hành chính phục vụ nhu cầu quản
lý đời sống kinh tế - xã hội. Nhìn các đạo luật được ban hành giai đoạn này có thể thấy rất
rõ điều đó, chủ yếu là các luật tổ chức bộ máy nhà nước, luật hình sự, rất ít luật về kinh
tế, dân sự. Trong khi đó những đổi mới từng phần bắt đầu khởi động từ sau Hội nghị
Trung ương sáu khóa IV (9-1979) đã dẫn tới sự định hình "thị trường tự do" bên cạnh "thị
trường có tổ chức", mà lại thiếu thể chế hành chính để quản lý. Điều đó dẫn tới những
đòn bẩy cho toàn bộ guồng máy xã hội chuyển động theo hướng tích cực.
Sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong thời gian
này cũng đặt ra những yêu cầu phải xây dựng lại cơ cấu của bộ máy và nền hành chính
nhà nước, đặc biệt là thể chế quản lý kinh tế. Có thể khẳng định rằng quá trình tìm tòi
đường lối đổi mới của Đảng được đánh dấu bằng Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
lần thứ 6 (khóa IV) (8/1979) với nghị quyết khuyến khích sản xuất phát triển, "làm cho
sản xuất "bung ra". Cũng chính từ đó, Đảng ta đã dần nhận ra sự hạn chế của cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, từng bước thử nghiệm cơ chế mới: cơ chế kế hoạch hóa tập trung
theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Sự đổi mới bước đầu trong cơ
chế quản lý kinh tế đòi hỏi có những cải cách về chức năng và thiết chế hành chính nhằm
tạo môi trường cho hoạt động kinh tế diễn ra đúng hướng.
Bên cạnh đó, yêu cầu phải nhanh chóng tiến hành đổi mới nội dung và phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với nền hành chính nhà nước cũn xuất phỏt từ những biến
đổi của tình hình thế giới. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt là từ sau cuộc
"khủng hoảng dầu mỏ" đầu những năm 70 của thế kỷ XX, một xu thế mới đã diễn ra trên
thế giới: cải cách hành chính là công việc phổ biến của tất cả các quốc gia hiện đại.
Nhiều nước lấy cải cách hành chính làm cơ sở để nâng cao hiệu lực quản lý của Chính
phủ trong việc phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường tiềm lực cho đất nước. Kinh
nghiệm thành công và nhanh chúng thoỏt khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xó hội của các
quốc gia phát triển đó chỉ ra rằng: mỗi quốc gia thiết lập được một nền hành chính thích
hợp và hiệu quả là nguồn lực quan trọng của sự phát triển.
Các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc, một quốc gia xã hội chủ nghĩa
ngay bên cạnh chúng ta, đã sớm nhận ra yêu cầu đó và bắt đầu hành động. Từ năm 1978,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc mà trực tiếp là Đặng Tiểu Bình, Trung
Quốc đã tiến hành công cuộc cải cách thể chế chính trị với trọng tâm là tách biệt chức
năng lónh đạo của Đảng ra khỏi chức năng quản lý của Nhà nước, trong đó, thông qua cải
cách thể chế chính trị, chủ trương nâng cao năng lực hành chính của chính quyền, xử lý
đúng đắn chức năng của Đảng và chức năng của chính quyền để vừa xây dựng Đảng cầm
nước ta là [18, tr. 119]:
- Thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ thể.
- Xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội và cụ thể hóa chiến lược đó thành những
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Quản lý hành chính xã hội và hành chính kinh tế; điều hành các hoạt động kinh
tế, xã hội trong toàn xã hội theo kế hoạch của Nhà nước, phát hiện những mất cân đối và
đề ra những biện pháp để khắc phục.
- Thực hiện một quy chế làm việc khoa học, có hiệu suất cao.
- Xây dựng bộ máy gọn nhẹ, có chất lượng cao, với một đội ngũ cán bộ có phẩm
chất chính trị và có năng lực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
Dù không trình bày nội dung riêng về cải cách nền hành chính nhà nước, song
những tư tưởng đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước nêu trên đã cho thấy rõ quan
điểm của Đảng về cải cách nền hành chính nhà nước, đặt trong tổng thể cải cách nhà
nước và rộng hơn là cả hệ thống chính trị, được vận hành đồng thời với sự nghiệp đổi
mới toàn diện. Quan điểm đổi mới được thể hiện ở mấy nội dung cơ bản sau:
Một là: Xác định rõ trong thời kỳ quá độ Nhà nước ta là công cụ của chế độ làm
chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, do giai cấp công nhân và nhân dân lao động tổ chức thành
quyền lực chính trị, "đó là Nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ xã
hội chủ nghĩa" [18, tr. 117]. Đây là quan điểm bao trùm định hướng cho cải cách nhà
nước, khẳng định cải cách nhà nước không phải thay đổi bản chất của Nhà nước, mà
nhằm làm cho nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng thể hiện đầy đủ và thực chất hơn,
phát huy tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong chế độ mới. Mà ở đó cải cách nền
hành chính nhà nước là nội dung nhạy cảm nhất, đụng chạm trực tiếp và thường xuyên
đến cuộc sống thường nhật của nhân dân và hoạt động của các tổ chức kinh tế nên phải
được coi trọng và tiến hành đi trước một bước.
Hai là: Tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế khỏi chức năng quản lý sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp để làm cơ sở cho cải cách nền hành chính nhà nước
và phát huy quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở. Đây là yêu cầu quan trọng hàng