5
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chức năng xã hội là một chức năng cơ bản của Nhà nước, tồn tại khách
quan trong tất cả các kiểu nhà nước, là chức năng xuất phát từ nhu cầu chung,
lợi Ých chung của toàn bộ xã hội, nhằm tổ chức và quản lý đời sống cộng
đồng, duy trì một trật tự chung đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển.
Trong lịch sử các tư tưởng và học thuyết pháp lý đã từng xuất hiện
những quan điểm về chức năng xã hội của Nhà nước. Dưới nhiều cấp độ và
cách thể hiện khác nhau, nhiều nhà tư tưởng trong các thời kỳ phát triển của
xã hội đã thừa nhận Nhà nước có chức năng xã hội nhưng những quan điểm
đó có sự khác nhau do bị chi phối bởi lợi Ých giai cấp và điều kiện lịch sử.
Trong những năm gần đây, trước những đổi thay lớn lao của đời sống
quốc tế và sự sụp đổ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, đòi
hái chóng ta phải có sự nhận thức lại đúng đắn các quan điểm của học thuyết
Mác - Lênin, trong đó có việc nhận thức lại một số vấn đề lý luận về Nhà
nước và pháp luật. Trong thời đại ngày nay, khi mà những tiến bộ, những
thành tựu của khoa học kỹ thuật đã làm cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá
nhân trở thành một tất yếu như Mác đã từng tiên đoán thì xu hướng chung của
các Nhà nước trên thế giới là xác định lại vai trò của mình trong xã hội, từ đó
Nhà nước hướng các hoạt động vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, vì sự
phát triển toàn diện của con người. Do đó, vấn đề chức năng xã hội của Nhà
nước đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học (chính
trị, pháp lý...), trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong các
chế độ Nhà nước khác nhau.
Từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, trong tất cả các giai đoạn
phát triển của mình, với tính cách là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và
7
việc quan tâm, chú trọng đến chức năng nhà nước nói chung, chức năng xã
hội của Nhà nước nói riêng là một yêu cầu khách quan trong quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ở nước ta hiện nay, trên phương diện lý luận, đã xuất hiện một số
quan điểm khác nhau về vai trò, phạm vi, nội dung, phương thức thực hiện
chức năng xã hội của Nhà nước. Những quan điểm đó có ý nghĩa chi phối,
ảnh hưởng lớn đến việc củng cố và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, đến mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên
đây vẫn còn là một vấn đề khá mới mẻ. Điều đó chứng tỏ trên phương diện
nhận thức, lý luận, chức năng của Nhà nước nói chung, chức năng xã hội của
Nhà nước nói riêng là những vấn đề quan trọng cần được quan tâm đúng mức.
Những năm qua, nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện
đất nước, chúng ta đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan,
vẫn còn nhiều vấn đề xã hội bức xúc đòi hỏi Nhà nước phải tiếp tục giải quyết
với tư cách là chủ thể tổ chức và quản lý xã hội.
Từ thực trạng đó, đặt ra yêu cầu là vấn đề chức năng xã hội của Nhà
nước cần được tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, góp phần bổ sung lý
luận khoa học cho công cuộc củng cố và hoàn thiện Nhà nước ta trong giai
đoạn cách mạng hiện nay. Vì vậy, việc tác giả chọn đề tài "Chức năng xã hội
của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" có ý nghĩa cả về lý
luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Trước thời kỳ đổi mới, ở nước ta, trên giác độ khoa học pháp lý, vấn
đề chức năng xã hội của Nhà nước hầu như không được đề cập tới, thậm chí
còn như là một "điều cấm kỵ" [41, tr. 13] . Điều đó xuất phát từ quan điểm
Nhà nước trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường, với ý nghĩa là sự can
thiệp của Nhà nước vào việc giải quyết các vấn đề xã hội - những vấn đề được
coi là hậu quả do tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với con người và
9
xã hội. Vấn đề này được thể hiện trong "Tạo dùng một nền văn minh mới chính trị của làn sóng thứ ba" của các học giả Alvin Toffler và Heidi Tolleler,
trong quan điểm của các nhà khoa học và chính trị gia Nga tại Hội nghị khoa
học "Vai trò của Nhà nước trong sự hình thành và điều tiết kinh tế thị trường"
tại Matxcơva tháng 4/1997, trong "Nhà nước, thị trường và viện trợ - những
vai trò mới định lại" của nhóm chuyên gia tổ chức SIDA Thụy Điển, trong
"Đổi mới hoạt động của Chính phủ" của Đêvít Âubớt và Tét Gheblơ, trong
"Nhà nước trong một thế giới chuyển đổi" của Ngân hàng thế giới năm 1997...
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Tác giả lùa chọn nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về chức năng
xã hội của Nhà nước ta nhằm:
- Góp phần hoàn thiện lý luận về chức năng của Nhà nước ta mà
trọng tâm là chức năng xã hội theo giác độ pháp lý.
- Đánh giá thực trạng thực hiện chức năng trong thời gian qua, để trên
cơ sở đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện chức năng
xã hội của Nhà nước ta trong điều kiện hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, luận án có các nhiệm vụ
như sau:
- Nhận thức lại tính chất, nội dung chức năng xã hội của Nhà nước
trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
- Làm sáng tỏ những nội dung của chức năng xã hội của Nhà nước ta.
- Phân tích những hình thức, biện pháp thực hiện các nhiệm vụ, mục
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
11
- Luận án đã hệ thống hóa được những quan điểm, những cách tiếp
cận về chức năng nhà nước nói chung, chức năng xã hội của Nhà nước nói
riêng đã được thể hiện trong các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học pháp
lý.
- Nghiên cứu chức năng xã hội của Nhà nước trong mối quan hệ với
những vấn đề cơ bản của Nhà nước như: điều kiện xuất hiện, bản chất nhà
nước... để chỉ rõ chức năng xã hội của Nhà nước xuất hiện rất sớm - ngay khi
Nhà nước xuất hiện với tư cách là một tổ chức công quyền và sự tồn tại của
chức năng xã hội của Nhà nước là một tất yếu khách quan.
- Bước đầu vạch ra được sự phát triển của chức năng xã hội trong lịch sử
phát triển của Nhà nước nói chung, lịch sử phát triển của Nhà nước ta nói riêng.
- Khái quát được những nội dung cơ bản của chức năng xã hội của
Nhà nước ta trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
- Từ sự phân tích, đánh giá về lý luận và thực tiễn việc thực hiện chức
năng xã hội của Nhà nước ta trong thời gian vừa qua, đặc biệt là trong 16 năm
thực hiện công cuộc đổi mới, luận án đã khái quát được một cách hệ thống
những hình thức, biện pháp thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước trong điều
kiện cụ thể của nước ta, đồng thời khẳng định rằng, trong điều kiện nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay phải tăng cường chức năng xã
hội của Nhà nước, coi chức năng xã hội là một bộ phận quan trọng của chức
năng nhà nước.
- Bước đầu luận án đã đưa ra những định hướng, giải pháp về nâng
cao hiệu quả việc thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước ta trong điều
kiện, hoàn cảnh hiện nay.
6. Kết cấu của luận án
định, cho phép chúng ta phân định nó với các phạm trù khác của lý luận về
Nhà nước và pháp luật, là một trong những cơ sở lý luận quan trọng cho việc
nghiên cứu chức năng xã hội của Nhà nước.
13
Theo cách hiểu truyền thống, phổ biến nhất từ trước đến nay, thể hiện
trong nhiều giáo trình, nhiều sách ở Liên Xô trước đây và hiện đang lưu hành
ở Việt Nam, "chức năng của Nhà nước" là những phương diện (những
phương hướng, mặt, dạng, loại) hoạt động chủ yếu của Nhà nước nhằm thực
hiện những nhiệm vụ đặt ra trước Nhà nước.
Như bất kỳ một hiện tượng xã hội nào, Nhà nước tồn tại và phát triển
thông qua những mối liên hệ biện chứng của nó, thể hiện trong các hoạt động
của Nhà nước tác động vào thế giới tự nhiên, thế giới vật chất, vào các quan
hệ xã hội và thế giới tinh thần của con người. Mỗi chức năng cụ thể của Nhà
nước thể hiện sự thống nhất của nội dung, hình thức và biện pháp thực hiện
quyền lực nhà nước trong một lĩnh vực hoạt động nhất định của Nhà nước,
gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. Nhưng chức năng của
Nhà nước không chỉ tồn tại trong mối liên hệ với nhiệm vụ Nhà nước mà còn
phản ánh bản chất và vai trò, vị trí của Nhà nước đối với xã hội - xuất phát
điểm đồng thời là mục tiêu hoạt động của Nhà nước. Vì thế, quan điểm này
tuy đã lý giải "chức năng của Nhà nước" tương xứng với hiện tượng "Nhà
nước", là phù hợp hơn cả so với một số quan điểm khác nhưng vẫn chưa thật
đầy đủ.
Quan điểm thứ hai xuất phát từ bản chất nhà nước, cho rằng chức năng
của Nhà nước được xem xét như những thuộc tính cơ bản bên trong của Nhà
nước, phản ánh hai thuộc tính đặc trưng của bản chất nhà nước với tư cách là
tổ chức thống trị giai cấp và tổ chức đại diện chính thức cho xã hội . Quan
điểm này hợp lý ở chỗ đã khẳng định sự tồn tại khách quan của chức năng
thức thực hiện chúng.
Tuy có những khác biệt nhất định trong mỗi cách hiểu chức năng nhà
nước đã đề cập ở trên nhưng nhìn chung chúng đều xuất phát trên cơ sở chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của học thuyết Mác - Lênin
về nguồn gốc, bản chất, vị trí, vai trò của Nhà nước trong đời sống xã hội, đặt
15
hin tng Nh nc trong quỏ trỡnh vn ng v phỏt trin ca xó hi theo
cỏc quy lut khỏch quan ca nú.
Trong bi cnh hin nay, theo chỳng tụi, cú th gúp phn xỏc nh
mt khỏi nim y v "chc nng ca Nh nc", cn lm sỏng t mt s
lun im sau:
- Chc nng nh nc gn lin vi iu kin xut hin v bn cht
ca Nh nc
Nh nc l mt hin tng xó hi vụ cựng phc tp, cú lch s phỏt
sinh, tn ti v phỏt trin riờng ca nú. Xut phỏt t nhng phõn tớch v s tn
ti, phỏt trin v tan ró ca ch cng sn nguyờn thy tỡm ra ngun gc
Nh nc, hc thuyt Mỏc - Lờnin khng nh rng: Nh nc ch xut hin
v tn ti trong nhng giai on nht nh ca lch s xó hi loi ngi vi
nhng iu kin kinh t - xó hi nht nh. Nhng iu kin ú l "
tồn tại, phát triển và tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy để tìm ra
nguồn gốc Nhà nớc, học thuyết Mác - Lênin khẳng định rằng: Nhà nớc chỉ
xuất hiện và tồn tại trong những giai đoạn nhất định của lịch sử xã hội loài
ngời với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Những điều kiện đó
là "s xut hin v tn ti ca ch t hu v t liu sn xut v xó hi
phõn chia thnh giai cp, cuc u tranh gia cỏc giai cp ấy tr nờn
"khụng th iu hũa c" [74, tr. 7]. Ch t hu v t liu sn xut xut
hin l nguyờn nhõn c bn a n s khỏc bit, mõu thun v a v v li
giai cấp và đấu tranh giai cấp và theo đúng nghĩa của nó là một bộ máy trấn
áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác nên Nhà nước bao giê cũng
thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh:
trong bất kỳ xã hội có giai cấp nào, Nhà nước bao giê cũng thuộc về một giai
cấp, một lực lượng chính trị nào đó trong xã hội, chính xác hơn, Nhà nước luôn
thuộc về giai cấp nắm trong tay những tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội. Nhà
nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay giai cấp thống trị, là
17
công cụ sắc bén nhất để duy trì sự thống trị giai cấp: đảm bảo sự thống trị về
kinh tế, thực hiện quyền lực về chính trị và tác động về tư tưởng đối với quần
chóng. Luận điểm mác-xít về bản chất giai cấp của Nhà nước đúc kết trong kết
luận của Ăngghen: Nhà nước là "Nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, của
cái giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có Nhà nước mà còng trở thành
giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện
mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức... Nhà nước là một tổ chức của
giai cấp hữu sản, dùng để bảo vệ giai cấp này chống lại giai cấp không có
của" [47, tr.255-256]. "Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất
thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần... Những tư tưởng
thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện của những quan hệ
vật chất thống trị..., được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng" [45, tr. 67-68].
Đồng thời, trong bất kỳ xã hội nào, Nhà nước luôn giữ vai trò là người
đại diện chính thức của toàn xã hội, là trung tâm giải quyết các công việc
chung của xã hội mà cá nhân công dân không thể giải quyết được. Nhà nước
phải chú ý đến lợi Ých chung của toàn xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội,
ổn định và phát triển, thực hiện những hoạt động nhất định phù hợp với yêu
cầu của xã hội, thông qua đó mà bảo đảm các lợi Ých nhất định của các giai
cấp, tầng líp khác trong xã hội trong chõng mực các lợi Ých đó không quá
Nhà nước là tổ chức chính trị của giai cấp thống trị về kinh tế và bởi các giai
cấp có quyền lợi đối nghịch nhau nên chức năng nhà nước trước tiên được hình
thành là nhằm để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị. Nhưng đồng thời, xuất
phát từ bản chất xã hội, bất kỳ Nhà nước nào cũng thực hiện các hoạt động
với tư cách là người đại diện chính thức cho quyền lợi của toàn xã hội nên có
những chức năng nhà nước phát sinh từ bản chất tự nhiên của mọi xã hội, từ
nhu cầu của chính xã hội, nhằm duy trì và bảo vệ những điều kiện tồn tại và
phát triển của xã hội. Vì vậy, chức năng nhà nước có tính giai cấp và tính xã
hội.
19
Từ khi ra đời, Nhà nước giữ một vị trí và vai trò quan trọng trong xã
hội có giai cấp, thể hiện trong mối quan hệ giữa Nhà nước và xã hội, giữa
Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Xã hội là cơ sở cho sự phát sinh,
tồn tại, phát triển và diệt vong của Nhà nước. Ngược lại, Nhà nước là một bộ
phận quan trọng, không thể thiếu được của xã hội có giai cấp. Nhờ có các cơ
quan đặc biệt cùng các phương tiện vật chất kèm theo nên Nhà nước có thể
tác động toàn diện, mạnh mẽ đến đời sống xã hội. Nhà nước giữ vai trò quan
trọng trong việc thực hiện những lợi Ých cơ bản của giai cấp thống trị và duy
trì những điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Đó chính là sứ
mệnh lịch sử của Nhà nước trong tiến trình phát triển của xã hội, thể hiện
thông qua các chức năng của Nhà nước.
Từ nhận thức về nguồn gốc và bản chất và vị trí, vai trò của Nhà
nước, chúng ta có thể khẳng định rằng: Nhà nước xuất hiện là để thực hiện sứ
mệnh của một thiết chế quản lý xã hội, với hai nhiệm vụ cơ bản là duy trì sự
thống trị giai cấp và duy trì sự tồn tại, phát triển của toàn xã hội. Các chức
năng nhà nước được hình thành xuất phát từ những nhiệm vụ cơ bản đó. Ngay
từ khi mới ra đời, Nhà nước có hai tư cách: là công cô giai cấp - bảo đảm duy
của xã hội đó, tạo ra của cải vật chất phục vụ cho mọi nhu cầu của con người
và của xã hội. Trong mối quan hệ với Nhà nước, cơ sở kinh tế giữ vai trò
quyết định. Nhà nước thực hiện các chức năng của mình là để giải quyết các
vấn đề lợi Ých mà trước hết là lợi Ých kinh tế, thứ lợi Ých do quan hệ sở hữu
trực tiếp quyết định. Như vậy, suy đến cùng, quan hệ sở hữu cơ bản, nền tảng
trong một chế độ xã hội có ý nghĩa quyết định đến chức năng nhà nước nên
việc bảo vệ chế độ sở hữu là nền tảng của chế độ Nhà nước đó phản ánh rõ
nét mối tương quan của hai tính chất trong chức năng nhà nước.
Mỗi chế độ xã hội được xây dựng, tồn tại và phát triển trên một cơ sở
xã hội nhất định tương ứng với nó, bao gồm các giai cấp và tầng líp xã hội
cùng những mối quan hệ giữa các giai tầng đó trong xã hội. Cơ cấu giai cấp
và sự thay đổi cơ cấu giai cấp trong các chế độ xã hội cũng như sự vận động,
21
phát triển và thay đổi vị trí, vai trò của các giai tầng, nhóm xã hội, cộng đồng
dân téc, tôn giáo... trong từng chế độ xã hội là một trong những nhân tố quyết
định đến chức năng của Nhà nước. Cơ cấu giai cấp - xã hội do quan hệ sản
xuất quyết định. Khi phương thức sản xuất thay đổi dẫn đến hình thái kinh tế xã hội thay đổi thì đương nhiên cơ cấu giai cấp cũng thay đổi. Mâu thuẫn nội
tại của phương thức sản xuất (giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất)
cùng với những mâu thuẫn nội tại trong từng mặt của quan hệ sản xuất trong
các xã hội có giai cấp đối kháng biểu hiện thành mâu thuẫn giai cấp và đấu
tranh giai cấp [39, tr. 89] dẫn đến tình trạng phân chia, đối đầu giữa các nhóm
xã hội (giai cấp, dân téc, tôn giáo...). Giai cấp và cơ cấu giai cấp phản ánh mối
quan hệ đa dạng về lợi Ých của các giai cấp, tầng líp trong xã hội. Lợi Ých
chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của con người, là động lực của sự
phát triển xã hội. Chức năng của Nhà nước thể hiện sự can thiệp, điều tiết của
Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, suy đến cùng là nhằm giải
quyết mối quan hệ lợi Ých của con người nên chỉ có thể thực hiện một cách
hình thức thể hiện quyền lực nhà nước, luôn gắn với cơ cấu quyền lực nhà
nước. Quyền lực nhà nước là vấn đề then chốt để xác định chức năng nhà
nước. Aristốt quan niệm rằng, mọi phóc lợi xã hội và sự khác nhau giữa các
hình thức chế độ Nhà nước phụ thuộc vào cách thức tổ chức quyền lực của
mọi thiết chế chính trị - là một trật tự dùa trên sự phân công các quyền lực
nhà nước. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong bất kỳ xã
hội có giai cấp nào, quyền lực nhà nước cũng vẫn là quyền lực của giai cấp
thống trị, là công cụ chuyên chính của một giai cấp, thể hiện trên ba phương
diện: thống trị về chính trị, về kinh tế và về tư tưởng đồng thời duy trì những
điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội. Mặt khác, quyền lực nhà nước là
một bé phận của quyền lực chính trị nên có tính giới hạn, dẫn đến chức năng nhà
nước còng có giới hạn của nó. Từ đó, có thể hiểu mối quan hệ giữa chức năng
nhà nước và quyền lực nhà nước là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức,
các bé phận quyền lực nhà nước và yêu cầu thực thi các bộ phận quyền lực đó
23
chi phối đến sự hình thành, đến nội dung và phương thức thực hiện các chức
năng nhà nước. Ở nước ta, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nên các
chức năng nhà nước là phương thức thực hiện quyền lực nhân dân, phục vụ
nhân dân.
Mét trong những yếu tố góp phần quyết định đến chức năng nhà nước
là trình độ dân chủ của xã hội mà Nhà nước đó tồn tại.
Chế độ dân chủ, theo C. Mác, là chế độ do nhân dân tự quy định Nhà
nước. Trong chế độ dân chủ, Nhà nước với tính cách là một tổ chức công
quyền, thực hiện công quản, đóng vai trò là người tổ chức các quá trình xã hội
theo hướng dân chủ trên cơ sở tuân theo các quy luật vận động khách quan
của xã hội. Tuy nhiên, trong từng chế độ xã hội khác nhau, tính chất của nền
dân chủ cũng khác nhau, như Lê-nin đã nói: "Dân chủ cho một thiểu số rất
tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế độ, bảo vệ chế độ kinh tế...;
chức năng đối ngoại những mặt hoạt động chủ yếu của Nhà nước thể hiện vai
trò của Nhà nước trong quan hệ với các nhà nước, các dân téc khác, như:
phòng thủ đất nước, chống sự xâm lược từ bên ngoài, thiết lập các mối quan
hệ bang giao với các quốc gia khác... Một số nhà luật học của Liên Xô trước
đây và Cộng hòa Liên bang Nga gần đây cũng phân chia chức năng nhà nước
theo tiêu chí này, tuy nhiên có nhiều ý kiến khác nhau khi phân loại các chức
năng cụ thể trong hai hệ thống đó.
Mặc dù đây là cách phân loại chức năng nhà nước được thừa nhận
rộng rãi nhất, nhưng theo chúng tôi, nếu chỉ căn cứ vào phạm vi không gian
của hoạt động nhà nước để phân chia chức năng thì chưa đầy đủ, việc phân
định vai trò nhà nước trên phạm vi đối nội và đối ngoại cũng chỉ mang tính
tương đối, không phản ánh được đầy đủ các thuộc tính của bản chất nhà nước
cũng như giá trị xã hội của Nhà nước. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi
nhiều vấn đề về chính trị, kinh tế, xã hội không dừng lại trong phạm vi mỗi
quốc gia, không chỉ chịu sự điều tiết của riêng từng Nhà nước thì cách phân
loại này bộc lé những hạn chế nhất định.
26
Quan điểm khác cho rằng, "chức năng duy nhất của Nhà nước là quản lý
xã hội bằng một thứ quyền lực đặc biệt...". Chức năng duy nhất đó của Nhà nước
lại được tạo thành bởi một hệ thống các chức năng: chức năng kinh tế, chức
năng ngoại giao, chức năng phòng thủ quốc gia, chức năng bảo đảm xã hội... [23,
tr. 30].
Hoặc căn cứ vào hoạt động của Nhà nước theo các lĩnh vực quyền lực
nhà nước, một số người chia các chức năng nhà nước thành chức năng lập
pháp, chức năng hành pháp và chức năng tư pháp [20, tr. 3], [24, tr. 9] . Theo
chúng tôi, nhóm ý kiến này là hợp lý nếu xét trên phương diện quyền lực nhà
thể hiện rõ được tính độc lập tương đối của chức năng này.
Như vậy, mặc dù các quan điểm này đều xuất phát từ bản chất nhà
nước để luận giải nhưng do những mục đích, phạm vi nghiên cứu khác nhau
nên vẫn có sự nhận thức khác nhau về khái niệm, vị trí, phạm vi chức năng xã
hội của Nhà nước.
Theo chúng tôi, dù xác định các chức năng nhà nước theo tiêu chí nào
thì vai trò xã hội của Nhà nước vẫn không thể phủ nhận được. Vai trò xã hội
của Nhà nước chính là sứ mệnh lịch sử của Nhà nước trong tiến trình phát
triển của xã hội, thể hiện trong trách nhiệm của Nhà nước trước xã hội. Nhà
nước có trách nhiệm quản lý xã hội, tổ chức đời sống xã hội và phục vụ xã
hội. Nhiệm vụ của Nhà nước trong lĩnh vực xã hội là điều tiết các quá trình xã
hội, đảm bảo sự ổn định xã hội và sự phát triển toàn diện của các thành viên
trong xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, theo xu thế chung trên thế giới, khi con
người được đặt ở vị trí trung tâm của sự phát triển, các nhà nước đang chuyển
dần từ "Nhà nước cai trị" sang "Nhà nước phục vụ", vai trò phục vụ của Nhà
nước được chú trọng hơn thì chức năng xã hội của Nhà nước ngày càng được
quan tâm hơn, khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống các chức năng của
Nhà nước. Do đó, theo chúng tôi, để thấy rõ ý nghĩa và vai trò xã hội to lớn
28
của Nhà nước đối với đời sống xã hội và tính ưu việt của một chế độ Nhà
nước thì cần phải tiếp cận theo chức năng xã hội của Nhà nước.
Trong điều kiện thực tế của nước ta hiện nay, việc xác định chức năng
Nhà nước theo bản chất, vai trò của Nhà nước đối với xã hội và các phương
diện tác động của Nhà nước phù hợp hơn xác định chức năng nhà nước theo
các lĩnh vực của quyền lực nhà nước mặc dù suy đến cùng quyền lực nhà
nước yếu tố quyết định phạm vi, nội dung, phương thức thực hiện chức năng
ông không coi nô lệ là con người, là công dân mà chỉ coi họ là công cụ biết
nói, vì thế Nhà nước và những phóc lợi của Nhà nước chỉ là dành cho một bộ
phận nhất định các thành viên xã hội.
Sáclơ Đờ Môngtexkiơ (1689-1775) cho rằng: "Nhà nước phải có nghĩa
vô bảo đảm cho mọi thành viên các phương tiện sinh tồn, thức ăn, quần áo những thứ có lợi cho sức khỏe" [92, tr. 167].
Jăng Jắc Rútxô (1712-1788) khi bàn về dấu hiệu của một chính phủ
(Nhà nước) tốt, đã nhận thấy trách nhiệm xã hội của Nhà nước: "Mục đích cuối
cùng của một tập thể chính trị là gì? Chính là sự bảo toàn và phát triển của các
thành viên tập thể... Một chính phủ mà để cho dân ngày càng hao mòn, suy
nhược, số dân ngày càng giảm sút; đó là chính phủ tồi tệ nhất" [69, tr. 125].
Theo Imanuen Cantơ (1724-1804), Nhà nước là sự liên kết của mọi
người trong khuôn khổ luật pháp nhằm giám sát và đảm bảo bình đẳng cho
mọi công dân. Nhà nước ra đời nhằm giải quyết những đối kháng xã hội, điều
hòa sự phát triển của xã hội theo hướng ngày càng hoàn thiện vì lợi Ých con
người. Vì vậy, sứ mệnh của Nhà nước nhằm mục đích phục vụ con người [90,
tr. 407].
Tomat Giephecxơn (1743-1826) cho rằng, Nhà nước là phải đảm bảo
tự do và hạnh phóc cho mọi con người; Chính phủ, chế độ và luật pháp phải
tôn trọng con người [51, tr. 114-115].