Tiểu luận môn quản lý nhà nước đô thị, vấn đề xã hội hóa dịch vụ công ở đô thị - Pdf 30

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA


TIỂU LUẬN
MÔN: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÔ THỊ

ĐỀ TÀI:

XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG Ở ĐÔ THỊ


Tp. Hồ Chí Minh, tháng 9/2010

MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu
Chương I

3

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG Ở ĐÔ THỊ

I. Một số khái niệm cơ bản
1.1. Dịch vụ công
1.2. Xã hội hóa dịch vụ công
1.3. Đô thị
1.4. Chính quyền đô thị
II. Các loại dịch vụ công
2.1. Dịch vụ hành chính công
2.2. Dịch vụ sự nghiệp công
2.3. Dịch vụ công ích


Chương III
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ
CÔNG Ở ĐÔ THỊ

15

I. Phương hướng
1.1 Quan điểm của Đảng
1.2. Định hướng
1.2.1. Định hướng chung
1.2.2. Định hướng đối với từng lĩnh vực
II. Các giải pháp
Kết luận

15
15
16
16
17
19
20

2


Tài liệu tham khảo

21


trong cả nước.

CHƯƠNG I
3


CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG Ở ĐÔ THỊ
-------I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1 Dịch vụ công: trên thế giới hiện nay có nhiều cách tiếp cận đối với
dịch vụ công, mỗi cách tiếp cận đều có ưu và nhược điểm riêng. Vì thế, không có
định nghĩa chung nhất nào về dịch vụ công. Trong bối cảnh thực tiễn Việt Nam
cùng với hướng tiếp cận về bản chất, chức năng và vai trò của nhà nước, có thể
đưa ra khái niệm về dịch vụ công như sau “dịch vụ công là những dịch vụ đáp
ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm
ổn định và công bằng xã hội do nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì
mục tiêu lợi nhuận”.
1.2 Xã hội hóa dịch vụ công: là quá trình mở rộng sự tham gia của các chủ
thể xã hội và tăng cường vai trò của nhà nước đối với dịch vụ công
1.3 Đô thị: là các điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao
động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hơp, là trung tâm tổng hợp hay
trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội
của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng
trong tỉnh, trong huyện.
1.4 Chính quyền đô thị: được hiểu là chính quyền được cấu tạo chỉ có một
cấp (cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND chỉ có ở cấp thành phố). Trách
nhiệm quản lý được tập trung vào cấp thành phố, cấp còn lại chỉ là cánh tay nối
dài, chứ không phải một cấp quyền lực khác. Chính quyền đô thị là chính quyền
có bộ máy quản lý tinh giản tối đa số lượng công chức, đơn giản hoá thủ tục
hành chính. Chính quyền đô thị được tự chủ về các vấn đề tài chính, đầu tư, nhân
sự và tự quyết định tất cả những vấn đề lớn. Chính quyền đô thị có bộ máy hành

chính nhà nước đảm nhiệm. Trong một số trường hợp, các tổ chức cá nhân có thể
được thực hiện việc cung ứng này nhưng phải có sự ủy quyền của các cơ quan
hành chính nhà nước và phải tuân theo những quy định của pháp luật. Như vậy,
dịch vụ hành chính công là một dịch vụ cơ bản, không thể thiếu của dịch vụ
công, hơn nữa lại thể hiện trực tiếp nhất vai trò phục vụ của nhà nước trước công
dân.
2.2 Dịch vụ sự nghiệp công là loại dịch vụ cung cấp các hàng hóa dịch vụ
về giáo dục- đào tạo, chăm sóc sức khỏe, văn hóa tinh thần,…do các tổ chức sự
nghiệp cung ứng, không thu tiến hoặc có thu tiền một phần nhưng không vì mục
tiêu lợi nhuận. Là một dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người và do
các tổ chức chuyên ngành có chuyên môn sâu cung cấp như bệnh viện, trường
học,…Các hàng hóa cung cấp chủ yếu là hàng hóa phi hiện vật. Nếu dịch vụ
hành chính chỉ có thể thu lệ phí mang tính chất ước lệ, thể hiện quyền uy của nhà
nước hoặc đối với một số dịch vụ có chi phí phát sinh cần phải thu phú để bù đắp
thì đối với dịch vụ sự nghiệp do nhà nước cung cấp có thể chia thành các nhóm
bao gồm dịch vụ tối thiểu cung cấp cho đại đa số người dân và nhóm có thu tiền
nhưng không hoàn toàn theo giá cả thị trường. Dịch vụ sự nghiệp thường tập
trung vào các lĩnh vực như giáo dục đào tạo, văn hóa nghệ thuật, y tế, thể dục thể
thao, việc làm,…
2.3. Dịch vụ công ích là hoạt động cung cấp các hàng hóa dịch vụ có tính
chất kinh tế đáp ứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho sinh hoạt người dân, nó gắn
5


liền với việc cung ứng các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản. Dịch vụ công ích có vai
trò quan trọng đối với xã hội. Chất lượng của dịch vụ công ích là một trong
những yếu tố thể hiện chất lượng cuộc sống của mỗi quốc gia. Đây là loại hình
dịch vụ công chịu ảnh hưởng ít nhiều về vai trò điều tiết của nhà nước, đồng thời
là loại dịch vụ công có khả năng thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế nhất. Các hàng hóa cung cấp là các hàng hóa vật chất thường do doanh nghiệp

6


+ Sự phát triển ngày càng cao của khoa học và công nghệ dẫn đến khu
vực tư có khả năng tiếp nhận một số dịch vụ trước đây chỉ thuộc về nhà nước
như công nghệ thông tin, phương tiện tính toán, đo lường, phương tiện kiểm tra,
giám sát,….
+ Mức sống của người dân ngày càng cao đòi hỏi sự phục vụ ngày càng
cao cả về chất lượng lẫn khối lượng dịch vụ.
+ Sự kém hiệu quả của khu vực công so với với khu vực tư như khu vực
công chỉ chú ý đến việc cung ứng dịch vụ theo yêu cầu của người cung ứng chú
không phải người thụ hưởng dịch vụ; chỉ chú ý đầu vào chứ không chú ý đến
hiệu quả; cung cấp cho khách hàng cái mà họ có chứ không phải cái mà họ cần
và có thể lựa chọn; thiếu sự gắn kết giữa người cung ứng dịch vụ và người dân,
….
3.2 Yêu cầu chủ quan:
- Tiết kiệm ngân sách: xã hội, đặc biệt xã hội đô thị ngày càng phát triển
dẫn đến việc ngày càng có nhiều vấn đề phức tạp phát sinh, trong khi ngân sách
nhà nước thì có hạn; Mặt khác, đời sống người dân đô thị ngày càng cao, ngày
càng có nhiều người có đủ điều kiện cung ứng những dịch vụ thuộc về Nhà
nước. Chính vì thế cần phải có sự huy động sự tham gia của cá nhân và tổ chức
ngoài nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công ở đô thị.
- Năng lực bộ máy cung cấp dịch vụ: người dân ở đô thị với sự phát triển
ngày càng cao về nhận thức và nhu cầu; trong khi khả năng cung cấp dịch vụ của
bộ máy nhà nước thì có hạn cả về chất lượng và khối lượng dịch vụ cung ứng.
Nhằm cung ứng cho xã hội các dịch vụ có chất lượng nhưng giá cả hợp lý, yêu
cầu phải có sự tham gia của các chủ thể khác trong xã hội.
- Yêu cầu nâng cao tính cạnh tranh và chuyên nghiệp của khu vực công:
trong tình hình hiện nay, việc nhà nước là chủ thể duy nhất cung cấp dịch vụ
công đã tạo ra tình trạng độc quyền trong một số ngành và lĩnh vực. Hệ quả là

trong lĩnh vực công chứng, chứng thực; đăng kiểm xe cơ giới; dịch vụ bổ trợ tư
pháp. Tuy nhiên, dưới góc độ một bài tiểu luận, xin chỉ nêu thực trạng về việc xã
hội hóa trong lĩnh vực công chứng. Sự ra đời của Luật công chứng (1/7/2007) đã
đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc thực hiện xã hội hóa dịch vụ hành
chính công trong lĩnh vực công chứng, chứng thực . Ngay sau khi Luật Công
chứng đi vào thực tiễn cuộc sống, 36/63 tỉnh, thành đã cho phép thành lập các
Văn phòng công chứng xã hội hoá (hay còn gọi là công chứng tư hoặc văn phòng
công chứng ngoài ngân sách). Tính đến tháng 4/2009, theo số liệu của Bộ Tư
pháp, cả nước có 450 công chứng viên nhà nước hoạt động trong 130 Phòng
Công chứng của Nhà nước và hơn 100 Công chứng viên không phải là công
chức nhà nước hoạt động ở gần 60 Văn phòng công chứng xã hội hoá được
thành lập ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu,
Thanh Hoá, Ninh Bình. Nhìn chung, sự ra đời của các Văn phòng công chứng xã
hội hoá bước đầu hoạt động có hiệu quả, góp phần giảm tải cho các Phòng Công
chứng nhà nước và nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu công chứng
của xã hội công dân hiện đại. Đặc biệt, điều mà người dân ở các đô thị hài lòng
nhất về văn phòng ngoài ngân sách là thái độ phục vụ, tiếp đón niềm nở và
phong cách làm việc chuyên nghiệp của đội ngũ công chứng viên ở đây, cái mà
họ không nhận được từ văn phòng công chứng nhà nước. Điều này đã ảnh hưởng
không nhỏ đến hoạt động của văn phòng công chức nhà nước. Từ 1/7/2007, xã,
phường được giao thêm nhiệm vụ chứng thực những giấy tờ, chứng chỉ, văn bản
có bản gốc đi kèm. Thời điểm đầu, trung bình mỗi ngày tại đây sao y bản chính
khoảng 100 văn bản. Sau khi việc xã hội hóa công chứng ra đời, số lượng này
chỉ còn khoảng một nửa. Hay như thực tế tại Phòng Công chứng Nhà nước số 1
trên phố Bà Triệu, Hà Nội vào ngày thứ ba đầu tuần nhưng cũng chỉ có hơn 10
khách hàng, khác với tình trạng chen lấn, xô đẩy, quá tải trước đây. Qua đó có
thể thấy sự ra đời của văn phòng công chứng xã hội hóa phần nào đã giảm bớt sự
9



nghiệm, thiếu kiến thức về pháp luật nên dẫn đến nhiều trường hợp công chứng
sai quy định. Đặc biệt trong điều kiện hệ thống văn bản pháp luật còn nhiều
chồng chéo, bất cập như hiện nay, nếu không có kinh nghiệm sẽ rất khó thực
hiện theo yêu cầu, quy định pháp luật.
II. DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG
10


Có thể nói, trong ba loại hình dịch vụ công, thì các loại hình dịch vụ sự
nghiệp công được thực hiện xã hội hóa mạnh nhất trong lĩnh vực y tế, giáo dục,
văn hóa thể thao, việc làm và an sinh xã hội, nghệ thuật, khoa học công nghệ…
Thực hiện Nghị quyết số 90-NQ/CP của Chính phủ ngày 21/8/1997 về thực hiện
chủ trương xã hội hội hóa về hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và Nghị định 73NĐ/CP ngày 19/8/1999 về quy định chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với
hoạt động các lĩnh vực y tế, văn hóa, giáo dục. Tính đến nay, số lượng đơn vị, tổ
chức cung ứng các dịch vụ trong ba lĩnh vực trên đã không ngừng tăng lên.
Trong lĩnh vực giáo dục, ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng liên
tục từ 15,5% năm 2001 lên 20% năm 2007. Trong năm 2007, khoảng 25% tổng
chi phí của xã hội cho học tập là đóng góp của người dân. Bên cạnh đó, cũng đã
huy động được sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị-xã hội
và đầu tư nước ngoài. Các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng phát triển.
Vào năm học 2007-2008, cả nước có gần 6.000 cơ sở giáo dục mầm non, 95
trường tiểu học, 33 trường trung học cơ sở, 651 trường trung học phổ thông, 308
cơ sở dạy nghề, 72 trường trung cấp chuyên nghiệp và 64 trường cao đẳng, đại
học là các cơ sở giáo dục ngoài công lập. Số học sinh, sinh viên học tại các cơ sở
giáo dục ngoài công lập ngày càng tăng. Năm học 2007-2008, tỷ lệ học sinh,
sinh viên ngoài công lập là 15,6%, trong đó tỷ lệ học sinh phổ thông là 9%; học
sinh trung cấp chuyên nghiệp là 18,2%; học nghề là 31,2%; sinh viên cao đẳng,
đại học là 11,8%.
Đối với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay
trên toàn Việt Nam có 876 bệnh viện, 75 khu điều dưỡng phục hồi chức năng,

xã hội hóa như:
3.1. Dịch vụ vệ sinh môi trường: trong lĩnh vực này công đoạn được xã hội
hóa nhiều nhất là các hoạt động thu gom rác và vận chuyển rác thải đến bãi tập
trung thông qua các mô hình như tổ thu gom rác dân lập do phường tự quản tại
Hà Nội và Thành phố Hổ Chí Minh; hợp tác xã vệ sinh môi trường, công ty cổ
phần dịch vụ môi trường, công ty tư nhân,…
3.2. Dịch vụ giao thông công cộng đô thị: có thể nói trong lĩnh vực này
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đầu tiên thực hiện việc xã hội hóa hoạt động
vận tải hành khách công cộng, đến nay có 95% doanh nghiệp thuộc thành phần
kinh tế ngoài nhà nước đảm nhận việc cung ứng loại hình dịch vụ này. Riêng đối
với Hà Nội, mặc dù đến năm 2002 lãnh đạo Thành phố mới có chủ trương thực
hiện xã hội hóa nhưng đến nay hiệu quả hoạt động của xe buýt công cộng có
phần nổi trội hơn Thành phố Hồ Chí Minh.
3.3. Dịch vụ cung cấp nước sạch: đây là một dịch vụ đang ngày là yêu cầu
bức thiết không những ở đô thị mà ngay cả ở vùng nông thôn và miền núi. Tuy
nhiên, Nhà nước mới chỉ đảm bảo được hệ thống cung cấp nước sạch chủ yếu
cho các thành phố , đô thị với khoảng gần 70% dân cư. Cả nước hiện có 67
doanh nghiệp cấp nước hoạt động theo mô hình doanh nghiệp công ích cung cấp
nước sinh hoạt cho hầu hết dân cư đô thị và nền kinh tế quốc dân. Thực hiện chủ
trương xã hội hóa dịch vụ cung cấp nước sạch nhằm chung tay với nhà nước đưa
nước sạch vào từng hộ dân, các công ty, tổ chức đã và đang có nhiều công trình,
dự án thiết thực. Ví dụ như tháng 6/2010, Công ty Coca - Cola đã khánh thành
các công trình thuộc dự án “Nước sạch cho cộng đồng” tại một số trường học và
12


khu dân cư ở quận Thủ Đức, TPHCM, mang lại nguồn lợi trực tiếp cho hơn
5.000 người dân. Dự kiến trong thời gian tới, công ty tiếp tục đầu tư 100.000
USD để thực hiện dự án với việc hỗ trợ lắp đặt đường ống cấp nước nối từ
đường ống chính vào hẻm nhỏ, lắp đồng hồ nước cho hộ nghèo và thực hiện các

một cách có hiệu quả, trong thời gian tới cần có những biện pháp nhằm khắc

13


phục, hạn chế được những mặt còn hạn chế, yếu kém trong việc quản lý cũng
như thực hiện tiến trình xã hội hóa.

CHƯƠNG III
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XÃ HỘI
HÓA DỊCH VỤ CÔNG Ở ĐÔ THỊ TRONG THỜI GIAN TỚI
--------------I. PHƯƠNG HƯỚNG
14


1.1. Quan điểm của Đảng:
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã đưa ra quan điểm:
+ Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công
cộng cụ thể là phát triển về quy mô gắn với chất lượng và hiệu quả các dịch vụ
công cộng, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, đổi mới cơ chế hoạt động của
các đơn vị công lập và huy động mạnh mọi nguồn lực của xã hội. Nhà nước tiếp
tục tăng nguồn lực, đầu tư tập trung cơ sở vật chất- kỹ thuật để nâng cao phúc lợi
chung cho toàn xã hội... Quan tâm vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo, vùng đồng
bảo dân tộc thiểu số. Từng bước chuyển các cơ sở công lập dịch vụ công cộng
đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang
cơ chế tự chủ, không bao cấp tràn lan và không vì mục tiêu lợi nhuận. Công khai
mức phí tại các cơ sở dịch vụ công lập và ngoài công lập. Thúc đẩy các cơ sở
công lập và ngoài công lập về dịch vụ công cộng cả về quy mô và chất lượng.
+ Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ
công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo dục và đào tạo, tạo

ứng phù hợp với đặc điểm, tính chất của mỗi loại dịch vụ. Quy định rõ trách
nhiệm, mục tiêu, nội dung hoạt động, đồng thời bảo đảm quyền tự chủ của các tổ
chức cung ứng dịch vụ công.
- Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống các tổ chức cung ứng dịch vụ công theo
yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả của mạng lưới dịch vụ công trong cả
nước, trong từng vùng, từng lĩnh vực, từng địa phương. Tổ chức mạng lưới cung
ứng dịch vụ công không nhất thiết phụ thuộc vào phạm vi địa giới hành chính mà
có thể theo từng khu vực, từng vùng dân cư, tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất
của dịch vụ và nhu cầu của người dân. Phát triển mạnh các cơ sở cung ứng dịch
vụ công ngoài công lập.
- Đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ công phù hợp với đặc điểm tính
chất của từng loại dịch vụ công và đối tượng thụ hưởng, mỗi khu vực, địa
phương, bảo đảm phục vụ thuận lợi nhất cho người dân.
- Xây dựng cơ chế hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận cho từng loại
hình tổ chức cung ứng dịch vụ công.
- Phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp trong lĩnh vực cung ứng dịch
vụ công; đổi mới cơ chế quản lý tài chính- ngân sách đối với lĩnh vực dịch vụ
công.
- Cơ cấu lại chi tiêu ngân sách nhà nước cho các lĩnh vực dịch vụ công
theo hướng tập trung đầu tư thích đáng cho việc cung ứng các dịch vụ cơ bản,
thiết yếu nhất; đáp ứng các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia; phục vụ
người dân vùng khó khăn, miền núi, hỗ trợ người nghèo, đối tượng chính sách.
- Xây dựng hệ thống các công cụ, cơ chế kiểm tra, giám sát của Nhà nước
và nhân dân đối với hoạt động của đơn vị cung ứng dịch vụ công. Phát huy vai
trò của đoàn thể nhân dân, tổ chức quần chúng, nhất là các hội nghề nghiệp trong
các hoạt động cung ứng dịch vụ công.
1.2.2. Định hướng đối với từng lĩnh vực:
1.2.2.1 Dịch vụ sự nghiệp công:
- Thực hiện xã hội hóa nhằm hai mục tiêu lớn: thứ nhất phát huy tiềm
năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp

các cơ sở phi lợi nhuận.
- Tiến hành chuyển một số cơ sở thuộc loại hình công lập sang loại hình
ngoài công lập để tập thể hoặc cá nhân quản lý và hoàn trả vốn cho Nhà nước.
- Khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước bằng nhiều hình thức phù hợp
với quy hoạch phát triển, yêu cầu và đặc điểm của từng lĩnh vực. Các nhà đầu tư
được bảo đảm lợi ích hợp pháp về vật chất và tinh thần.
- Nhà nước tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện luật
pháp; phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức quần chúng, đặc biệt là các hội
nghề nghiệp trong việc giám sát các hoạt động dịch vụ
- Nhà nước tạo môi trường phát triển, môi trường cạnh tranh lành mạnh,
bình đẳng theo luật pháp để thúc đẩy các cơ sở công lập và ngoài công lập phát
17


triển cả về quy mô và chất lượng, xây dựng các cơ sở đạt trình độ tiên tiến trong
ku vực và trên thế giới.
1.2.2.2. Dịch vụ công ích:
- Rà soát, xác định rõ những hàng hóa dịch vụ công ích mà Nhà nước phải
chịu trách nhiệm theo nguyên tắc “Nhà nước chỉ làm những gì mà xã hội không
thể làm hoặc không muốn làm”
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển đối với lĩnh vực dịch vụ công
ích phù hợp với từng loại dịch vụ công ích, từng địa phương.
- Đổi mới phương thức tổ chức thực hiện và quản lý phù hợp với đặc thù
của các loại sản phẩm, dịch vụ công ích
- Đẩy mạnh xã hội hóa việc cung cấp dịch vụ công ích theo hướng phát
huy các nguồn lực trong nhân dân tham gia cung ứng dịch vụ công ích, giảm dần
đầu tư của Nhà nước.
- Phân cấp mạnh cho cho chính quyền địa phương các cấp trong việc thực
hiện nhiệm vụ quản lý và cung ứng dịch vụ công ích, xác định rõ trách nhiệm
của mỗi cấp chính quyền trong việc quản lý và cung ứng dịch vụ công ích.

kế hoạch phát triển và định hướng ưu tiên phù hợp với từng lĩnh vực và hình
thức hoạt động.
+ Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước theo hướng cải cách thủ tục hành
chính, đồng thời tách bạch giữa quản lý nhà nước, quản lý hành chính ra khỏi
quản lý kinh doanh. Loại bỏ sự can thiệp quá sạu của cơ quan quản lý nhà nước
vào nội bộ cơ sở cung ứng dịch vụ công.

KEÁT LUAÄN
Nền hành chính hiện đại với xu hướng cải cách thu nhỏ vai trò của
Nhà nước, chuyển dần từ quản lý sang quản trị theo hướng phục vụ và hiệu
quả. Chính vì thế nếu không có nhận thức, tư duy đúng đắn và thống nhất
về dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công thì khó có thể đạt được mục
tiêu đã đề ra đối với công cuộc cải cách hành chính cũng như phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu cuối cùng là
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
19


Ngày nay, tốc độ đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ không chỉ
riêng ở Việt Nam mà trên tất cả các nước trên thế giới. Đó là một xu hướng
tất yếu mà một xã hội hiện đại phát triển phải trải qua. Điều đó có nghĩa
mọi hoạt động trên các lĩnh vực chủ yếu xảy ra ở các đô thị. Mặt khác, mức
sống và nhu cầu người dân ở đô thị không ngừng tăng cao, do đó việc xã
hội hóa dịch vụ công ở đô thị là một yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, làm thế
nào để chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước ta được thực hiện
đúng đắn, sâu rộng trong toàn xã hội thì cần phải có sự thống nhất về nhận
thức và hành động trong bộ máy chính quyền cũng như các cá nhân, tổ
chức trong và ngoài nước tham gia việc xã hội hóa, từ đó sự tham gia đóng
góp của xã hội trong việc cung ứng dịch vụ công mới đạt được kết quả như
mong muốn, đáp ứng được nhu cầu của xã hội công dân.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status