Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
------------------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 2011 – 2015
ĐỀ TÀI:
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
NGƯỜI TỐ CÁO
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
TS.PHAN TRUNG HIỀN
TRẦN KIM HOA
MSSV: 5115712
Lớp: LK1163A1
Cần Thơ – 11/2014
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
1
SVTH: Trần Kim Hoa
2.1.2.1. Bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người tố cáo và người thân thích của người tố
cáo..................................................................................................................................30
2.1.2.2. Bảo vệ tài sản của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo ..............31
2.1.2.3. Bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân khác của người tố
cáo, người thân thích của người tố cáo .........................................................................32
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
2
SVTH: Trần Kim Hoa
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
2.1.3. Bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người tố cáo, người thân thích của
người tố cáo ..................................................................................................................32
2.1.3.1. Bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người tố cáo, người thân thích của
người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức ...............................................................32
2.1.3.2. Bảo vệ việc làm đối với người tố cáo, người thân thích của người tố cáo là
người làm việc theo hợp đồng lao động mà không phải là viên chức ...........................33
2.1.4. Những điểm mới của pháp luật hiện hành về bảo vệ người tố cáo ở nước ta 33
2.1.4.1. Về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo............................................................33
2.1.4.2. Về nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo ..........................................................34
2.1.4.3. Về công tác bảo vệ người tố cáo ......................................................................35
2.2. Các phương thức bảo vệ người tố cáo ..................................................................35
2.2.1. Các biện pháp hành chính .................................................................................36
2.2.2. Các biện pháp kĩ thuật ........................................................................................36
2.2.3. Các biện pháp kinh tế .........................................................................................37
2.2.4. Các biện pháp hình sự ........................................................................................38
2.3. Chủ thể có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo ........................................................38
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
4
SVTH: Trần Kim Hoa
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân
là một mục tiêu quan trọng mà cả Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và quyết tâm đạt
được, trong đó sự phát triển bền vững và ổn định về mặt chính trị là vấn đề đầu tiên
cần phải có. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “ Nước ta là Nhà nước dân chủ, địa vị cao
nhất là dân, vì dân là chủ”1, và “... Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ,
biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”2. có thể thấy để xây dựng được
một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì người dân đóng vai trò quan trọng
không thể thiếu, muốn có một xã hội văn minh và phát triển như ý muốn thì cần thiết
phải có các cơ chế và những điều kiện tốt nhất để người dân nói lên tâm tư, nguyện
vọng chính đáng của mình, chủ động và sẵn sàng bày tỏ sự bất bình của mình về hành
vi sai trái, hành vi vi phạm pháp luật của một cá nhân, tổ chức nào đó với cơ quan
chức năng có thẩm quyền giải quyết kể cả đó là lãnh đạo, là người thủ trưởng trực tiếp
của mình.
Hiện nay, công tác giải quyết tố cáo của công dân luôn được Đảng và Nhà nước
ta quan tâm và coi đây là nhiệm vụ quan trọng của các cấp các ngành trong hoạt động
quản lý Nhà nước, nhất là từ khi nước ta bước vào thực hiện công cuộc đổi mới, nhiều
cơ chế chính sách, pháp luật và các điều kiện kinh tế xã hội được đổi mới thì tình hình
phạm pháp của chúng bằng nhiều cách như mua chuộc, đe dọa và thực hiện các hành
vi bạo lực khiến cho người dân hoang mang, lo sợ3. Ý thức được sự cần thiết phải bảo
vệ người tố cáo và tầm quan trọng của công tác nói trên, người viết lựa chọn đề tài
“Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo” để làm luận văn tốt nghiệp cho mình,
qua đó người viết đã phân tích và đưa ra một số kiến nghị về việc triển khai thực hiện
pháp luật về bảo vệ người tố cáo trên thực tế để công tác này ngày càng hoàn thiện
hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của tác giả là nghiên cứu những quy định của pháp luật về bảo vệ
người tố cáo, thực tiễn của công tác bảo vệ người tố cáo, qua đó đưa ra những kiến
nghị và giải pháp nhầm từng bước củng cố những quy định của pháp luật Việt Nam về
bảo vệ người tố cáo, góp phần tạo nên một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này người viết chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền tố cáo của công dân, quyền được bảo vệ của
người tố cáo và công tác bảo vệ người tố cáo mà chủ yếu là Luật Tố cáo năm 2011 và
Nghị định số 76/2012/ND-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số những
quy định của Luật Tố cáo được ban hành. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu người
viết cũng đã tham khảo thêm về quyền tố cáo của công dân trong các triều đại phong
kiến Việt Nam đồng thời có mở rộng nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật
liên quan để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu của luận văn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, bằng kiến thức đã học cùng với việc thu thập, tổng hợp
các văn bản luật có liên quan đến quyền tố cáo của công dân Việt Nam nói chung và từ
đó tìm nhưng văn bản luật và văn bản dưới luật khác liên quan quy định về bảo vệ
người tố cáo nói riêng. Cùng với việc thu thập, tổng hợp tác giả đã dùng phương pháp
phân tích, so sánh kết hợp với lý luận và thực tiễn để làm rõ đề tài nghiên cứu này.
quan về công tác bảo vệ người tố cáo, những phương thức được áp dụng để bảo vệ
người tố cáo, chủ thể có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo, các hành vi vi phạm trong
quá trình bảo vệ người tố cáo và biện pháp xử lý những hành vi đó. Từ đó, làm cơ sở
để chương 3 so sánh, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn. Đồng thời, tìm ra phương
hướng hoàn thiện cho vấn đề nghiên cứu.
Chương 3: Thực tiễn của vấn đề bảo vệ người tố cáo và giải pháp hoàn
thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
Chương này tập trung phân tích thực tiễn về công tác bảo vệ người tố cáo đang
được thực hiện ở nước ta hiện nay, những điểm mới và hạn chế của pháp luật hiện
hành quy định về bảo vệ người tố cáo, một số hành vi xâm hại đến quyền lợi của người
tố cáo và những nguyên nhân chính dẫn đến vấn đề người tố cáo không được bảo vệ
một cách toàn diện. Sau cùng là đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện
các quy định của pháp luật để cho công tác bảo vệ người tố cáo ngày càng được hiệu
quả hơn.
Do thời gian nghiên cứu có hạn và kiến thức vẫn còn nhiều hạn chế, nên trong
quá trình nghiên cứu đề tài sẽ không thể nào tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận
được sự góp ý từ quý thầy, cô và các bạn để người viết có thể có được những ý kiến tốt
nhất làm cho đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn.
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
7
SVTH: Trần Kim Hoa
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
CHƯƠNG 1
hay tội ác trước cơ quan có thẩm quyền hay trước dư luận4.
- Theo quan niệm của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, “tố cáo” là quyền của công
dân phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các quyết định, hành vi trái pháp
4
Từ điển Tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, xuất bản ngày 20/11/1997, trang 438
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
8
SVTH: Trần Kim Hoa
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
luật của cơ quan tổ chức hoặc cá nhân đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi
ích nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích của công dân nói chung mà không gây thiệt
hại trực tiếp cho công dân thực hiện việc tố cáo5.
- Dưới góc độ pháp lý, luật khiếu nại tố cáo được quốc hội nước ta thông qua
ngày 2/12/1998, lần đầu tiên đã quy định khái niệm tố cáo: “là việc công dân theo thủ
tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về
hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc
đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức6”.
Đến Luật Tố cáo năm 2011 được ban hành thì khái niệm “tố cáo” vẫn được giữ
nguyên so với khái niệm “tố cáo” của Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998.
1.1.2. Khái niệm người tố cáo
Theo quy định của luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 lần đầu tiên nêu khái niệm
về người tố cáo “Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo”, đến khi Luật Tố
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
1.1.3. Phân biệt khiếu nại, tố cáo
Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ
chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính
của cơ quan hành chính Nhà Nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính Nhà Nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng
quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của
mình7”.
Xuất phát từ khái niệm, chúng ta có thể thấy rằng giữa khiếu nại và tố cáo có
điểm chung là chúng sẽ cùng phát sinh khi có vi phạm pháp luật (hoặc bị người khiếu
nại, tố cáo cho là có vi phạm pháp luật) của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân và họ đề
nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết, xử lý việc làm đó để khôi
phục hoặc bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể; quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân. Tuy nhiên, giữa khiếu nại và tố cáo có những điểm khác nhau cơ bản sau:
- Về chủ thể:
Chủ thể của khiếu nại bao gồm công dân, cơ quan, tổ chức, trong khi chủ thể
của tố cáo chỉ có thể là công dân. Xuất phát từ tính chất của tố cáo là yêu cầu xử lý
người bị tố cáo, nên nhà nước khuyến khích người tố cáo đúng, đồng thời quy định
người nào lợi dụng quyền tố cáo, tố cáo sai sự thật, gây thiệt hại cho người khác thì
phải bị xử lý để tránh tình trạng có người nhân danh cơ quan, tổ chức nào đó thực hiện
việc tố cáo với mục đích cá nhân. Để cá thể hóa trách nhiệm của người tố cáo, tạo điều
kiện cho cơ quan nhà nước có thể dễ dàng xử lý người cố tình tố cáo sai sự thật luật
quy định chủ thể của tố cáo phải là công dân (cá nhân) chứ không bao gồm cả cơ quan
và tổ chức như khiếu nại.
Còn điểm khác nữa đó là, chủ thể của khiếu nại có thể đồng thời là chủ thể giải
quyết khiếu nại, còn tố cáo thì không được phép như vậy.
- Về đối tượng:
Mục đích của tố cáo không chỉ để bảo vệ quyền và lợi ích của người tố cáo mà
còn để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và của tập thể, của cá nhân khác và nhằm
trừng trị kịp thời, áp dụng các biện pháp nghiêm khắc để loại trừ những hành vi trái
pháp luật xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân.
- Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo:
Người khiếu nại có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác khiếu nại tại cơ
quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Người tố cáo phải tự mình (không được uỷ
quyền cho người khác) tố cáo hành vi vi phạm pháp luật đến bất kỳ tổ chức, cơ quan
quản lý Nhà nước nào.
Người khiếu nại được quyền rút khiếu nại. Người tố cáo không được rút tố cáo
và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình, nếu cố ý tố cáo
sai sự thật thì phải bồi thường thiệt hại.
Người khiếu nại có quyền khiếu nại lần thứ hai hoặc khởi kiện vụ án hành
chính ra Toà án khi không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (mà không cần
phải có căn cứ cho rằng việc giải quyết khiếu nại không đúng pháp luật). Còn người tố
cáo chỉ được tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố
cáo không được giải quyết chứ không được khởi kiện ra toà án.
- Về tính chất:
Khiếu nại thường mang tính nội bộ, lấy mục tiêu sửa nhanh là chính. Vì vậy,
phương pháp giải quyết thường là mềm dẻo, linh hoạt nhằm giúp cho đối tượng nhận
rõ sai sót để khắc phục, sửa chữa kịp thời, nhanh chóng. Những sai sót trong khiếu nại
thường nhỏ, đơn giản, dễ khắc phục hơn so với tố cáo. Tính chất tố cáo thường nguy
hiểm, phức tạp hơn, mức độ sai phạm nặng hơn, ảnh hưởng tới danh dự và phẩm chất
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
11
SVTH: Trần Kim Hoa
cũng là vấn đề không kém phần quan trọng trong công tác bảo vệ người tố cáo.
1.2. Khái quát chung về quyền tố cáo của công dân
Hành vi tố cáo là một hiện tượng khách quan trong xã hội và nó chỉ trở thành
quyền một khi được Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật. vì thế quyền tố cáo của
công dân bao giờ cũng mang bản chất giai cấp. Ở mỗi chế độ khác nhau, mỗi Nhà
nước khác nhau thì quy định nội dung pháp luật về quyền tố cáo cũng khác nhau.
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
12
SVTH: Trần Kim Hoa
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
1.2.1. Quyền tố cáo của công dân nước ta trong thời phong kiến
Theo nghiên cứu lịch sử Việt Nam cho thấy trong những thời kỳ hưng thịnh của
Nhà nước phong kiến, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn biết “dựa vào dân” và
thực hiện nhiều kế sách để “an dân”. Nguyễn Trãi đã từng viết “việc nhân nghĩa cốt ở
yên dân”8, bởi ông nhận thấy “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Với quan
niệm lấy dân làm gốc, ông cha ta ngày xưa đã chú trọng và tạo mọi điều kiện để người
dân được trình bày nguyện vọng cũng như bày tỏ nỗi oan ức của mình đến nhà vua
thông qua việc thỉnh cầu và cáo giác các hành vi bạo ngược của quan lại, cường hào.
Sử cũ ghi chép, vào thời vua Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) lên ngôi (1009-1028),
nhà vua đã ra lệnh xây cung Long Đức làm nơi xử kiện và xuống chiếu “từ nay ai có
việc tranh kiện, cho đến triều tâu bày, vua thân xét quyết9”. Đến đời vua Lý Anh Tông
(1138-1175), vào năm Mậu Dần (1158) nhà vua đã cho đặc một cái hòm gỗ ở giữa sân
rồng để nhận đơn khiếu kiện của người dân10. Dưới triều vua Trần Nhân Tông (12711293) vua cho phép dân thường được tâu bày những điều oan ức và được thỉnh cầu
13
SVTH: Trần Kim Hoa
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
Nguyễn Ánh cũng cho đặt một hòm ở cửa phủ chúa để ai có oan khuất hay bị người
khác hãm hại có thể viết đơn trình bày rõ ràng sự việc, ghi rõ họ tên, quê quán để tiện
việc tra xét, người nào bỏ thư nặc danh, vu khống cho người khác sẽ bị xử tội nặng.
Vào năm Quý Hợi (1803), vua Gia Long cho dân từ các trấn Nghệ An ra Bắc, ai có
oan khuất thì đến công đường hay sở tại tâu bày. Đơn thư kêu oan sẽ được chuyển lên
vua và văn thần xét đoán, kẻ nào vu cáo, thêu dệt thì sẽ bị trị tội. Năm sau, Giáp Tý
(1804), theo lời tâu của các quan trấn Bắc thành, vua Gia Long cho dựng nhà coi việc
ở Nam thành Thăng Long, cứ năm ngày một lần, họp quan lại để bàn việc, ai có việc
gì oan ức đã qua ba trấn, phủ, huyện mà chưa được phục tình thì cho đầu đơn để xét
cho rõ lý. Từ thời vua Minh Mạng (1820-1841), tại Ty Tam Pháp (cơ quan pháp luật
cao nhất của triều đình gồm ba cơ quan tương đương Viện Kiểm Sát, Tòa Án và bộ Tư
Pháp hiện nay) có đặt một trống đăng văn, vào các ngày 6, 16 và 26 hàng tháng, cho
phép ai có điều oan ức muốn tâu bày được đến đánh trống kêu oan. Quan pháp ty sẽ ra
nhận đơn và xét xử, còn các ngày khác nếu ai tự tiện đến đánh trống thì coi như phạm
tội, dù có bị oan ức đến mấy cũng sẽ không được xem xét.
Nhìn chung, để thực hiện tốt việc đảm bảo quyền tố cáo của công dân, một số
triều đại phong kiến của Việt Nam đã ban hành nhiều loại văn bản luật quy định việc
gửi đơn tố cáo và trách nhiệm của quan lại trong việc xem xét giải quyết tố cáo của
người dân. Đáng kể nhất là: Bộ Hình thư thời Lý (1042), bộ Quốc triều Hình thư và
Quốc triều Hình luật (1341) thời Trần, Bộ luật Hồng Đức (1483) và Khám tụng điều lệ
(1777) thời Lê, Bộ luật Gia Long thời Nguyễn (1815)… Trong đó có nhiều điều khoản
quy định về các quyền và trách nhiệm giải quyết tố cáo của nhân dân. Ngoài ra các vua
còn ban hành các văn bản đơn lẽ như Lệnh, Lệ, Dụ, Chỉ để quy định cụ thể, chi tiết
việc giải quyết tố cáo của người dân.
quản lý Nhà nước bằng việc thành lập “Ban thanh tra đặc biệt”.
Ngày 23 tháng 11 năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64/SL
thành lập ban thanh tra đặc biệt, việc nhận đơn khiếu tố được Bác đặc ở tầm cao ngang
với việc đi giám sát công việc thực tế ở các cấp chính quyền. Nếu điều 1 ghi là:
“Chính phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả
công việc và nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”, thì điều
2 quy định: “nhận đơn khiếu nại của nhân dân; điều tra hỏi chứng, xem xét các giấy tờ
của Ủy ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công việc giám
sát. Trong sắc lệnh số 138b/SL ngày 18 tháng 12 năm 1949 cũng vậy, cùng với nhiệm
vụ: “xem xét thi hành chủ trương của Chính phủ” là nhiệm vụ “thanh tra sự khiếu nại
của người dân”. Những quy định trên nói lên sự quan tâm của chủ tịch Hồ Chí Minh
và Chính phủ đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Ngoài ra, Nhà
nước ta còn ban hành nhiều văn bản, nhằm tạo ra cơ chế đảm bảo quyền tố cáo của
công dân và tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết tốt các trường hợp tố cáo của người
dân. Trong thông tư số 203 NV/VP ngày 25/5/1946 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về khiếu
tố nói rõ: “Chính phủ và các cơ quan của chính phủ thiết lập trên nền tảng dân chủ, có
bổn phận đảm bảo công lý và vì thế rất để ý đến nguyện vọng của dân chúng và sẵn
lòng xem xét những nỗi oan khuất trong dân gian13”. Công văn này hướng dẫn cho
người dân thủ tục gửi đơn, giới thiệu thẩm quyền của các cơ quan giải quyết và thời
hạn để giải quyết khiếu tố. Thông tư số 436/TTg ngày 13/9/1958 của thủ tướng Chính
phủ quy định trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của các cơ quan chính quyền trong
việc giải quyết các loại đơn thư khiếu nại, tố cáo (gọi tắt là khiếu tố) của nhân dân.
Thông tư xác định: “Nghiên cứu và giải quyết các việc khiếu nại và tố giác của nhân
12
13
Điều 1, Hiến pháp Việt Nam năm 1946.
Thông tư số 203 NV/VP về việc phân định thẩm quyền cơ quan tư pháp, ngày 25/5/1946.
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
phủ đã giao việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân cho Uỷ ban Thanh tra của
Chính phủ, đồng thời qui định cụ thể một số nguyên tắc trong việc giải quyết đơn thư
khiếu tố như:
- Trách nhiệm giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo chủ yếu thuộc về cơ quan
phát sinh vấn đề, trước hết là trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan.
- Trình tự xem xét và giải quyết đơn thư khiếu tố của Uỷ ban hành chính các
cấp và các ngành chuyên môn.
Những qui định nói trên của Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân
thực hiện quyền làm chủ trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, kiểm
tra, giám sát hoạt động của cán bộ, nhân viên nhà nước, tổ chức xã hội trong việc thi
14
Thông tư số 436/TTg, quy định trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của các cơ quan chính quyền trong việc
giải quyết các loại đơn khiếu nại, tố cáo của người dân ngày 13/9/1958.
15
Điều 29, Hiến pháp Việt Nam năm 1959.
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
16
SVTH: Trần Kim Hoa
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
hành chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của
tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời qui định trách nhiệm của
mỗi cấp mỗi ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, nâng cao tinh thần phục
vụ nhân dân, giải quyết đúng đắn, kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân.
16
Điều 73 Hiến pháp Việt Nam năm 1980.
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
17
SVTH: Trần Kim Hoa
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc cơ quan, đơn vị, tổ chức
đó làm thiệt hại đến lợí ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của
công dân17". Như vậy có thể thấy rằng, đối tượng của khiếu nại là rất rộng và không có
sự phân biệt với tố cáo và chưa thể hiện rõ tính chất của khiếu nại hành chính. Điều
này chỉ được thể hiện khi qui định thẩm quyền giải quyết thuộc về thủ trưởng các cơ
quan hành chính nhà nước.
- Về việc bảo vệ người khiếu nại, tố cáo Pháp lệnh đã quy định tại điều 11 như
sau: “Cấm tiết lộ hoặc chuyển đơn tố cáo, bản sao đơn tố cáo, bản ghi lời tố cáo của
các đương sự cho cơ quan, tổ chức hoặc người bị tố cáo.
Không được chuyển các khiếu nại cho cơ quan, tổ chức hoặc người bị khiếu nại nếu
thấy có hại cho người khiếu nại”18. Có thể thấy, Nghị quyết đã phần nào xác định được
tầm quan trọng của việc bảo vệ người khiếu nại, tố cáo, tuy nhiên những quy định
trong Nghị quyết vẫn còn đơn giản, chưa chặt chẽ và chi tiết.
- Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, ngoài việc xác định trách nhiệm
giải quyết khiếu nại, tố cáo là thủ trưởng các cơ quan nhà nước, Pháp lệnh còn qui
định cả Chủ nhiệm hợp tác xã và Trưởng tập đoàn sản xuất. Điều này phù hợp với tình
hình thời kỳ đó khi mà kinh tế tập thể chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế và mặc
dù là một tổ chức kinh tế có tính chất tập thể nhưng tổ chức và hoạt động của nó được
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
“Các khiếu nại, tố cáo do cơ quan, tổ chức cấp dưới đã xem xét, giải quyết nhưng
đương sự còn khiếu nại, tố cáo thì thủ trưởng cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp có
trách nhiệm thẩm tra lại, nếu thấy việc giải quyết của cấp dưới là đúng thì ra văn bản
chuẩn y và thông báo cho đương sự biết; nếu phát hiện có sai lầm thì ra quyết định giải
quyết lại và thông báo kết quả cho đương sự biết”. Tuy nhiên, Pháp lệnh 1981 và Nghị
định 58 không qui định cấp nào là cấp giải quyết cuối cùng đối với vụ việc khiếu nại,
tố cáo. tức là chưa tạo ra được điểm dừng cho việc khiếu nại, tố cáo.
Về trách nhiệm của các tổ chức thanh tra nhà nước, Pháp lệnh qui định Chủ
nhiệm Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ xem xét và trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
giải quyết các khiếu nại, tố cáo về việc làm trái chính sách, pháp luật của thủ trưởng
các ngành trung ương hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương và cấp tương đương; xem xét và kiến nghị giải quyết lại hoặc trình Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng giải quyết các khiếu nại, tố cáo mà Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà
nước, thủ trưởng cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương đã giải quyết nhưng phát
hiện có sai lầm. Chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra các địa phương, Trưởng ban Thanh tra
các ngành có trách nhiệm giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, thủ trưởng ngành xét và giải
quyết các khiếu nại, tố cáo.
Nhìn chung, Pháp lệnh qui định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân năm 1981 thể hiện tư tưởng dân chủ và đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà
nước trong việc tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của công dân với một trình tự,
thủ tục còn tương đối đơn giản và theo xu hướng tạo mọi điều kiện cho công dân thực
hiện được quyền khiếu nại, tố cáo của mình. Chẳng hạn, qui định công dân có thể
khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước; qui định về việc chuyển đơn
nhận được không đúng thẩm quyền... Những qui định này phù hợp với trình độ hiểu
biết pháp luật của người dân và sự phát triển pháp luật thời kỳ đó.
Tiếp đó, Nhà nước ta đã ban hành thêm một số văn bản, những văn bản này
được ban hành nhằm thực hiện tốt những qui định của Pháp lệnh năm 1981 và Nghị
định 58. Đó là Thông tư 02/TTr ngày 4/5/1982 của Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ;
quyết đối với từng loại đơn thư một cách phù hợp. Đây có thể nói là cơ sở cho việc
tiếp tục nghiên cứu và xây dựng một cơ chế giải quyết riêng đối với Tố cáo sau này.
Thứ ba, Pháp lệnh đưa ra một trình tự và thủ tục tiếp nhận và giải quyết Tố cáo
một cách tương đối chặt chẽ, tạo điều kiện để công dân có thể thực hiện quyền tố cáo
của mình, đồng thời cũng giúp các cơ quan nhà nước có trách nhiệm có thể thực hiện
việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo một cách nề nếp, qui củ (quá trình tiếp nhận, phân
loại xử lý đơn thư, thụ lý vụ việc…)
Thứ tư, Pháp lệnh qui định cụ thể về thẩm quyền giải quyết đối với vụ việc
khiếu nại và tố cáo, nhất là đối với Tố cáo, theo đó một vụ việc Tố cáo sẽ được các cơ
quan khác nhau giải quyết tùy vào nội dung của từng loại tố cáo:
“Tố cáo mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý Nhà nước của cơ quan
nào, thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.
Tố cáo hành vi vi phạm hành chính thì do cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính giải quyết.
Tố cáo về hành vi phạm tội thì do cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân giải
quyết.20”
20
Xem điều 29 Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước số 53-LCT/HDND ngày 07/5/1991 về Khiếu nại tố cáo của
công dân.
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
20
SVTH: Trần Kim Hoa
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
hình thực tế của nước ta và thông lệ quốc tế”21. Luật sửa Khiếu nại, Tố cáo 1998 sửa
đổi bổ sung 2004 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2004. Ngày 29/11/2005, tại kỳ
họp thứ 8 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua Luật sửa
đổi bổ sung một số điều Luật khiếu nại, tố cáo. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày
21
Xem Nghị quyết số 30/2004/QH11, về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính
Nhà nước, ngày 15/6/2004.
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
21
SVTH: Trần Kim Hoa
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
01/6/2006. Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004, năm 2005 được Quốc hội ban hành đã tạo khung
pháp lý quan trọng để công dân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại, công dân
thực hiện quyền tố cáo cũng như việc xác định trách nhiệm của các cơ quan nhà trong
quá trình tiếp nhận, giải quyết tố cáo của công dân. Tuy nhiên, sau một thời gian dài
thực hiện Luật đã có nhiều quy định không phù hợp với thực tiễn và hội nhập quốc tế,
đòi hỏi Nhà nước ta cần ban hành Luật mới phù hợp với điều kiện phát triển của đất
nước hiện tại hơn so với Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998.
1.2.2.4. Thời kỳ từ năm 2011 đến nay
Ngày 11 tháng 11 năm 2011, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật khiếu nại,
Luật tố cáo để thay thế Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và các Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004, năm 2005. So với Luật khiếu nại, tố
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
dân tích cực trong việc phản ánh, lên án, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật (tham
nhũng), tiêu cực tại nơi sinh sống, công tác và làm việc, góp phần to lớn vào việc ngăn
ngừa và từng bước đẩy lùi các hành vi phạm pháp luật ở nước ta.
Khoản 1, Điều 2 Luật Tố cáo 2011 quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ
tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về
hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc
đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức”. Từ đó có thể hiểu người tố cáo là người biết được hành vi vi phạm
pháp luật của người khác đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện và trình báo với
cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về những gì mình biết. Người tố cáo cần phải
được áp dụng các biện pháp bảo vệ, bởi lẽ những người này trước hết là công dân, họ
có quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Đây là
những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể
hóa trong các văn bản pháp luật khác. Mỗi công dân trong xã hội đương nhiên có
quyền được bảo vệ trước nguy cơ xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Hơn nữa, người tố cáo là công dân có vai trò đặc biệt: họ là người cộng tác, phối hợp
với cơ quan nhà nước trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, họ là
người cung cấp các thông tin hữu ích góp phần giải quyết đúng đắn vụ việc tố cáo. Vì
vậy, họ có nguy cơ bị người có hành vi vi phạm pháp luật đe dọa, xâm hại tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản với ý đồ nhằm ngăn cản, trả thù do sự cộng tác,
phối hợp đó. Mặt khác, xuất phát từ bản chất của quan hệ tố cáo, người tố cáo là
những người yếu thế hơn người bị tố cáo (nhất là tố cáo các hành vi tham nhũng),
người bị tố cáo thường là những người có chức vụ, quyền hạn nên các hình thức trả
thù cũng rất tinh vi, khó lường. Ngoài ra, để thu thập được đầy đủ, chính xác các thông
tin từ người tố cáo, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải đảm bảo an toàn cho họ,
tạo cho họ lòng tin và sự an tâm, phối hợp nhiệt tình với các cơ quan chức năng, giúp
những vụ việc tố cáo sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng. Đó cũng là cách Nhà
nước thể hiện rõ sức mạnh và trách nhiệm của mình đối với công dân nói chung cũng
hành vi vi phạm pháp luật và những biểu hiện tiêu cực phát sinh trong quá trình giải
quyết tố cáo.
GVHD : TS. Phan Trung Hiền
24
SVTH: Trần Kim Hoa
Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ NGƯỜI
TỐ CÁO
Nội dung chính của chương này tập trung tìm hiểu những quy định của pháp
luật Việt Nam về công tác bảo vệ người tố cáo như: Bảo vệ người tố cáo bằng những
phương thức nào? Những chủ thể nào có trách nhiệm trong công tác bảo vệ người tố
cáo? Những hành vi vi phạm liên quan đến việc bảo vệ người tố cáo sẽ được xử lý như
thế nào?... Sau khi phân tích và tìm hiểu về mặt lý luận, người viết sẽ lấy đó làm tiền
đề để tìm hiểu về thực tiễn công tác bảo vệ người tố cáo sẽ được trình bày ở chương 3.
2.1. Khái quát các quy định của nước ta về bảo vệ người tố cáo
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác giải quyết hiệu quả các
khiếu nại, tố cáo nói chung, việc giải quyết tố cáo nói riêng và coi việc thực hiện
quyền tố cáo là phương thức để người dân thể hiện quyền dân chủ trực tiếp và tham
gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và
các vi phạm pháp luật khác. Xuất phát từ quan điểm đó, ở mỗi giai đoạn phát triển đất
nước, Đảng và Nhà nước đều có các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật về công tác