TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHOÁ 2011 - 2015
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHUYỂN GIAO
MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG CỦA QUYỀN
SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG HỢP ĐỒNG
NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
Giảng viên hướng dẫn:
Th.S Nguyễn Mai Hân
Bộ môn Luật Thương mại
Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Chúc Phượng
MSSV: 5115747
Lớp: Luật Thương mại 1-K37
Cần Thơ, tháng 12 / 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHOÁ 2011 - 2015
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày..........tháng 12 năm 2014
GVHD: ThS.Nguyễn Mai Hân
SVTH: Trần Thị Chúc Phượng
Pháp luật Việt Nam về chuyển giao một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
SVTH: Trần Thị Chúc Phượng
Pháp luật Việt Nam về chuyển giao một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
1.4 Sự hình thành các quy định pháp luật Việt Nam về nhượng quyền
thương mại và sự chuyển giao một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ................................................... 23
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
CHUYỂN GIAO MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI, THỰC TIỄN VÀ
KIẾN NGHỊ ................................................................................................................... 26
2.1 Những quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển giao một số đối tượng
của quyền sở hữu trí tuệ trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ........ 26
2.1.1 Điều kiện chuyển giao .......................................................................... 26
2.1.2 Chủ thể chuyển giao ............................................................................. 31
2.1.3 Nội dung chuyển giao ........................................................................... 32
2.1.3.1 Đối tượng của hợp đồng ................................................................. 34
2.1.3.2 Quyền và nghĩa vụ của Bên chuyển quyền và Bên được chuyển quyền
..................................................................................................................... 34
2.1.3.3 Căn cứ chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, phạm vi
chuyển quyền sử dụng và giới hạn lãnh thổ ................................................ 36
2.1.3.4 Thời hạn hợp đồng, giá chuyển giao quyền sử dụng, phương thức
thanh toán và sửa đổi, đình chỉ, vô hiệu hợp đồng ..................................... 37
2.1.3.5 Giải quyết tranh chấp hợp đồng ..................................................... 38
2.1.4 Hình thức chuyển giao ......................................................................... 39
2.2 Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam ............. 40
2.2.1 Tình hình chung ................................................................................... 40
2.2.2 Những ảnh hưởng của nhượng quyền thương mại đối với các doanh
nghiệp Việt Nam ............................................................................................ 44
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong khi hoạt động nhượng quyền thương mại đã phát triển rất sôi nổi, có thể
nói là đã đạt đến đỉnh cao, mà dẫn đầu sự phát triển đó chính là các cường quốc như
Mỹ, Úc, Nhật Bản, Trung Quốc… thì ở Việt Nam hoạt động nhượng quyền thương
mại chỉ mới bắt đầu phát triển ở giai đoạn đầu. Như chúng ta đã biết nhượng quyền
thương mại bắt đầu manh nha ở Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ trước và
phát triển khá nhanh trong khoảng 10 năm gần đây (sau khi nhượng quyền thương
mại chính thức được ghi nhận trong Luật Thương mại 2005) và nhượng quyền
thương mại được các chuyên gia kinh tế dự đoán là sẽ tiếp tục bùng nổ trong những
năm tới.
Việt Nam hiện là một trong 33 quốc gia trên thế giới có hệ thống quy phạm
pháp luật riêng biệt để điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại 1. Các quy
định pháp luật riêng biệt về nhượng quyền thương mại hiện hành (sau đây gọi tắt
là luật riêng về nhượng quyền thương mại) được ghi nhận tại Luật Thương mại
2005 (Mục 8 Chương VI), Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính
phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại
(sau đây gọi tắt là Nghị định 35), Thông tư 09/2006/TT-BTM ngày 25/5/2006 của
Bộ Thương mại hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại (sau đây
gọi tắt là Thông tư 09) và Quyết định 106/2008/QĐ-BTC ngày 17/11/2008 của Bộ
Tài chính về việc quy định mức thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký hoạt
động nhượng quyền thương mại.
Trong hoạt động nhượng quyền thương mại, đối tượng được chuyển giao ở
đây là các quyền thương mại. Quyền thương mại này gắn với một hệ thống đi kèm
với các quyền sở hữu trí tuệ. Bởi thế, một trong những vấn đề quan trọng của
nhượng quyền thương mại chính là chuyển giao các đối tượng của quyền sở hữu
trí tuệ. Nhưng các đối tượng này lại chịu sự điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ,
Luật Chuyển giao công nghệ. Chính việc chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật
mà vấn đề chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại gây
chuyển giao các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại theo pháp luật Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được xây dựng trên cơ sở tìm hiểu, tham khảo những nguồn tài liệu có
liên quan đến pháp luật về chuyển giao một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại như: giáo trình, các văn bản pháp luật,
tài liệu sách, báo, tạp chí chuyên ngành và các trang thông tin điện tử. Đồng thời
vận dụng các kiến thức trong quá trình học tập và kết hợp sử dụng các phương pháp
tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh cũng như phương pháp phân tích luật viết để
làm sáng tỏ nội dung của đề tài.
5. Kết cấu của luận văn
Đề tài gồm có: Lời nói đầu, phần nội dung, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo. Trong đó, phần nội dung được chia thành hai chương được trình bài theo thứ
tự thứ nhất là cơ sở lý luận, thứ hai là quy định của pháp luật và thực trạng cũng
như hướng hoàn thiện. Cụ thể như sau:
- Chương 1: Khái quát chung về chuyển giao một số đối tượng của quyền sở
hữu trí tuệ trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
GVHD: ThS.Nguyễn Mai Hân
2
SVTH: Trần Thị Chúc Phượng
Pháp luật Việt Nam về chuyển giao một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Chương này người viết khái quát về nhượng quyền thương mại, về hợp đồng
nhượng quyền thương mại, về chuyển giao một số đối tượng của quyền sở hữu trí
tuệ trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, và sự hình thành các quy định pháp
luật Việt Nam về nhượng quyền thương mại và sự chuyển giao một số đối tượng
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUYỂN GIAO MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG
CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG
QUYỀN THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát chung về nhượng quyền thương mại
1.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại – franchise có nguồn gốc từ tiếng Pháp là “franc”
có nghĩa là trung thực hay tự do. Theo từ điển tiếng Anh Oxford Advanced
Learner’s Dictionary thì “Franchise có nghĩa là nhượng quyền kinh doanh hay cho
phép ai đó chính thức được bán hàng hóa hay dịch vụ của một công ty ở một khu
vực nhất định”2.
Hiện nay, nhượng quyền thương mại là một trong những phương thức kinh
doanh rất phổ biến và có tính hấp dẫn cao trên thế giới. Tuy nhiên, do sự khác biệt
về Chính trị xã hội cũng như Văn hóa nên ở những quốc gia khác nhau lại có khái
niệm về nhượng quyền thương mại khác nhau.
Theo quan điểm của Hiệp hội Nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The
Internationnal Franchise Association – IFA): “Nhượng quyền thương mại là mối
quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao phải đề
xuất hoặc duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía
cạnh như: bí quyết kinh doanh (known – how), đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt
động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên giao
sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào
doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”3. Định nghĩa này nhấn mạnh tới quyền
sở hữu các đối tượng nhượng quyền của Bên nhượng quyền, đồng thời cũng nhấn
mạnh sự đầu tư vốn của Bên nhận quyền vào công việc kinh doanh của họ.
Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC) không định nghĩa trực tiếp
nhượng quyền thương mại là gì mà chỉ đưa ra cách hiểu nhượng quyền thương mại
thông qua định nghĩa hợp đồng nhượng quyền thương mại: “Hợp đồng nhượng
quyền thương mại là hợp đồng theo đó Bên giao hỗ trợ đáng kể cho Bên nhận trong
2
thuật” (technical knowledge) để bán sản phẩm, hoặc dịch vụ đồng bộ và có chất
lượng. Luật Sở hữu công nghiệp của Mêhicô có hiệu lực từ 6/1991 quy định:
“Nhượng quyền thương mại tồn tại khi với một li – xăng cấp quyền sử dụng một
thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật
để một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ
với các phương pháp vận hành (Operative metholds), các hoạt động thương mại,
hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu thiết lập, với chất lượng, danh tiếng, hình
ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó”6. Từ định
nghĩa này có thể thấy Mêhicô đang là nước có nhu cầu lớn về nhập khẩu công nghệ
và bí quyết kinh doanh từ nước ngoài.
Ở Nga, thỏa thuận nhượng quyền kinh doanh được định nghĩa là “sự nhượng
quyền thương mại” (commercial concession). Chương 54, Bộ luật Dân sự Nga định
nghĩa bản chất pháp lý của “sự nhượng quyền thương mại” như sau: “Theo hợp
4
Trần Ngọc Sơn, Nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam, có thể truy cập tại:
/>5
Trần Ngọc Sơn, Nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam, có thể truy cập tại:
/>6
Trần Ngọc Sơn, Nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam, có thể truy cập tại:
/>
GVHD: ThS.Nguyễn Mai Hân
5
SVTH: Trần Thị Chúc Phượng
trong việc điều hành công việc kinh doanh”8
7
Trần Ngọc Sơn, Nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam, có thể truy cập tại:
/>8
Điều 284, Luật Thương mại năm 2005.
GVHD: ThS.Nguyễn Mai Hân
6
SVTH: Trần Thị Chúc Phượng
Pháp luật Việt Nam về chuyển giao một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Như vậy có thể hiểu nhượng quyền thương mại là bán quyền thương mại của
Bên nhượng quyền với điều kiện có thu phí và được quyền kiểm soát hoạt động
kinh doanh của Bên nhận quyền, còn Bên nhận quyền thì tự mình kinh doanh – khai
thác các “quyền thương mại” của Bên nhượng quyền, thông thường là bán hàng
hóa, dịch vụ gắn với một nhãn hiệu đã nổi tiếng, được đông đảo người tiêu dùng
chấp nhận. Bên nhận quyền tự mình kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ theo
phương thức do Bên nhượng quyền quy định, không được phép thay đổi phương
thức kinh doanh theo phương thức sáng tạo của riêng mình. Bên nhận quyền kinh
doanh là một mắc xích trong hệ thống nhượng quyền kinh doanh. Sự phát triển ảnh
hưởng đến kết quả kinh doanh của người nhận quyền.
1.1.2 Đặc điểm của nhượng quyền thương mại
Mỗi quốc gia có một định nghĩa riêng và mỗi cá nhân lại có một quan điểm về
cấp là thương nhân nhận quyền thương mại từ Bên nhượng quyền ban đầu; Quyền
tiếp theo, đó là quyền được Bên nhượng quyền thứ cấp (là thương nhân có quyền
cấp lại quyền thương mại mà mình đã nhận ban đầu cho Bên nhận quyền thứ cấp)
cấp lại cho Bên nhận quyền thứ cấp (là thương nhân nhận lại quyền thương mại)
theo hợp đồng nhượng quyền thương mại chung; Quyền cuối cùng là quyền được
Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền thương mại theo hợp đồng phát triển
quyền thương mại. Có thể hiểu một cách khái quát thì “quyền thương mại” là quyền
tiến hành kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo cách thức của Bên nhượng quyền quy
định cùng với đó là việc sử dụng các nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo… của Bên nhượng quyền.
Từ cách hiểu khái quát về “quyền thương mại” có thể nhận thấy chính các
quyền sở hữu trí tuệ ấy là dấu hiệu để tập hợp khách hàng, là dấu hiệu để khách
hàng phân biệt một cơ sở kinh doanh, một doanh nghiệp này với một cơ sở kinh
doanh, một doanh nghiệp khác là đối thủ của nhau. Trong quan hệ nhượng quyền
thương mại, nội dung cốt lõi chính là việc Bên nhượng quyền cho phép Bên nhận
quyền được sử dụng quyền thương mại của mình trong kinh doanh. Có thể thấy các
quyền sở hữu trí tuệ là một yếu tố không thể thiếu để cấu thành nên một hệ thống
nhượng quyền thương mại.
Thứ ba, giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền luôn tồn tại một mối quan
hệ hỗ trợ mật thiết
Đây là một đặc điểm giúp chúng ta tìm thấy sự khác biệt của nhượng quyền
thương mại với các hoạt động thương mại khác. Trong nhượng quyền thương mại
luôn tồn tại mối quan hệ hỗ trợ mật thiết giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận
quyền, nếu không có điều đó, thì đã thiếu đi một điều kiện tiên quyết để xác định
hoạt đấy có phải là nhượng quyền thương mại hay không.
Mục đích và cũng là yêu cầu của nhượng quyền thương mại là việc nhân rộng
một mô hình kinh doanh đã được trải nghiệm thành công trên thương trường. Chính
vì vậy, đối với nhượng quyền thương mại thì cần phải bảo đảm được tính đồng nhất
về các yếu tố liên quan trực tiếp đến quy trình kinh doanh đó như: chất lượng hàng
hóa, dịch vụ; phương thức phục vụ; cách thức bày trí cơ sở kinh doanh; việc sử
kinh doanh của Bên nhận quyền được pháp luật đa số các quốc gia trên thế giới thừa
nhận. Theo đó, Bên nhượng quyền có thể định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra việc thực
hiện các quyền thương mại của Bên nhận quyền. Sự hỗ trợ của Bên nhượng quyền
đối với Bên nhận quyền như đã nói ở trên sẽ trở nên vô nghĩa và thiếu đi tính thực
tế nếu như Bên nhượng quyền không có quyền năng kiểm soát hoạt động điều hành
kinh doanh của Bên nhận quyền. Quyền năng này của Bên nhượng quyền đã thực
sự tạo nên chất kết dính quan trọng trong việc xây dựng tính thống nhất của hệ
thống nhượng quyền thương mại và sự ổn định về chất lượng hàng hóa và dịch vụ.
1.1.3 Sự hình thành và phát triển của nhượng quyền thương mại
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của phương thức kinh doanh
nhượng quyền thương mại đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ 17 – 18 tại Châu Âu.
Tuy nhiên hoạt động nhượng quyền kinh doanh (hay nhượng quyền thương mại)
được chính thức thừa nhận khởi nguồn, phát triển là tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19,
GVHD: ThS.Nguyễn Mai Hân
9
SVTH: Trần Thị Chúc Phượng
Pháp luật Việt Nam về chuyển giao một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
khi mà nhà máy Singer (sản xuất máy khâu) ký kết hợp đồng nhượng quyền kinh
doanh đầu tiên cho đối tác của mình9.
Giai đoạn từ sau năm 1945 ( khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc), chính là
móc thời gian đánh dấu sự phát triển rực rỡ của phương thức kinh doanh “nhượng
quyền thương mại”, với sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn và
các hệ thống kinh doanh, phân phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhất về cơ sở hạ
tầng, thương hiệu, sự phục vụ là đặc trưng cơ bản để nhận dạng những hệ thống
kinh doanh theo phương thức này. Từ những năm 60, “nhượng quyền thương mại”
10
SVTH: Trần Thị Chúc Phượng
Pháp luật Việt Nam về chuyển giao một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Một số kết quả thực sự ấn tượng của hệ thống này mang lại trên thế giới:
doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhượng quyền trên toàn thế giới năm 2000 đạt
1,000 tỷ USD với khoảng 320,000 doanh nghiệp từ các ngành khác nhau. Nếu so
với GDP của Việt Nam cùng năm thì hệ thống này gấp trên 28 lần và còn có dấu
hiệu vượt hơn nữa trong những năm gần đây. Tại Mỹ, hoạt động nhượng quyền
chiếm khoảng 40% tổng mức bán lẻ, thu hút được trên 8 triệu người lao động tức là
1/7 tổng lao động của Mỹ và có hơn 550,000 cửa hàng nhượng quyền và cứ 8 phút
lại có một cửa hàng nhượng quyền mới ra đời11.
Nhận thấy lợi ích, hiệu quả của phương thức kinh doanh này, nhiều quốc gia
đã có chính sách khuyến khích phát triển Franchise. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên
luật hóa franchise và có các chính sách ưu đãi cho những cá nhân, doanh nghiệp
kinh doanh theo phương thức franchise. Chính phủ các nước phát triển khác như
Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ý… cũng noi gương Hoa Kỳ, ban hành các chính sách thúc
đẩy, phát triển hoạt động franchise, khuyến khích và hỗ trợ cho doanh nghiệp trong
việc bán franchise ra nước ngoài. Nhiều trung tâm học thuật, nghiêng cứu chính
sách về franchise để đào tạo, đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế.
Riêng tại Đông Nam Á, kể từ thập niên 90, các quốc gia đã nhận thấy tác động
của franchise đến việc phát triển nền kinh tế quốc dân là quan trọng và là xu thế tất
yếu của toàn cầu hóa, vì vậy nhiều chính sách, giải pháp phát triển kinh tế liên quan
đến franchise đã được nghiên cứu, ứng dụng và khuyến khích phát triển. Năm 1992,
Chính phủ Malaysia đã bắt đầu triển khai chính sách phát triển hoạt động kinh
doanh nhượng quyền thương mại (Franchise development program) với mục tiêu
gia tăng số lượng doanh nghiệp hoạt động kinh doanh theo phương thức nhượng
quyền thương mại Thế giới (World Franchise Council), ra đời vào năm 1994, có
thành viên là các hiệp hội franchise của nhiều quốc gia. Ngoài ra còn có một tổ
chức uy tín và lâu đời nhất là Hiệp hội nhượng quyền thương mại Quốc tế
(Internationnal Franchise Association) được thành lập năm 1960, có khoảng 30,000
thành viên bao gồm các doanh nghiệp bán, mua franchise. Thông qua các tổ chức
này, nhiều hoạt động có ích cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế của các quốc gia đã
được thực hiện như: Tổ chức các hội chợ franchise quốc tế; Xây dựng niên giám
franchise khu vực và trên toàn thế giới; Hợp tác xuất bản các ấn phẩm chuyên
ngành và các website để cung cấp thông tin cho mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp
quan tâm đến franchise…; Tư vấn, hỗ trợ, hợp tác và phát triển phương thức kinh
doanh franchise.
1.2 Khái quát chung về hợp đồng nhượng quyền thương mại
1.2.1 Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại
Hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng giống như các loại hợp đồng thông
thường khác, là sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại
làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt
động nhượng quyền và cũng chính là căn cứ, cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể
sẽ phát sinh giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Theo Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (the US Federal Trade
Commission - FTC), khái niệm một hợp đồng nhượng quyền thương mại là hợp
đồng theo đó Bên giao:
- Hỗ trợ đáng kể cho Bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm
soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận.
GVHD: ThS.Nguyễn Mai Hân
12
SVTH: Trần Thị Chúc Phượng
hoá, tài liệu hướng dẫn...) mà các bên thoả thuận trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại.
Ở các nước khác nhau, với cái nhìn không đồng nhất về hoạt động nhượng
quyền thương mại, “quyền thương mại” mà một thương nhân có thể đem nhượng
GVHD: ThS.Nguyễn Mai Hân
13
SVTH: Trần Thị Chúc Phượng
Pháp luật Việt Nam về chuyển giao một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
cho một thương nhân khác có nội dung rộng, hẹp khác nhau. Một số nước cho rằng,
đối tượng của nhượng quyền thương mại chỉ là việc sử dụng tên thương mại, kiểu
dáng thiết kế của hàng hoá, trong khi đó một số nước khác lại mở rộng đối tượng
của nhượng quyền thương mại là tất cả những quyền hợp pháp liên quan thiết thân
tới hoạt động thương mại của một thương nhân. Tuy nhiên, xu hướng phát triển của
thương mại quốc tế chỉ ra rằng, khái niệm về đối tượng của hoạt động nhượng
quyền thương mại sẽ ngày càng được mở rộng trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang
diễn ra ngày một sôi động. Lúc đó “quyền thương mại” không chỉ là một phép cộng
đơn giản của các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ mà cao hơn, đó là sự kết hợp
toàn diện tất cả các yếu tố ấy trong một thể thống nhất không phân tách.
Có thể nói, chỉ có cách hiểu như trên về đối tượng của hợp đồng nhượng
quyền thương mại mới nói lên được bản chất của quan hệ thương mại đặc biệt này.
Xuất phát từ bản chất của “quyền thương mại”, khi giao kết hợp đồng nhượng
quyền thương mại, các bên cần thiết phải cân nhắc những yếu tố sẽ được nhắc đến
và kết hợp trong “quyền thương mại”. Đối với những quốc gia mà pháp luật thương
mại chưa đưa ra được một định nghĩa cụ thể về “quyền thương mại”, các bên chủ
khỏi những rủi ro có thể xảy ra khi mà những thương nhân này chưa có nhiều kinh
nghiệm trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại.
1.3 Khái quát chung về chuyển giao một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Như đã trình bày ở trên, các quyền sở hữu trí tuệ là một phần cấu thành nên hệ
thống nhượng quyền thương mại, như vậy trong hoạt động nhượng quyền thương
mại có liên quan tới các quyền sở hữu trí tuệ. Chuyển giao các quyền sở hữu trí tuệ
là một phần cần được chú trọng trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Có
nhiều quyền sở hữu trí tuệ có liên quan trong hoạt động nhượng quyền thương mại,
trong khuôn khổ của bài viết này, xin được trình bày về ba quyền sở hữu trí tuệ gắn
bó với hoạt động nhượng quyền thương mại nhất đó là: nhãn hiệu, tên thương mại
và bí mật kinh doanh.
1.3.1 Một số khái niệm về các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
1.3.1.1 Khái niệm nhãn hiệu
Nhãn hiệu đã có từ rất xa xưa, trước cả khi con người có sự trao đổi hàng hóa
với nhau trên thị trường. Người Ấn Độ đã chạm khắc chữ ký khảm trên đồ kim
hoàn mỹ nghệ, người Trung Quốc đã viết trên đồ gốm, sứ để xuất khẩu, người Nhật
Bản đã đóng những con dấu trên giấy viết.
Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: nhãn hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký hiệu,
biểu tượng hoặc hình vẽ, kiểu thiết kế…hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định
và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với
hàng hóa và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh.
InterBrand – Một công ty tư vấn nhãn hiệu hàng đầu, lại định nghĩa theo cách
sau: “nhãn hiệu là tổng hợp các thuộc tính vô hình và hữu hình được biểu trưng hóa
trong một thương hiệu, mà thông qua đó, nếu được quản trị phù hợp, sẽ tạo ảnh
hưởng và tạo ra giá trị”.
GVHD: ThS.Nguyễn Mai Hân
15
nó đến thị trường chung Châu Âu nên cần thiết phải có sự điều chỉnh hài hòa ở cấp
độ cộng đồng. Chỉ thị 89/104/EEC3 của cộng đồng Châu Âu là chỉ thị đầu tiên quy
định các vấn đề về nhãn hiệu ở cấp độ cộng đồng. Mục đích của chỉ thị này là nhằm
đảm bảo điều kiện đăng ký nhãn hiệu hài hòa ở tất cả các nước thành viên trong
cộng đồng chung Châu Âu và để đảm bảo hiệu lực cao hơn về sự hài hòa trong cộng
đồng, Quy định 40/944 đã được thiết lập. Các vấn đề về nhãn hiệu trong quy định
này được áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ Châu Âu. Định nghĩa về nhãn hiệu
được quy định giống nhau ở điều 2 Chỉ thị 89/104 và điều 4 Quy định 40/94 như
sau: “ Một nhãn hiệu cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một
GVHD: ThS.Nguyễn Mai Hân
16
SVTH: Trần Thị Chúc Phượng
Pháp luật Việt Nam về chuyển giao một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
cách rõ ràng và chi tiết (represented graphically), đặc biệt là các từ, bao gồm tên
riêng, các phác họa hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hóa hoặc của bao
bì sản phẩm, với điều kiện là những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng
hóa hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh
doanh khác”. Theo định nghĩa này, nhãn hiệu phải đáp ứng ba điều kiện. Thứ nhất:
“là dấu hiệu”; thứ hai: “được trình bày rõ ràng và chi tiết” và thứ ba: “có khả năng
phân biệt hàng hóa dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể
khác”. Ở điều kiện thứ nhất, “bất kỳ dấu hiệu nào” được hiểu rất rộng. Việc sử dụng
từ “bất kỳ dấu hiệu” làm cho định nghĩa Nhãn hiệu “mềm dẻo và không giới hạn”.
Mặc dù định nghĩa trên đưa ra hàng loạt các dấu hiệu như các từ bao gồm tên riêng,
chữ cái, chữ số hoặc hình dáng của hàng hóa hoặc của bao bì sản phẩm nhưng
chúng không phải là giới hạn. Đây chỉ là những dấu hiệu thường được sử dụng để
Định nghĩa này kết hợp hai chức năng khác nhau của nhãn hiệu: thứ nhất, chỉ
ra nguồn gốc của hàng hoá và thứ hai là phân biệt hàng hoá của chủ thể này với
hàng hoá của chủ thể khác. Hoa Kỳ cũng quy định cho các dấu hiệu dễ dàng nhận ra
như từ ngữ, tên gọi, biểu tượng, khẩu hiệu… là nhãn hiệu theo truyền thống thông
thường. Tuy nhiên, dần dần, Hoa Kỳ đã mở rộng bảo vệ các loại nhãn hiệu không
dễ dàng được nhận ra, chẳng hạn như hình dạng sản phẩm, mầu sắc, âm thanh, mùi
thơm… Mục 1052 đạo luật Lanham quy định một nhãn hiệu sẽ được đăng ký vào
hệ thống đăng ký gốc nếu nó có khả năng phân biệt hàng hoá của chủ thể này với
hàng hoá của chủ thể khác trừ khi nó bị ngăn cấm bởi các quy định của pháp luật:
“Không có nhãn hiệu nào mà hàng hoá của người nộp đơn có khả năng phân biệt
hàng hoá của những người khác lại bị từ chối đăng ký vào hệ thống đăng bạ gốc,
trừ…”. Như vậy, theo tinh thần của điều luật, bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân
biệt không rơi vào các trường hợp bị từ chối đều có thể được đăng ký là nhãn hiệu.
Như vậy, theo các văn bản pháp luật quốc tế cơ bản về bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ cũng như pháp luật của cộng đồng Châu Âu và pháp luật Mỹ, “nhãn hiệu hàng
hoá” là một đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ và thuật ngữ “nhãn hiệu
hàng hoá” được dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất,
kinh doanh khác nhau.
Còn ở Việt Nam, nhãn hiệu được định nghĩa “là dấu hiệu dùng để phân biệt
hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Và nhãn hiệu được bảo hộ
được quy định tại điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ như sau: “nhãn hiệu được bảo hộ nếu
đáp ứng các điều kiện sau đây:
1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể
cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều
màu sắc;
2. Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng
hoá, dịch vụ của chủ thể khác.”
Như vậy, một nhãn hiệu có thể được bảo hộ nếu đáp ứng được hai điều kiện.
Thứ nhất, dấu hiệu phải “nhìn thấy được”. Quy định này hẹp hơn quy định của
TRIPs “bất kỳ dấu hiệu nào”. Điều này có nghĩa rằng, các dấu hiệu như âm thanh,
thương mại theo nguyên tắc “chân lý”, không cho phép tự do lựa chọn tên thương
mại, bắt buộc phải tiến hành công việc kinh doanh dưới tên riêng của chính mình.
Bằng cách đó đã xuất hiện một số tên thương mại danh tiếng như: SIMENS,
ERICSON… Những yêu cầu tương tự cũng được đưa ra đối với công ty hợp danh:
Tên thương mại của các chủ thể này cần phải bao gồm tên thật của tất cả các thành
viên sáng lập công ty hoặc tên thật của ít nhất một thành viên với việc bổ sung thêm
từ “…và công ty (company)”. Nguyên tắc “chân lý” không được nêu ra một cách
nhất quán bởi khi công ty được chuyển giao cho một chủ sở hữu mới thì tên thương
mại cũ cũng có thể được chuyển giao. Nguyên tắc “chân lý” không áp dụng đối với
những liên kết tư bản khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần ….
Nhưng tên thương mại của chúng nhất thiết phải nêu được phạm vi hoạt động và
loại hình tổ chức. Nếu tên thương mại không phù hợp với bản chất thực của công ty
12
Nguyễn Thị Quế Anh, Một số vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại trên thế
giới,Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Chuyên san kinh tế - Luật, số 2, năm 2002, trang 30.
GVHD: ThS.Nguyễn Mai Hân
19
SVTH: Trần Thị Chúc Phượng