tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet trong luật hình sự việt nam - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
---

---

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011-2015

Đề tài:
TỘI ĐƯA HOẶC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP THÔNG TIN
TRÊN MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, MẠNG
INTERNET TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
TS. Phạm Văn Beo
Bộ môn Luật Tư pháp

Sinh viên thực hiện:
Thái Anh Thư
MSSV: 5115761
Lớp luật Tư pháp 1-K37

Cần Thơ, 12/2014


LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế không có một sự thành công nào mà không gắn liền với
những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người
khác. Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại giảng đường đại học đến

........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................

viễn thông, mạng internet ......................................................................................... 12
1.2.1. Khái niệm về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy
tính, mạng viễn thông, mạng internet ................................................................ 12
1.2.2. Đặc điểm của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy
tính, mạng viễn thông, mạng internet ................................................................ 14
1.2.3. Lịch sử pháp luật Hình sự Việt Nam về tội đua hoặc sử dụng trái phép
thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet. ....................... 15
1.2.4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu quy định của pháp luật Hình sự về tội đưa
hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng
internet. .............................................................................................................. 21
1.2.4.1. Về mặt lý luận .................................................................................... 21
1.2.4.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn..................................................................... 22
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ TỘI ĐƯA HOẶC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP THÔNG TIN TRÊN
MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, MẠNG INTERNET .................... 24
2.1. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông,
mạng internet được quy định tại Điều 226, Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm
2009. ........................................................................................................................ 24
2.2. Dấu hiệu pháp lý của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy
tính, mạng viễn thông, mạng internet ........................................................................ 25
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

SVTH: Thái Anh Thư


Luận văn tốt nghiệp

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin…

2.2.1. Mặt chủ thể của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy

TRÊN MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, MẠNG INTERNET......... 46
3.1. Tình hình tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng
viễn thông, mạng internet ở Việt Nam. ..................................................................... 46

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

SVTH: Thái Anh Thư


Luận văn tốt nghiệp

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin…

3.2. Bất cập trong quá trình xử lý tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng
máy tính, mạng viễn thông, mạng internet ................................................................ 49
3.2.1. Những bất cập trong quy định về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin
trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet ....................................... 50
3.2.2. Những bất cập trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội đưa hoặc
sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng
internet. ............................................................................................................. .52
3.2.3. Những bất cập trong công tác quản lý Nhà nước về thông tin trên
mạng…… ........................................................................................................... 54
3.3. Giải pháp cho những bất cập trong đấu tranh phòng chống tội đưa hoặc sử dụng
trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet ở Việt Nam55
3.3.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin
trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet ....................................... 55
3.3.2. Giải pháp cho những bất cập trong công tác chủ động phòng ngừa, phát
hiện và xử lý tội phạm ........................................................................................ 57
3.3.3. Giải pháp cho những bất cập trong công tác quản lý nhà nước về thông
tin trên mạng ...................................................................................................... 58

tổng số địa chỉ IPv4 đã cấp đạt trên 15,5 triệu địa chỉ 1. Công nghệ thông tin, viễn
thông trở thành một lĩnh vực mà các đối tượng tập trung khai thác, sử dụng để thực
hiện tội phạm. Loại toại phạm trong lĩnh vực công nghệ cao này gia tăng nhanh chóng,
diễn biến phức tạp và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Trong đó, đáng kể nhất là tội
đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng
internet. Tội phạm này đưa lên mạng những thông tin kích động bạo lực, hình ảnh dàn
dựng, công khai những thông tin riêng hợp pháp…những hành vi này không những
xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân, mà còn ảnh hưởng đến trật tự và an
toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng, tạo sự bất ổn trong xã hội cản trở sự phát triển
của đất nước. Chính vì vậy nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề an toàn công cộng, trật
tự công cộng, không ngừng đổi mới và hoàn thiện những quy định của pháp luật trong
lĩnh vực này. Từ đó, đánh dấu bước tiến quan trong trong lịch sử lập pháp hình sự Việt
Nam, đặc cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đấu tranh phòng chóng tội phạm có hiệu
quả góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội, tập trung phát triển kinh tế.
1

Bộ thông tin và truyền thông: Tình hình phát triển viễn thông, internet trong năm 2013,

/>x, [truy cập ngày 31/10/2014].

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

1

SVTH: Thái Anh Thư


Luận văn tốt nghiệp

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin...

xung quanh hiểu biết về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính,
mạng viễn thông, mạng internet, góp phần đấu tranh phòng chống có hiệu quả tội
phạm này.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn
thông, mạng internet” trong luật hình sự Việt Nam hiện hành, tại điều 226. Và những
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

2

SVTH: Thái Anh Thư


Luận văn tốt nghiệp

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin...

tài liệu trong phạm vi pháp luật Việt Nam có liên quan, chỉ rõ những thuộc tính bản
chất của loại tội phạm này để có thể xây chiến lược phòng chống tội phạm này, đồng
thời có thể hoàn thành tốt bài viết của mình.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên
mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet trong luật hình sự Việt Nam”, người
viết sử dụng các phương pháp sau:
− Phương pháp so sánh
− Phương pháp đối chiếu
− Phương pháp phân tích luật viết
− Phương pháp tổng hợp tài liệu
− Phương pháp luận
Trong đó phương pháp phân tích luật viết giữ vai trò chủ đạo trong tất cả các

THÔNG TIN TRÊN MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, MẠNG
INTERNET TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Vài nét về tội phạm công nghệ cao
1.1.1. Khái niệm về tội phạm
Tội phạm là chế định quan trọng và chủ yếu của luật hình sự. Nội dung của khái
niệm tội phạm đã “thể hiện một cách rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị
xã hội cũng như những đặc điểm pháp lý của pháp luật hình sự”2. Đồng thời, nó còn
“được xem như là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và
không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lý
khác…” 3.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS 1999 quy định: “Tội phạm là hành vi
nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất
toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá,
quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội
chủ nghĩa”.
Có thể xem quy định về tội phạm nêu trên là quy định “có tính khoa học thể
hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm”4. Từ quy định mang tính
định hướng này có thể rút ra khái niệm tội phạm một cách khái quát như sau: Tội
phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình
phạt.5
1.1.2.

Khái niệm về tội phạm công nghệ cao

Trên thế giới, khái niệm tội phạm công nghệ cao xuất hiện vào cuối thế kỷ XX
cùng với sự phát triển của các ngành khoa học công nghệ khác như công nghệ hóa học,

được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất
lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò
quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa
ngành sản xuất, dịch vụ hiện có”.
Việc ứng dụng công nghệ cao trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội đều
mang lại thành công. Đó chính là sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam
trong những năm gần đây đưa nước ta thoát khoải danh sách những nước nghèo kém
phát triển. Tuy nhiên, khi công nghệ cao ngày càng được ứng dụng rộng rãi thì càng dễ
bị lợi dụng, sử dụng hoặc là mục tiêu của bọn tội phạm Các thành tựu do công nghệ
thông tin đem lại cũng không nằm ngoài quy luật đó, nên đã hình thành một khái niệm
mới về loại tội phạm, đó là tội phạm công nghệ cao. Để đảm bảo sự thống nhất và
chuyên sâu, trong phạm vi đề tài này người viết chỉ tập trung nghiên cứu về tội phạm
công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Qua nghiên cứu cho thấy, hiện có rất nhiều khái niệm khác nhau, nhiều luồng ý
kiến chưa đồng nhất về tội phạm công nghệ cao. Có thể đưa ra một số ví dụ như:
Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam nêu khái niệm tội phạm công
nghệ cao là: Loại tội phạm sử dụng những thành tựu mới của khoa học - kỹ thuật và
công nghệ hiện đại làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội một cách
cố ý hoặc vô ý, gây nguy hiểm cho xã hội. Chủ thể của loại tội phạm này thường là
những người có trình độ học vấn, chuyên môn cao, có thủ đoạn rất tinh vi, khó phát
hiện. Hậu quả do loại tội phạm này gây ra không chỉ là những thiệt hại lớn về mặt
kinh tế, xã hội mà nó còn xâm hại tới an ninh quốc gia. Một số nhóm tội phạm công
nghệ cao phổ biến hiện nay là: Nhóm tội phạm tin học (Hacker), viễn thông; nhóm tội
phạm sử dụng phương tiện điều khiển chính xác; nhóm tội phạm sinh học - hoá học.
Theo Tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế INTERPOL thì khái niệm tội phạm
công nghệ cao là loại tội phạm sử dụng, lạm dụng những thiết bị kỹ thuật, dây chuyền
công nghệ có trình độ công nghệ cao như một công cụ, phương tiện để thực hiện hành

GVHD: TS. Phạm Văn Beo


mạng máy tính chủ yếu là: trộm cắp cước phí viễn thông, đánh cắp tiền trong tài khoản
ngân hàng, lừa đảo trong thanh toán, đánh cắp dữ liệu trái phép; xâm nhập, theo dõi
hoạt động của hệ thống máy tính khác trái phép; lợi dụng mạng máy tính để tiêu thụ
ma tuý, hoạt động mại dâm, tham gia thao túng thị trường chứng khoán; viết, phát tán
và tấn công khủng bố bằng virus đến các hệ thống máy tính khác; tuyên truyền thông
tin đồn nhảm, thất thiệt; tuyên truyền văn hoá phẩm độc hại, đồi truỵ...Có thể nói công
nghệ thông tin có vai trò, mức độ nhất định trong việc thực hiện, che giấu và gây ra
những hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Nhìn một cách tổng thể, đối với loại tội phạm
công nghệ cao, chúng ta thấy công nghệ thông tin (máy tính và mạng máy tính) đóng
một số vai trò quan trọng trong quá trình phạm tội. Dưới góc độ như là khách thể, hiểu
theo nghĩa thông thường máy tính và các thiết bị có liên quan là một loại tài sản có giá
trị, do vậy nó có thể trở thành đối tượng của các tội về xâm phạm quyền sở hữu như
trộm, cướp hay phá hoại tài sản. Hiểu theo một góc độ phức tạp hơn, máy tính với vai

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

6

SVTH: Thái Anh Thư


Luận văn tốt nghiệp

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin...

trò như là khách thể còn được thể hiện trong việc tội phạm cố tình phá hoại hay ăn cắp
chúng nhằm xoá bỏ hoặc lấy cắp các thông tin mà nó chứa đựng. Dưới góc độ là công
cụ phạm tội, máy tính và mạng máy tính với những khả năng ưu việt ngày càng được
các loại tội phạm khác nhau sử dụng để thực hiện các tội phạm truyền thống như tội
đánh bạc, tội lừa đảo... hoặc sử dụng máy tính làm trung gian chuyển tiền bất hợp pháp

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

7

SVTH: Thái Anh Thư


Luận văn tốt nghiệp

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin...

hành vi trộm cắp, lừa đảo tài sản mà người chơi (các game thủ) có được khi chơi trò
chơi trực tuyến hay không (trò chơi Võ lâm truyền kỳ ở Việt Nam là một điển hình,
game thủ có thể sở hữu những chiếc áo giáp, kiếm… nếu đánh thắng đối thủ trong trò
chơi). Nếu nhìn dưới góc độ thế nào là tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành,
thì các “tài sản ảo” này hoàn toàn không có giá trị vì nó thực chất không phải là tài sản
thực mà chỉ là sản phẩm được tạo ra trong thế giới ảo do những người xây dựng trò
chơi trực tuyến nghĩ ra và xây dựng lên thông qua phần mềm máy tính. Tuy nhiên, nếu
xét dưới góc độ các tài sản này do game thủ đã bỏ nhiều công sức để tạo lập được,
cùng với tính chất có thể “chiếm hữu, sử dụng và định đoạt” (thực chất chiếm hữu, sử
dụng và định đoạt ở đây cũng chỉ là tương đối) và đặc biệt là những tài sản này có thể
quy đổi sang giá trị thực (có thể bán lại cho những người chơi khác với giá tiền rất
cao) thì chúng lại thực sự cần được coi là một tài sản thực và cần được pháp luật bảo
vệ trước các hành vi như lừa đảo, trộm cắp như đối với các tài sản hữu hình khác.
Mặt khác, nếu chỉ coi tội phạm công nghệ cao giới hạn trong phạm vi thế giới
ảo, môi trường điện tử do công nghệ thông tin đem lại thì đối với những tội phạm
truyền thống sử dụng thành tựu công nghệ thông tin đem lại để thực hiện hành vi phạm
tội, việc truy tìm dấu vết, chính sách phòng ngừa, đấu tranh đối với hành vi này sẽ
không có gì khác so với phương pháp xử lý truyền thống, trong khi về bản chất thì các
hành vi phạm tội này khác hẳn, như kẻ phạm tội tống tiền trên mạng trong và sau khi

tượng nghiên cứu, trong bài viết này người viết sử dụng khái niệm mang tính chung
nhất là tội phạm công nghệ cao.
Từ những nhận thức lý luận trên, người viết có thể đưa ra khái niệm tội phạm
công nghệ cao là hành vi vi phạm pháp luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm
hình sự sử dụng những thành tựu mới của công nghệ thông tin làm công cụ, phương
tiện để thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý, xâm phạm đến an ninh quốc gia, trật
tự an toàn xã hội, gây nguy hiểm cho xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và
của công dân.
1.1.3. Dấu hiệu pháp lý của tội phạm công nghệ cao
1.1.3.1. Mặt khách thể của tội phạm công nghệ cao
Thứ nhất, tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin xâm phạm,
làm ảnh hưởng đến sự an toàn của hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và
viễn thông. Sự xâm phạm ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là các từ việc làm
hỏng hóc, chiếm đoạt, làm sai lệnh thông tin của máy tính, mạng máy tính, các thiết bị
liên quan cũng như các thông tin trong hệ thống máy tính và mạng máy tính,mạng viễn
thông. Các khách thể này rất đa dạng, từ chiếc máy tính đơn nhất, các thiết bị của
mạng máy tính... đến các chương trình máy tính, các thông tin chứa đựng trong hệ
thống máy tính và hệ thống mạng. Đây là nhóm khách thể của 05 tội danh về tin học
trong Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 của nước ta.
Thứ hai, tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin sử dụng máy
tính và mạng máy tính như là công cụ để xâm phạm đến lợi ích chính đáng của cá
nhân, pháp nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến trật tự công cộng. Đây là khách thể rất rộng
và liên quan đến các tội phạm truyền thống những đã sử dụng các thành tựu của công
nghệ thông tin, viễn thông để thực hiện hành vi phạm tội. Với sự trợ giúp của khoa học
kỹ thuật mới, các tội phạm này có thể gây ra những thiệt hại vô cùng nghiêm trọng về
nhiều mặt cho hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và đời
sống xã hội không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia.
1.1.3.2. Mặt khách quan của tội phạm công nghệ cao
Các hành vi của tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin rất
đa dạng và phức tạp. Các hành vi này cũng phát triển, thay đổi không ngừng cùng với

mạng máy tính các thông tin trái với các quy định của Nhà nước. Sử dụng trái phép
thông tin trong các dữ liệu của máy tính không được phép của cơ quan Nhà nước hoặc
người có thẩm quyền. Đưa trái phép vào mạng máy tính các thông tin là hành vi đưa
các thông tin vào trong các dữ liệu của máy tính không được phép của các cơ quan
Nhà nước hoặc người có thẩm quyền.
− Nhóm hành vi truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông,
mạng internet hoặc thiết bị số của người khác nhằm chiếm quyền điều khiển; can thiệp
chức năng hoạt động của thiết bị số; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc
sử dụng trái phép các dịch vụ.
− Nhóm hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc
thiết bị số để thực hiện một trong những hành vi như sử dụng thông tin về tài khoản,
thẻ ngân hàng để chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ, lừa
đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh… nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ
chức, cá nhân.
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có rất nhiều các hành vi phạm tội truyền thống như
hành vi lừa đảo, khủng bố, tống tiền, quấy rối tình dục, mại dâm, đánh bạc… cũng
được coi là hành vi phạm tội công nghệ cao nếu các hành vi này được thực hiện qua hệ
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

10

SVTH: Thái Anh Thư


Luận văn tốt nghiệp

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin...

thống máy tính, sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình thực hiện hành vi phạm tội.
Thông thường, các hành vi phạm tội công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin

người không hiểu biết đầy đủ về các quy định liên quan đến vận hành, khai thác và sử
dụng mạng máy tính điện tử dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội và đã gây ra những

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

11

SVTH: Thái Anh Thư


Luận văn tốt nghiệp

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin...

thiệt hại cho xã hội. Và một điều đáng báo động là chủ thể của nhóm tội phạm này
ngày càng được trẻ hóa. Với sự phát triển của mạng máy tính và các chương trình phần
mềm khác, giới trẻ thường là thế hệ nhận biết nhanh nhạy những công nghệ mới, cùng
với tính bồng bột, thích thể hiện mình nên dễ dẫn đến con đường phạm tội. Cũng có rất
nhiều người trong cộng đồng khoa học và công nghệ có khả năng vượt trội nhưng
không tìm được việc làm phù hợp nên họ rất dễ chuyển sang hoạt động với mục đích
bất chính.
1.1.4. Nguyên nhân gia tăng tội phạm công nghệ cao
Tội phạm công nghệ cao ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân có nhiều nguyên
nhân, nhưng chủ yếu là:
Về khách quan, tình hình tội phạm công nghệ cao trên thế giới và các nước
trong khu vực có nhiều diễn biến phức tạp. Trong khi đó, đặc thù của loại tội phạm
này là tính quốc tế và hội nhập nhanh, do đó, đã tác động mạnh đến tình hình tội phạm
công nghệ cao ở trong nước.
Về chủ quan, công tác quản lý nhà nước về công nghệ thông tin, viễn thông,
thương mại điện tử, thanh toán điện tử và quản lý, vận hành các hệ thống máy tính của

bổ 2009 tội phạm này được định nghĩa như sau:
“Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông,
mạng internet được hiểu là những hành vi sau:
a) Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet những thông tin trái
với quy định của pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 88 và Điều
253 của Bộ luật này;
b) Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hoá những
thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng
viễn thông, mạng Internet mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;
c) Hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn
thông, mạng Internet”6.
Trong đó, các thuật ngữ mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet và
thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân được hiểu như sau:
− Mạng máy tính là tập hợp nhiều máy tính kết nối với nhau, có thể chia sẻ dữ
liệu cho nhau.
− Mạng viễn thông là tập hợp thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng
đường truyền dẫn để cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông.
− Mạng internet là hệ thống gồm các mạng máy tính được kết nối với nhau trên
phạm vi toàn thế giới để thực hiện các dịch dụ truyền thông dữ liệu (như tìm đọc thông
tin từ xa, truyền các tập tin, thư tín điện tử và các nhóm thông tin.
− Thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân là những thông tin
thuộc sở hữu của cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ.
Từ định nghĩa về tội phạm này trong luật hình sự, có thể thấy hành vi đưa hoặc sử
dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet chủ yếu
nhằm mục đích xâm phạm lợi ích cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm phạm trật tự an toàn
xã hội và hành vi này chỉ thỏa mãn yếu tố khách quan của tội này khi gây ra hậu quả
nghiêm trọng. Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn
thông, mạng internet là hành vi được thực hiện một cách cố ý, bởi đây là trường hợp
mà hành vi được thực hiện bởi quyết định của bản thân chủ thể, là kết quả hoạt động ý
chí của chủ thể. Tội phạm đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính,

những người trẻ tuổi, chưa có tiền án, tiền sự.
Thứ ba: Về hậu quả thiệt hại, hậu quả của tội phạm trong môi trường mạng máy
tính thường rất nghiêm trọng, một khi các hoạt động xã hội được máy tính hóa, thì hệ
thống mạng, hệ thống thông tin được phổ biến rộng khắp trên tất cả các môi trường
của đời sống xã hội, thì hậu quả của tội phạm này gây ra thường ảnh hưởng nhanh
chóng đến tất cả các mặt của đời sống xã hội.
Thứ tư: Các hành vi phạm tội có liên quan đến mạng máy tính rất tinh xảo về
thủ đoạn thực hiện hành vi, thủ đoạn che dấu tội phạm cũng như hậu quả của tội phạm.
Tội phạm phá hủy sự hoạt động của các đối tượng dưới dạng trạng thái, không tồn tại
dưới dạng vật thể, chúng chỉ phá hoại các dữ liệu mà không phá hủy máy tính hoặc
mạng máy tính, thông tin và các linh kiện khác nên sự phá hủy này thường không để
lại dấu vết của sự phá hủy tồn tại dưới dạng vật thể; người phạm tội thực hiện hành vi
phạm tội trong thời gian rất ngắn với sự hỗ trợ của máy tính với tốc độ xử lý siêu tốc.
Mặt khác, nó cũng không bị hạn chế về thời gian, không gian, chúng có thể thực hiện
ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời gian nào, người phạm tội có thể xóa hoàn toàn các dấu vết
của hành vi phạm tội với các chương trình xóa dấu vết đã được cài sẵn khi các lệnh
phạm tội được thực hiện, vì vậy loại tội phạm này có độ ẩn rất cao. Tội phạm trong
lĩnh vực mạng máy tính là tội phạm trong thời kỳ hội nhập. Theo phân tích của các cơ
quan chức năng, cùng với sự bung nổ về mạng máy tính và những ứng dụng rộng rãi
của mạng máy tính trong tất cả các môi trường của đời sống xã hội, thì tình hình hoạt
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

14

SVTH: Thái Anh Thư


Luận văn tốt nghiệp

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin...

hành vi phạm tội mới nhưng chưa được ghi nhận trong Bộ luật hình sự 1985 trong
đó có “tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn
thông, mạng internet”. Mặc dù Bộ luật hình sự 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn
lần, nhưng vẫn còn nhiều điểm bất cập, chưa theo kịp tình hình phát triển của xã
hội.
1.2.3.2.

Giai đoạn từ năm 1999 đến trước năm 2009

Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần không còn là
một chỉnh thể thống nhất. Hơn nữa Bộ luật hình sự 1985 đã bộc lộ nhiều vấn đề hạn
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

15

SVTH: Thái Anh Thư


Luận văn tốt nghiệp

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin...

chế, cho thấy bộ luật này đã không đáp ứng được nhu cầu đấu tranh phòng, chống
tội phạm trong giai đoạn mới.
Đáp ứng yêu cầu hiện tại của nước ta ngày 21/12/1999 Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X tại kỳ họp thứ 6, đã thông qua Bộ luật hình
sự (gọi tắt là Bộ luật hình sự 1999) thay cho Bộ luật hình sự 1985 có hiệu lực từ
ngày 01 tháng 7 năm 2000. Kể từ năm 2000 đến nay, Bộ luật hình sự đã góp phần
quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần tích cực

Luận văn tốt nghiệp

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến
năm năm.7
Bộ luật hình sự 1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 1 - 7 - 2000 nhưng cho đến
nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể cho việc xử lí đối với tội sử dụng trái phép
thông tin trên mạng và trong máy tính nói riêng và các tội phạm trong lĩnh vực công
nghệ thông tin nói chung, chính vì lẽ đó đã làm cho việc xác định một hành vi trong
thực tế đã cấu thành một trong các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin hay
chưa hoặc là vi phạm vào điều luật nào trong các nhóm tội phạm này đang là vấn đề
gây nhiều tranh cãi. Cụ thể là:
Thứ nhất, đối với tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính
(Điều 226 – BLHS): Tội này quy định điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với hành vi này phải là “gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành
chính mà còn vi phạm”. Với việc quy định như trên có thể hiểu là người vi phạm điều
luật này chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đồng thời phải gây hậu quả
nghiêm trọng và bị xử lý kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính, còn nếu chỉ gây hậu quả
nghiêm trọng thì không cấu thành tội phạm. Ngược lại, có ý kiến cho rằng, chỉ cần gây
hậu quả nghiêm trọng là cấu thành tội phạm, nếu không gây hậu quả nghiêm trọng thì
phải bị xử lý kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính. Và cũng theo tinh thần của điều
luật này thì không rõ gây hậu quả đến mức độ nào là “gây hậu quả nghiêm trọng”.
Hình phạt này còn nhẹ, chưa tương xứng với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
nên chưa đạt mục đích trừng trị người phạm tội, giáo dục họ trở thành những người
có ích cho xã hội và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm.
Thứ hai, đối với hành vi sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy
tính (Điều 226 – BLHS). Trong thực tế, đa số các chủ thể vi phạm đều sử dụng vi rút

các chương trình vi rút tin học (Điều 224). Còn nếu đã khai thác được thông tin trái
phép trên mạng và thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của Điều 226 BLHS thì chỉ xử về tội
sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226).
Qua nghiên cứu cho thấy quy định của Bộ luật hình sự 1999 tại Điều 226 chưa
đủ sức răn đe loại tội phạm này và chính những lỗ hổng của hệ thống pháp luật đã làm
nảy sinh nhiều điều kiện để cho bọn tội phạm tin học tiến hành các cuộc tấn công
nhằm lấy oai, trục lợi và hành động ngày càng táo bạo, thiếu suy nghĩ hơn. Thậm chí,
các tổ chức, doanh nghiệp có thể lợi dụng để thực hiện việc cạnh tranh không lành
mạnh thông qua việc thực hiện các vụ tấn công lẫn nhau. Nếu không có những quy
định luật pháp rõ ràng và biện pháp hỗ trợ đảm bảo an toàn mạng thì môi trường đầu
tư của Việt Nam sẽ kém hấp dẫn.
1.2.3.3.

Giai đoạn từ năm 2009 đến nay

Bộ luật hình sự năm 1999 thực sự là một công cụ sắc bén, là hành lang pháp lý
quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời gian qua. Tuy
nhiên, qua nhiều năm thi hành, Bộ luật hình sự 1999 đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế
đòi hỏi phải được khắc phục, điển hình như:
Thứ nhất, do ban hành từ năm 1999, nên Bộ luật hình sự chưa thể chế hoá được
những quan điểm, chủ trương mới của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong
Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (sau đây gọi là Nghị quyết số
08/NQ-TW) và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi là Nghị quyết số 49/NQTW).
Thứ hai, một số quy định của Bộ luật hình sự về cấu thành của một số tội phạm
(như: các tội phạm về môi trường, các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin)
còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này
trên thực tế.


quan, tổ chức, cá nhân, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng,
thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ
đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet những thông tin trái
với quy định của pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 88 và Điều
253 của Bộ luật này;
b) Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hoá những
thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính,
mạng viễn thông, mạng Internet mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;
c) Hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn
thông, mạng Internet.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm
đến bảy năm:
a) Có tổ chức;

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

19

SVTH: Thái Anh Thư


Trích đoạn Khung hình phạt tăng nặng Hình phạt bổ sung Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tintrên mạng máy tính,mạng viễn Tình hình tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tintrên mạng máy tính,mạng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status