TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011-2015
ĐỀ TÀI
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ
DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. Trương Thanh Hùng
Bùi Thị Ngọc Ái
Bộ môn Luật Tư pháp,
MSSV: 5115867
Khoa Luật-ĐHCT
Lớp Luật Tư pháp 1, K37
Cần Thơ, tháng 11/2014
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
hiện những nghĩa vụ đã cam kết thì xảy ra vi phạm như: không thực hiện, thực hiện
1
Nghị quyết số 48-NQ/TWcủa Bộ Chính trị ngày 24/05/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, mục 3, phần II.
2
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
không đúng và không đầy đủ về chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm, không đúng
phương thức, công việc đã cam kết. Với lý do đó, người viết đã lựa chọn đề tài “Trách
nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình, nhằm
phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn về các hình thức quy trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng và chỉ ra những đặc trưng của từng biện pháp. Thông qua đó, người viết thấy được
một phần do có sự chồng chéo giữa Bộ luật Dân Sự năm 2005 và Luật Thương mại năm
2005, qua đó người viết đưa ra những đánh giá, kiến nghị về những phương hướng nhằm
hoàn thiện các quy định về trách nhiệm nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng.
2. Mục đích và đối tượng nghiên cứu
Mục đích và đối tượng nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về trách
nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng. Tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam
liên quan tới việc xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Qua đó, giúp cho người
giao kết hợp đồng có kiến thức khi thực hiện hợp đồng một cách tốt nhất để bảo vệ lợi ích
chính đáng của các bên tham gia giao kết hợp đồng, giảm bớt hoặc khắc phục được tình
trạng các trường hợp do vi phạm hợp đồng do không thực hiện đúng cam kết. Đồng thời
giúp tránh được những mâu thuẫn, tranh chấp giải quyết trên thực tế.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định về trách nhiệm dân sự do vi phạm
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ
DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong pháp luật Việt
Nam, bởi vì hầu hết các giao dịch trong xã hội dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp
ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường đều liên quan đến hợp đồng nói chung. Chính vì
lẽ đó mà chế định về hợp đồng đóng vai trò quan trọng, chiếm một vị trí nồng cốt trong
BLDS 2005…Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng hay trách nhiệm dân sự trong
hợp đồng là một chế định được chính thức ghi nhận trong văn bản pháp lệnh kể từ khi
Nhà nước ta cho ban hành Pháp lệnh hợp đồng dân sự vào năm 1991 và Pháp lệnh này đã
dành riêng một chương để quy định về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng. Và hiện
nay quy định về trách nhiệm dân sự đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc đảm
bảo quyền và lợi ích của các bên khi nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.
1.1. Một số khái niệm liên quan
Trong cuộc sống hằng ngày để thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần, mỗi
chúng ta xác lập nhiều giao dịch khác nhau, trong đó có nhiều giao dịch được xác lập
dưới một hình thức pháp lý gọi là hợp đồng. Khi hợp đồng được giao kết một cách hợp
pháp trên cơ sở thỏa thuận thì các bên đã thiết lập quyền và nghĩa vụ tương ứng ràng
buộc lẫn nhau. Xuất phát từ việc cần thiết bảo vệ lợi ích chính đáng trên những nguyên
tắc đã được thể chế hóa thành một chế tài của pháp luật dân sự đó là trách nhiệm dân sự
và bắt buộc mọi công dân phải tuân thủ. Tuy nhiên không phải lúc nào hợp đồng được
giao kết thì trên thực tế sẽ luôn được thực hiện đúng những gì đã giao kết và việc vi phạm
hợp đồng được giải quyết như thế nào. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu về những khái niệm
liên quan.
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm dân sự
Trách nhiệm dân sự luôn được các luật gia Việt Nam hiện nay xem là một loại trách
nhiệm pháp lý – một vấn đề pháp lý quan trọng được nghiên cứu tổng quát trong môn lý
luận chung về nhà nước và pháp luật. Trách nhiệm pháp lý được cho là “việc một chủ thể
phải gánh chịu những hậu quả bất lợi theo quy định của pháp luật do có hành vi vi phạm
pháp luật”2.
quả bất lợi” hay nói cách khác là chế tài. Thái độ của Nhà nước đối với các hành vi vi
phạm pháp luật được thể hiện qua việc áp dụng các chế tài và các chế tài này được đảm
bảo thực hiện bằng bộ máy cưỡng chế Nhà nước.
Thứ hai là tính đền bù, bởi mục đích của trách nhiệm pháp lý không chỉ là trừng trị
hành vi vi phạm mà bên cạnh đó còn là sự khôi phục lại tình trạng tương ứng với phần
hậu quả mà người vi phạm đã gây ra do không thực hiện nghĩa vụ của mình.
Thứ ba là về hình thức của trách nhiệm pháp lý thể hiện trách nhiệm pháp lý chỉ tồn
tại khi được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền của Nhà
nước ban hành, tức chỉ Nhà nước có quyền xác định hành vi nào là vi phạm pháp luật và
các chế tài tương ứng với mỗi vi phạm đó.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, thì
“Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với
người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị
3
4
Trung tâm Từ điển học - Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt 2003, Nxb Đà Nẵng.
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, 2006.
6
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
thiệt hại”5. Nếu hiểu theo nghĩa này, trách nhiệm dân sự là loại trách nhiệm pháp lý được
đặt ra khi và chỉ khi có sự vi phạm pháp luật dân sự.
Còn trong số chuyên đề về BLDS năm 2005, Tạp chí Dân chủ và pháp luật của Bộ
Tư pháp lại đưa ra một cách định nghĩa khác về trách nhiệm dân sự trong phần thuật ngữ
pháp luật dân sự: “Trách nhiệm dân sự (theo nghĩa rộng) là các biện pháp có tính cưỡng
Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề về Bộ luật Dân sự Việt Nam, 2005, tr. 24.
7
Tăng Thanh Phương, Tập bài giảng Luật dân sự Việt Nam – Phần Nghĩa Vụ, Khoa Luật, Trường Đại Học Cần
Thơ, 2012, tr. 74.
5
7
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
mong muốn đó cũng không phải là nguồn của nghĩa vụ bồi thường: nghĩa vụ bồi thường
do luật quy định, còn người có nghĩa vụ chỉ có ý định thực hiện một nghĩa vụ mà ý chí
của mình không tạo ra”8.
Tóm lại, trách nhiệm dân sự được hiểu là một chế định có lịch sử phát triển lâu đời
và cho tới nay vẫn là một trong những chế định có tầm ảnh hưởng rộng rãi và luôn được
nghiên cứu trong nhiều hệ thống pháp luật và trách nhiệm dân sự có những đặc điểm
riêng biệt thể hiện bản chất của các quan hệ dân sự trong xã hội đó là:
- Trách nhiệm dân sự là quan hệ luật tư giữa hai chủ thể độc lập có địa vị pháp lý
bình đẳng;
- Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm tài sản;
- Trách nhiệm dân sự được áp dụng đối với bên vi phạm phải tương xứng với hậu
quả của hành vi vi phạm, tức là tương xứng với mức độ tổn thất về vật chất hoặc tinh
thần mà người chịu thiệt hại phải gánh chịu;
- Trách nhiệm dân sự phải được áp dụng thống nhất và như nhau đối với các chủ thể
của quan hệ pháp luật dân sự;
Thuật ngữ “trách nhiệm dân sự” có phù hợp với việc “không thực hiện đúng hợp
đồng” hay không? Bộ luật Dân sự hiện hành dành các điều từ 302 đến 308 quy định về
“trách nhiệm dân sự”. Tuy nhiên, mục “Trách nhiệm dân sự” này không đề cập đến
“hoãn thực hiện hợp đồng”, “đơn phương chấm dứt hợp đồng”, “hủy bỏ hợp đồng” khi
sự thỏa thuận ý chí của hai hay nhiều người nhằm xác lập nghĩa vụ. Người La Mã không
có lý thuyết chung về hợp đồng mà chỉ có các nhóm quy tắc áp dụng cho các loại hợp
đồng khác nhau. Luật Anh - Mỹ có lý thuyết chung về hợp đồng như trong luật la tinh.
Song đó là một lý thuyết mà người ta chỉ có thể hiểu được một khi từ bỏ hầu như tất cả
các khái niệm của luật la tinh và tiếp cận đối tượng nghiên cứu qua chính lăng kính của
văn hóa pháp lý Anh - Mỹ. Đối với người Anh hoặc Mỹ hoặc bất kỳ người nào thấm
nhuần văn hóa pháp lý Anh - Mỹ, hợp đồng là một vụ trao đổi, một bargain; quan hệ kết
ước hình thành trong điều kiện một bên quan tâm đến cái mà bên kia mang lại cho mình,
gọi là vật đánh đổi (consideration)9.
Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể. Dù được hình thành
trong lĩnh vực quan hệ xã hội nào thì hợp đồng luôn có những điểm chung sau đây :10
- Trong các hợp đồng yếu tố cơ bản nhất là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sự
thỏa thuận giữa các bên với nhau. Người ta thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc hiệp
ý. Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng : khi giao kết hợp dồng các
bên được tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ
của các bên. Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối. Nhà nước buộc
các bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng.
Trong những trường hợp thật cần thiết, nhân danh tổ chức quyền lực công, nhà nước có
thể can thiệp vào việc ký kết hợp đồng và do đó giới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng.
Tuy nhiên sự can thiệp này phải là sự can thiệp hợp lý và được pháp luật quy định chặt
chẽ để tránh sự lạm dụng, vi phạm quyền tự do hợp đồng.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồng
được đề cao. Tất cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận. Tuy nhiên không thể suy luận
ngược lại: Mọi sự thỏa thuận của các bên đều là hợp đồng. Chỉ được coi là hợp đồng
những thỏa thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng thuận đích thực
Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình luật dân sự Việt Nam – tập 2, Khoa Luật, Trường Đại Học Cần Thơ, 2004, tr. 4 –
5.
10
Phạm Hữu Nghị, Sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005 Về vấn đề cải cách hợp đồng , Tạp chí Nhà nước và Pháp
đắn.
Khi đời sống xã hội ngày càng phát triển, một sự nhu cầu về trao đổi tài sản, hàng
hóa cũng như các vấn đề thuê nhân lực để phục vụ cho việc đáp ứng nhu cầu của con
người cũng ngày càng phát triển theo. Khi ý chí của các bên trong việc trao đổi đó gặp
nhau ở một số điểm nhất định, họ muốn tiến tới thực hiện ý chí của nhau ở những điểm
trùng lập đó. Nhưng việc đơn thuần để tiến trình những điểm chung đó là chưa đủ, cần có
một cơ chế để giúp việc đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau khi họ thực hiện
ý chí của mình và từ đó hợp đồng ra đời.
1.1.3. Khái niệm về vi phạm hợp đồng
Theo LTM năm 2005, “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực
hiện không dầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên
hoặc theo quy định của Luật này”11. Với quy định này, “vi phạm” được hiểu là “không
thực hiện”, “thực hiện không đầy đủ”, “thực hiện không đúng”. Điều 302 BLDS 2005
11
Khoản 2, Điều 13 Luật Thương mại 2005.
10
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
cũng theo hướng của LTM liên quan đến thuật ngữ sử dụng. Điều 302 BLDS 2005 có
tiêu đề “Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự”, trong nội dung điều này, có đề
cập đến “không thực hiện” hoặc “thực hiện không đúng”.
Khái niệm về “vi phạm hợp đồng” nói riêng và vi phạm nghĩa vụ dân sự nói chung
được ghi nhận tại khoản 1 Điều 302 BLDS năm 2005 : “Bên có nghĩa vụ mà không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có
quyền”. Theo đó thì vi phạm hợp đồng là một bên của hợp đồng không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình như trong hợp đồng quy định. Đây là dấu hiệu
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
kết hợp đồng cũng vậy, khi một trong các bên vi phạm nghĩa vụ trong quá trình thực hiện
thì vấn đề trách nhiệm được đặt ra. Có thể nói, việc có những quy định riêng về trách
nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng trong điều chỉnh các quan
hệ hợp đồng. Vì sâu xa, mục đích của việc áp dụng chế tài đối với nghĩa vụ bị vi phạm
trong hợp đồng là để khôi phục lại những quyền mà bên bị vi phạm nghĩa vụ sẽ được
hưởng theo hợp đồng, nghĩa là chế định này có nhiệm vụ bảo vệ những quan hệ hợp đồng
do luật dân sự điều chỉnh, góp phần củng cố pháp luật hợp đồng. Khái niệm “trách
nhiệm” theo nghĩa chủ động được sử dụng để chỉ nghĩa vụ bổn phận, nhiệm vụ của chủ
thể pháp luật. “Trách nhiệm pháp lý theo nghĩa bị động gắn liền với hành vi vi phạm
pháp luật, là phải gánh chịu những hậu quả bất lợi từ hành vi vi phạm pháp luật của
mình. Đó là sự phản ứng của Nhà nước đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp
luật, vì thế nó gắn liền với sự cưỡng chế của Nhà nước trong những trường hợp cần thiết,
cho dù chủ thể vi phạm pháp luật có chấp nhận hay không chấp nhận”12.
Như vậy, khái niệm về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng có thể được hiểu
như sau: “Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý
mang tính chất tài sản phát sinh do quy định của pháp luật hoặc do thỏa thuận của các
bên trong hợp đồng áp dụng cho bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng nhằm bảo đảm
quyền lợi ích hợp pháp cho bên bị vi phạm”.
1.2.2. Đặc điểm về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà người có nghĩa vụ trong
hợp đồng có nghĩa vụ nhưng không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa
vụ thì sẽ phát sinh trách nhiệm dân sự với người có quyền theo quy định trong hợp đồng.
Tuy nhiên, nếu sự vi phạm này chưa gây thiệt hại thì người vi phạm chỉ có trách nhiệm
thực hiện đúng nghĩa vụ. Mặt khác, nếu vi phạm nghĩa vụ đã gây ra một thiệt hại cho
người bị vi phạm, thì người vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Vì vậy,
tùy thuộc vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm mà trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp
đồng sẽ là trách nhiệm buộc phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, trách nhiệm bồi
trước, cho nên trách nhiệm bồi thường chỉ giới hạn trong phạm vi những thiệt hại thực tế
và có thể tiên liệu được vào thời điểm kí kết.
- Lỗi là một trong những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong hợp đồng, nhưng không phân biệt hình thức lỗi là cố ý hay vô ý vì mức trách nhiệm
bồi thường không phân hóa theo hình thức lỗi như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng. Trong trách nhiệm dân sự nói chung hay trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói
riêng lỗi của người vi phạm là lỗi suy đoán, người vi phạm nghĩa vụ luôn bị coi là có lỗi
nếu họ không chứng minh được rằng họ không có lỗi. Nguyên tắc mà pháp luật Việt Nam
sử dụng, tuân thủ là thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời cho nên việc xác
định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thì hình thức của lỗi hoàn toàn
không ảnh hưởng đến mức giới hạn và phạm vi của trách nhiệm hay nói đúng hơn là
không ảnh hưởng đến mức độ bồi thường.
- Thực hiện xong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng không đương
nhiên làm chấm dứt quan hệ hợp đồng giữa các bên. Trong hợp đồng khi bên vi phạm
nghĩa vụ và gây thiệt thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm. Mục đích
của bồi thường là bù đắp, hạn chế những tổn thất, thiệt hại đã gây ra cho bên bị thiệt hại
và mục đích của hợp đồng được giao kết là hướng tới lợi ích của các bên muốn đạt được.
Vì vậy, khi thực hiện xong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng không đương
nhiên làm chấm dứt quan hệ hợp đồng giữa các bên, vì lợi ích của các bên hướng tới khi
kí kết là chưa đạt được.
13
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
1.2.3. Các hình thức quy trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
1.2.3.1. Buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng
Trên cơ sở hợp đồng, một bên (A) phải giao một tài sản, thực hiện một công việc,
không thực hiện một công việc hay thanh toán một khoản tiền cho bên kia (B). Tuy
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự
mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây thiệt hại cho người
khác thì phải bồi thường những thiệt hại đó mà mình gây ra.
1.2.3.4. Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng
“Đơn phương” là sự thể hiện ý chí của riêng một bên, không có sự thỏa thuận hoặc
sự tham gia của bên kia. Vậy đơn phương chấm dứt hợp đồng trước hết là việc chấm dứt
hợp đồng theo ý chí của “riêng một bên”. Việc chấm dứt hợp đồng do một bên mong
muốn, yêu cầu diễn ra “nửa chừng” khi hợp đồng đã giao kết, đang trong quá trình thực
hiện, chưa thực hiện xong nghĩa vụ hợp đồng và chưa hết thời hạn hợp đồng. Ý chí chấm
dứt hợp đồng “nửa chừng” của một bên nào đó phải “đúng”, tức là bên đó có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng xuất phát từ quyền
lợi hợp pháp của một trong các bên (cụ thể là bên có quyền này) không được đảm bảo.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng là sự thể hiện ý chí chấm dứt hợp đồng của một bên chủ
thể trên cơ sở sự thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật do quyền và lợi ích hợp pháp
của họ không được thực hiện hoặc không được đảm bảo thực hiện.
Điểm giống nhau giữa đơn phương chấm dứt và hủy bỏ hợp đồng trong hợp đồng
dân sự : Đều là một bên đơn phương tuyên bố chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng khi có những
điều kiện do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên đơn phương chấm dứt
hay hủy bỏ hợp đồng không phải bồi thường nếu bên kia vi phạm nghĩa vụ mà đó là điều
kiện chấm dứt, hủy bỏ phải có nghĩa vụ báo cho bên kia, nếu không báo mà gây thiệt hại
thì phải bồi thường. Ai có lỗi dẫn đến hợp đồng bị chấm dứt, hủy bỏ thì người đó phải có
trách nhiệm bồi thường.
Sự khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng trong hợp
đồng dân sự là:
- Đơn phương chấm dứt hợp đồng:
+Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng phải dựa vào căn cứ do các bên thỏa thuận
các bên sử dụng nhiều hơn như một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của mình
trong các quan hệ hợp đồng hợp tác kinh tế. Chế tài này chỉ được áp dụng khi thỏa thuận
được cụ thể hóa thành điều khoản trong hợp đồng. Các bên có thể thỏa thuận với nhau về
mức phạt vi phạm và thể hiện chi tiết nội dung này trong hợp đồng. Đây là căn cứ để yêu
cầu bên vi phạm trả khoản tiền phạt cho bên bị vi phạm. Phạt hợp đồng là một chế tài
được áp dụng phổ biến đối với tất cả các hành vi vi phạm các điều khoản của hợp đồng,
không cần tính đến hành vi đó đã gây ra thiệt hại hay chưa gây thiệt hại. So với việc buộc
tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng thì phạt hợp đồng có chức năng chủ yếu trừng phạt,
phòng ngừa vi phạm hợp đồng, đề cao ý thức tôn trọng pháp luật nói chung và pháp luật
hợp đồng nói riêng. Mục đích chủ yếu mà bên bị vi phạm hướng tới khi áp dụng chế tài
này không phải là “hành vi” giống như buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng mà là
khoản tiền phạt mà bên vi phạm phải trả.
1.3. Vai trò, ý nghĩa của pháp luật về việc ghi nhận trách nhiệm dân sự do vi phạm
hợp đồng
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là phương tiện
công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự, bảo
đảm sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội. Pháp luật không chỉ là một công cụ
quản lý Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển ý thức
đạo đức làm lạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi đắp những giá trị mới. Việc Pháp
luật ghi nhận trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc
16
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đồng thời góp phần bảo vệ quyền và lợi
ích của các bên tham gia giao kết hợp đồng.
1.3.1. Vai trò của pháp luật về việc ghi nhận trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp
đồng
Hợp đồng là một trong những chế định quan trọng và xuất hiện sớm nhất trong lịch
13
Nguyễn Ngọc Đào, Luật La Mã, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 105.
17
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
cho mình. Theo thực tế BLDS năm 2005 ở Mục 3 tại khoản 1 Điều 302 cũng đã ghi nhận
“vi phạm hợp đồng” nói riêng và vi phạm hợp đồng nghĩa vụ dân sự nói chung cũng như
bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên, mà các bên khi giao kết hợp đồng và trong quá
trình thực hiện hợp đồng phải tuân theo nếu hợp đồng có tranh chấp thì dựa theo luật để
giải quyết tranh chấp, tạo nên hành lang pháp lý buộc mọi người phải tuân theo khuôn
khổ của pháp luật. Vì vậy vai trò của pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho sự hình
thành và phát triển ý thức đạo đức theo khuôn khổ đã trở thành một trong những yêu cầu
cấp thiết.
Quá trình xây dựng và phát triển kinh tế thị trường cho thấy pháp luật đóng vai trò
ngày càng quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng như quan hệ xã hội trong hợp đồng nó mang yếu
tố hết sức quan trọng thì luật được đưa vào để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nó là
thước đo để mọi người tuân theo. Riêng đối với trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
được chỉ được ghi nhận tại khoản 1 Điều 302 của BLDS năm 2005… đòi hỏi mọi người
tích cực hơn khi đưa pháp luật vào đời sống, hình thành và phát triển ý thức pháp luật, xã
hội tri thức, nâng cao trình độ dân trí, tạo cơ sở nâng cao pháp luật, chủ yếu là sự điều
chỉnh xã hội bằng pháp luật trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng xã hội.
Sự điều chỉnh xã hội bằng pháp luật (với nguyên tắc tất cả mọi người bình đẳng
trước pháp luật) làm cho mọi thành phần trong xã hội có thể phát huy khả năng sáng tạo
của mình trong môi trường lành mạnh – môi trường vận hành có trật tự, nề nếp, kỷ cương
của một xã hội năng động, phát triển văn minh, là trách nhiệm và yêu cầu đạo đức đối với
hậu quả do hành vi đó mang lại. Bằng việc buộc một người gây thiệt hại phải chịu trách
nhiệm do hành vi của mình gây ra cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm dân sự do vi phạm
hợp đồng nói riêng hay trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự nói chung đã cụ
thể hóa và thể hiện rất rõ nguyên tắc công bằng trong BLDS 2005, tuy nhiên vẫn có
trường hợp nếu nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách
nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Thứ ba, tạo hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia hợp đồng.
Khi các bên tham gia hợp đồng thì có quyền tự do, tự nguyện giao kết hợp đồng,
nhưng sự tự do ấy phải nằm trong khuôn khổ các quy định của pháp luật. Việc pháp luật
quy định về các điều kiện để chủ thể giao kết hợp đồng và các biện pháp chế tài nếu các
bên không tuân thủ các điều kiện đó là nhằm bảo vệ trật tự công, tạo hành lang pháp lý an
toàn cho các chủ thể tham gia hợp đồng dân sự. Do vậy, chế định pháp lý về hợp đồng
trong đó có các quy định về vi phạm hợp đồng nói riêng hay vi phạm nghĩa vụ dân sự
nói chung đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
- Thứ tư, cơ sở để giải quyết các tranh chấp xảy ra.
Khi có tranh chấp thì chính những cam kết mà các bên đã thỏa thuận sẽ là chứng cứ
quan trọng để xác định xem ai là người vi phạm, cần phải áp dụng biện pháp chế tài như
thế nào cho phù hợp. Nếu trong trường hợp nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm trong quá trình
thực hiện, thì cam kết đóng vai trò quan trọng xác định lỗi của các bên tham gia, trên cơ
sở đó xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với bên vi phạm khi giải quyết việc vi
phạm hợp đồng.
- Thứ năm, bảo đảm cho việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
Những cam kết thỏa thuận của các chủ thể tham gia hợp đồng là căn cứ quan trọng
để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra xem các chủ thể đó có thực hiện nghiêm
19
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
luật như thời hiện đại sau này. Tuy nhiên các bộ luật thuộc các triều đại phong kiến Việt
Nam đã phần nào điều chỉnh được các mối quan hệ xã hội trong một số lĩnh vực của đời
sống xã hội lúc bấy giờ.
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, tập 2,
tr. 93.
14
20
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
Trong pháp luật cổ Việt Nam, hoặc thậm chí trong pháp luật một số nước đều không
thấy sự phân biệt rõ ràng giữa trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng và trách nhiệm
dân sự ngoài hợp đồng (vi phạm nghĩa vụ chung). Nếu nhìn vào pháp luật các nước khác,
có thể thấy một vài quốc gia không có sự phân biệt rạch ròi về trách nhiệm dân sự trong
hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Như trong pháp luật dân sự của Nhật Bản, trách nhiệm
dân sự trong hợp đồng không được quy định cụ thể mà pháp luật chỉ chia ra hai trường
hợp chịu trách nhiệm là trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm do vi
phạm nghĩa vụ.15 Còn trong Bộ luật dân sự của Pháp thì chỉ có quy định về bồi thường
thiệt hại do không thực hiện nghĩa vụ, theo đó, người có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt
hại nếu không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ, trừ khi chứng minh được rằng
việc không thực hiện nghĩa vụ hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ là do một nguyên nhân
khách quan không thuộc trách nhiệm của mình mà không do ác ý.
Ở các bộ luật cổ như Quốc triều Hình luật, chế định trách nhiệm dân sự đã được
hình thành, nhưng qua những quy định cụ thể có thể thấy trách nhiệm dân sự được áp
dụng chung trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ trong khế ước hoặc vi phạm các nghĩa vụ
khác ngoài khế ước, ví dụ như : Điều 455 Quốc triều Hình luật quy định cấm không được
chứa chấp quân trộm cướp mà người chủ trang trại lại chứa chấp, thì ngoài việc bị phạt
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, ví dụ như: Điều 44 là nói về trách nhiệm dân sự do
không thực hiện hợp đồng, Điều 45 quy định trách nhiệm do chậm thực hiện hợp
đồng…Điều 55 quy định về phạt vi phạm hợp đồng. Đến lúc Bộ luật dân sự năm 1995
của nước ta ra đời, thì về trách nhiệm dân sự đã được quy định tại Chương 1, Mục 3 phần
thứ 3 (nghĩa vụ dân sự và hợp dồng dân sự) từ Điều 308 đến Điều 314, ví dụ như: Điều
308 là nói về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự nói chung hay theo cách
hiểu là vi phạm hợp đồng nói riêng, phạt vi phạm cũng được quy định gồm Điều 377, 378
và Điều 379. Những vấn đề như khái niệm phạt vi phạm, mức phạt, và mối quan hệ giữa
phạt vi phạm với bồi thường thiệt hại được quy định rõ ràng ở 3 điều này và trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đã được quy định thành một chương riêng là
chương V, Mục 1 là các quy định chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Mục 2 là
xác định thiệt hại và Mục 3 là các trường hợp cụ thể đối với bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng. Khi Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước ta được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, có
hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006, thay thế cho Bộ luật dân sự năm 1995 , vấn đề
trách nhiệm dân sự được quy định ở Mục 3 Chương XVII từ Điều 302 đến Điều 308
được quy định rất rõ ràng cho thấy vấn đề trách nhiệm dân sự đã được các nhà làm luật
quan tâm và chú trọng không chỉ từ các bộ luật thời xưa mà còn vào thời hiện đại, nhất là
trong thời kì nước ta mở cửa giao lưu kinh tế, giao dịch về hợp đồng ngày càng nhiều và
vấn đề quy định về trách nhiệm dân sự là một trong những yếu tố quan trọng giúp bảo vệ
lợi ích của các bên khi tham gia giao dịch. Các vấn đề phạt vi phạm không còn là một
biện pháp đảm bảo nữa mà nó được đưa vào nội dung của hợp đồng, các bên có thể thỏa
thuận phạt vi phạm như là một chế tài, đây là một điểm tiến bộ hơn so với BLDS 1995,
BLDS năm 2005 chứa đựng các quy định mang tính nguyên tắc chung về hpợp đồng, và
lợi ích công cộng, cho nên vấn đề trách nhiệm dân sự nói chung và khi vi phạm hợp đồng
nói riêng cũng được cụ thể hóa cùng với những quy định về chế định hợp đồng góp phần
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giao dịch dân sự.
1.4.2. Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng ở góc độ so sánh
1.4.2.1. So sánh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và nghĩa vụ dân sự
Trước khi so sánh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và nghĩa vụ dân sự thì người
nay với các bộ luật dân luật trước đây, chúng ta thấy rằng dù có khác nhau về ngôn từ
nhưng các bộ luật đều có sự thống nhất khi nhìn nhận nghĩa vụ dân sự về các khía cạnh
sau đây (cũng chính là những đặc điểm của nghĩa vụ dân sự):
- Nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng là một quan hệ pháp luật dân sự.
Nghĩa vụ dân sự bao giờ cũng được phát sinh từ một sự kiện mà đã được luật dự liệu
tới một hậu quả pháp lí nhất định. Đó là những sự kiện làm hình thành một quan hệ và
quan hệ này được sự tác động của pháp luật, trong đó quyền và nghĩa vụ của các bên chủ
thể được xác lập thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Vì thế, nghĩa vụ dân sự là một quan hệ
pháp luật. Đặc trưng này cho chúng ta thấy nghĩa vụ dân sự cũng đầy đủ ba thành phần:
chủ thể, khách thể, nội dung như bất kì một quan hệ pháp luật nào khác.
- Các bên chủ thể trong nghĩa vụ luôn được xác định cụ thể.
17
18
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật La Mã, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1994, tr. 73.
Đinh Văn Thanh, Nguyễn Minh Tuấn, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.
7.
23
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
- Quyền và nghĩa vụ dân sự của hai bên chủ thể đối lập nhau, (đối với nghĩa vụ dân
sự trong hợp đồng thì: nghĩa vụ của một chủ thể tương ứng với quyền của chủ thể khác –
những chủ thể được xác định).
- Quyền dân sự của hai bên chủ thể là một quyền đối nhân, (trong hợp đồng thì
quyền dân sự của hai bên chủ thể là một quyền đối nhân, có thể đối vật).
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc
khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ
thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”. Như vậy đây là nghĩa vụ dân sự chung do
pháp luật dân sự quy định. Còn trách nhiệm dân sự trong hợp đồng: nghĩa vụ phát sinh từ
đồng (bao gồm nghĩa vụ trong hợp đồng và nghĩa vụ ngoài hợp đồng) là một trong những
căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự.
+ Nghĩa vụ dân sự là nghĩa vụ có tính chất pháp lý, có tính chất bắt buộc, nghĩa là
nếu không được hiện một cách tự giác, thì có thể được cưỡng chế để thực hiện. Theo
Điều 281 BLDS 2005, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ những căn cứ sau đây : 1 - Hợp đồng
dân sự; 2 - Hành vi pháp lý đơn phương; 3 - Thực hiện công việc không có ủy quyền; 4 Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật; 5 Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật; 6 - Những căn cứ khác do pháp luật quy định. Suy
cho cùng, tất cả các nghĩa vụ đều phát sinh từ luật. Thế nhưng, có thể nhận thấy rằng luật
có xu hướng thừa nhận sự phát sinh của nghĩa vụ từ hai nguồn chính : 1- Các giao dịch,
tức là sự bày tỏ ý chí của chủ thể của quan hệ pháp luật nhằm tạo ra các hệ quả pháp lý; 2
- Các sự kiện pháp lý, tức là các sự kiện dẫn đến sự ràng buộc chủ thể của quan hệ pháp
luật vào một nghĩa vụ, độc lập với ý chí của chủ thể đó. 19 Từ đó thấy được căn cứ xác lập
nghĩa vụ dân sự đều phát sinh từ luật. Trong khi đó căn cứ xác lập trách nhiệm dân sự
trong hợp đồng : nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng - phát sinh từ sự thỏa thuận giữa
các bên giao kết hợp đồng hoặc phát sinh từ những quy định của pháp luật.
1.4.2.2. So sánh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài
hợp đồng
Trách nhiệm dân sự được chia thành trách nhiệm dân sự trong hợp đồng (trách
nhiệm hợp đồng) và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng (trách nhiệm ngoài hợp đồng).
Có tác giả chia trách nhiệm ngoài hợp đồng thành trách nhiệm dân sự phạm và trách
nhiệm chuẩn dân sự phạm 20.
Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng là trách nhiệm hình thành từ việc không thực
hiện một nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Người không thực hiện hoặc không thực hiện