LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đầu tư là một hoạt động cần thiết,
đóng vai trò quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển không ngừng của xã hội.
Muốn ổn định và phát triển, tất cả mọi quốc gia, doanh nghiệp đều phải tiến hành đầu tư.
Vì vậy, hiện nay, dự án đang giữ một vị trí quan trọng và tham gia vào hầu hết các quan hệ
kinh tế, trong đó có quan hệ tín dụng với các NHTM. Việc các NHTM tài trợ cho các dự án
sẽ thu được lợi nhuận và góp phần kiểm soát, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt để tài trợ cho các dự án đạt hiệu quả là công tác thẩm định
dự án. Thẩm định dự án là nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động, tính bền vững và độ an toàn
cao của các dự án sau khi được cấp tín dụng từ các NHTM. Qua thẩm định dự án sẽ khẳng
định được tính hiệu quả và tính an toàn của công cuộc đầu tư.
Thẩm định dự án bao gồm việc nghiên cứu và phân tích một cách toàn diện tất cả các
nội dung của dự án, trong đó, tài chính là một nội dung rất quan trọng vì xét cho cùng, nó
thể hiện được hiệu quả của việc sử dụng vốn trong đầu tư dự án. Do đó, nội dung tài chính
của dự án được chủ đầu tư và NHTM tài trợ vốn đặc biệt quan tâm.
Qua thời gian học tập tại Truờng đại học kinh tế quốc dân cùng với nghiên cứu lý luận
về thẩm định tài chính dự án, em đã chọn “Chất lượng thẩm định tài chính dự án của
Ngân hàng thương mại” làm đề án môn học.
2. Mục đích nghiên cứu.
- Nghiên cứu lý luận về thẩm định tài chính dự án và chất lượng của công tác thẩm định
tài chính dự án.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động thẩm định tài chính dự án trong cho vay đầu tư
tại ngân hàng thuơng mại.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại các
ngân hàng thuơng mại.
1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các chỉ tiêu định tính và định lượng trong công tác
thẩm định tài chính dự án của các NHTM.
- Phạm vi nghiên cứu: Thực tiễn hoạt động thẩm định tài chính dự án trong cho vay đầu
nhất định,chi phí này được bù đắp thông qua việc cho vay và đầu tư.
Hoạt động cho vay và đầu tư
Đây là việc ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để đưa vào kinh doanh
nhằm mục đích thu lợi nhuận.Có nhiều cách để phân loại khoản vay của Ngân hàng: theo
thời gian có vay ngắn hạn trung hạn và dài hạn, theo đối tượng khách hàng có doanh
nghiệp, cá nhân, chính phủ...
3
Hoạt động trung gian
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ khiến cho nhu cầu sử dụng
dịch vụ của ngân hàng ngày càng tăng.Chính vì thế nghiệp vụ này không những mang lại
thu nhập cho Ngân hàng mà còn góp phần thúc đẩy hỗ trợ các nghiệp vụ trên và nâng cao
vị thế của ngân hàng trên thương trường.
Ba hoạt động này co mối quan hệ mật thiết với nhau.Trong đó,hoạt động cho vay
và đầu tư là hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận.Thông qua hoạt
động này ngân hàng có thể bù đắp được các chi phí cho việc huy động vốn.Nhưng hoạt
động cho vay mang lại cho ngân hàng nhiều rủi ro tiềm ẩn,đặc biệt cho vay trung va dài
hạn theo dự án.Vì vậy thẩm định tài chính dự án nói riêng và thẩm định dự án nói chung là
vấn đề ngân hàng quan tâm hàng đầu để đảm bảo tránh được các rủi ro, tạo sự an toàn lành
mạnh trong hoạt động của ngân hàng.
1.2Thẩm định tài chính dự án
1.2.1 Khái niệm
Phương diện tài chính là một nội dung quan trọng của dự án, vì nó thể hiện được
hiệu quả của việc sử dụng vốn trong đầu tư dự án. Xét cho cùng, khi ngân hàng đứng trước
nhu cầu vay vốn của khách hàng, thì mối quan tâm hàng đầu của họ là các khoản cho vay
ra có thể thu hồi lại đủ vốn gốc và lãi đúng hạn và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng hay
không. Do đó, nội dung tài chính của dự án được chủ đầu tư và NHTM tài trợ vốn đặc biệt
quan tâm.
Thẩm định tài chính dự án trong cho vay là việc tổ chức xem xét một cách khách quan,
khoa học và toàn diện các nội dung dự án, có ảnh hưởng đến chất lượng món vay trước khi
đưa ra quyết định tài trợ cho khoản vay đó.
Tổng mức vốn đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng (kể cả vốn sản xuất
ban đầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyết định đầu tư.
5
Tổng mức vốn đầu tư được xác định dựa trên cơ sở năng lực sản xuất theo thiết kế,
khối lượng các công tác chủ yếu và sản xuất đầu tư, giá chuẩn hay đơn giá tổng hợp do cơ
quan có thẩm quyền ban hành.
Việc tính toán chính xác tổng mức vốn đầu tư có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
tính khả thi của dự án vì nếu vốn đầu tư dự trù quá thấp thì dự án có thể bị đổ vỡ vì công
trình không đưa vào thực hiện được, ngược lại tính toán quá cao thì tiền vay nợ nhiều,
giảm khả năng sinh lời của dự án.
Tổng mức vốn đầu tư cho một dự án gồm ba phần:
- Vốn cố định bao gồm toàn bộ chi phí có liên quan đến việc hình thành tài sản cố định
từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn kết thúc xây dựng
dự án vào sử dụng, gồm: Chi phí chuẩn bị (chi phí dùng để soạn thảo nghiên cứu lập hồ sơ
dự án, chi phí ban đầu về mặt đất, mặt nước); giá trị nhà xưởng và kết cấu hạ tầng sẵn có
được sử dụng cho dự án; chi phí xây dựng mới hoặc cải tạo nhà xưởng, kết cấu hạ tầng; chi
phí mua máy móc thiết bị, dụng cụ sản xuất, phương tiện vận tải; chi phí đào tạo cán bộ và
các chi phí khác.
- Vốn lưu động là số vốn tối thiểu cần thiết để đảm bảo cho việc dự trữ các tài sản lưu
động nhằm đáp ứng cho nhu cầu hoạt động của dự án. chỉ có vốn lưu động ban đầu (cho
chu kỳ sản xuất đầu tiên của doanh nghiệp) mới được phép tính vào vốn đầu tư. Nó bao
gồm: Vốn sản xuất (chi phí nguyên vật liệu, điện nước, phụ tùng..); vốn lưu thông (sản
phẩm dở dang, tồn kho, hàng hóa bán chịu, vốn bằng tiền, chi phí tiếp thị..)
- Vốn đầu tư dự phòng: Đây là khoản vốn dự trù để sẵn sàng ứng phó với các biến động
ngoài dự kiến và các rủi ro bất thường có thể xảy ra trong quá trình thi công….Khoản dự
phòng này thường được quy định khoảng 5-10% trên tổng vốn cố định và vốn lưu động.
Bên cạnh việc xác định tổng mức vốn đầu tư của dự án, ngân hàng cũng cần phải xác
định cả tiến độ bỏ vốn cho dự án để lập ra kế hoạch nguồn vốn và sử dụng vốn, đồng thời
còn giúp ngân hàng theo dõi tốt hơn các hoạt động của chủ đầu tư, từ đó đánh giá được
mức độ hiệu quả của những đồng vốn bỏ ra.
của dự án
= LNST +
Khấu
hao
-
Chi đầu
tư
+ (-)
Thay đổi vốn lưu
động ròng
1.2.6 Thẩm định các chỉ tiêu tài chính của dự án
Một dự án được đánh giá tốt khi dự án đó phải tạo ra được mức lợi nhuận tuyệt đối
( khối lượng của cải ròng) lớn nhất,có tỷ suất sinh lời cao(phải cao hơn tỷ suất lãi vay,suất
sinh lời mong muốn) và dự án phải nhanh chóng thu hồi vốn.
Chính vì vây ngân hàng đã có những chỉ tiêu tương ứng để thẩm định tài tính hiệu quả của
dự án như: Giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR), thời gian hoàn vốn
(PP), khả năng sinh lợi (PI)
- Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV)
NPV là hiệu số giữa tổng hiện giá thu nhập ròng qua các năm và tổng số vốn đầu tư
của dự án. Nó cho ta biết quy mô thu nhập ròng tính ở thời điểm hiện tại của toàn bộ quá
trình đầu tư và vận hành dự án.
NPV =
( )
( )
∑
=
+
−
n
i
T =
K
P + D
Trong đó: T: thời gian thu hồi vốn giản đơn
K: Vốn đầu tư ban k’frđầu
P: Lợi nhuận thu được bình quân năm
D: Khấu hao hàng năm
Thời gian thu hồi vốn có chiết khấu là thời gian trong đó tổng vốn đầu tư vào TSCĐ
được thu lại bằng lợi nhuận và khấu hao hàng năm sau khi đã quy đổi các dòng tiền này về
giá trị hiện tại. Được xác định bằng công thức:
( ) ( )
∑∑
==
=
n
i
i
T
i
i
VDTPVNCFPV
01
Dự án nào có thời gian thu hồi vốn càng ngắn thì rủi ro càng thấp. Nhưng dựa vào chỉ
tiêu này lại không cho biết thu nhập của dự án sau khi hoàn vốn và cũng không xét đến tuổi
thọ của dự án khi phân tích.
+ Ưu điểm: Đơn giản, dễ tính
+ Nhược điểm: Không xem xét đến tuổi thọ dự án, chú trọng vào lợi ích ngắn hạn hơn
là dài hạn, không tính đến các khoản thu sau khi thu hồi vốn. Vì vậy, không phù hợp với
những dự án có mức sinh lời chậm.
1
để tính được NPV
1
> 0 và gần 0
Chọn r
2
để tính được NPV
2
< 0 và gần 0
r
2
> r
1
và r
2
- r
1
<= 5%
Bước 2: Tính IRR theo công thức
+ Nếu IRR < Chi phí sử dụng vốn của chủ đầu tư thì loại bỏ dự án.
+ Nếu IRR = Chi phí sử dụng vốn của chủ đầu tư thì việc lựa chọn hay loại bỏ dự án là
tùy thuộc vào quan điểm của chủ đầu tư.
+ Nếu IRR > Chi phí sử dụng vốn của chủ đầu tư mà các dự án là độc lập thì có thể chấp
nhận, còn các dự án loại trừ thì sẽ chọn dự án có IRR lớn nhất.
+ Ưu điểm: IRR cho phép đánh giá được tỷ lệ sinh lời của mỗi đồng vốn đầu tư, có tính
đến giá trị thời gian của tiền và cho phép so sánh được mức sinh lời của dự án với chi phí
sử dụng vốn. IRR cũng có thể dùng để so sánh giữa các dự án độc lập với nhau. Ngoài ra,
IRR còn có thể giúp tránh được những khó khăn khi phải xác định mức lãi suất thích hợp,
nó cho biết lãi suất tối đa mà dự án có thể chấp nhận được.
+ Nhược điểm: Không chú trọng đến quy mô vốn đầu tư và không cho biết giá trị lợi
tiên các dự án theo tiêu chuẩn NPV thì sẽ theo PI.
+ Nhược điểm: Không giải thích được một cách trực tiếp sự khác nhau về quy mô của
dự án.
- Phân tích rủi ro dự án
Các dự án được soạn thảo và tính toán trên các số liệu dự kiến trong tương lai. Trong
kinh tế thị trường, các số liệu dự báo thường xuyên có sự biến đổi nên nguy cơ xảy ra rủi
ro đối với các dự án là rất lớn. Chính vì vậy, cần có những phương pháp và công cụ dự báo
rủi ro để có thể lượng hóa các nhân tố gây ra rủi ro, nhờ vậy chủ đầu tư có cơ sở đánh giá
và đề ra các biện pháp hạn chế rủi ro.
a) Phân tích độ nhạy
Hiệu quả của dự án phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố được dự báo trong khi lập dự
án. Vì vậy, công tác thẩm định cần phải đánh giá được sự ổn định của các chỉ tiêu hiệu quả
của dự án khi các nhân tố đầu vào, đầu ra có sự biến động. Trong phân tích độ nhạy, kinh
nghiệm của các chuyên gia thẩm định là hết sức quan trọng bởi vì chỉ có các chuyên gia
với kinh nghiệm tích lũy được của mình mới dự kiến được khả năng nhân tố nào có thể
biến đổi và biến đổi như thế nào.
Trong phân tích độ nhạy, người ta dự kiến một số tình huống thay đổi, những rủi ro
trong tương lai làm cho giá nguyên vật liệu tăng, giá thuê nhân công tăng, sản lượng giảm,
doanh thu giảm… rồi từ đó tính lại các chỉ tiêu hiệu quả như NPV, IRR. Nếu như các chỉ
11
tiêu này vẫn đạt yêu cầu thì dự án được coi là ổn định và được chấp thuận. Ngược lại, dự
án bị coi là không ổn định buộc phải xem xét điều chỉnh lại mới được đầu tư.
Để phân tích độ nhạy, thường thực hiện qua bốn bước sau:
- Bước 1: Xác định những nhân tố có khả năng biến động theo chiều hướng xấu.
- Bước 2: Trên cơ sở các nhân tố đó, dự đoán biên độ biến động có thể xảy ra.
- Bước 3: Chọn một chỉ tiêu hiệu quả để đánh giá độ nhạy nào đó (NPV, IRR)
- Bước 4: Tiến hành tính toán lại NPV hoặc IRR theo các biến số mới, trên cơ sở cho các
biến số tăng giảm cùng một tỷ lệ % nào đó.
⇒
12