Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã có sự chuyển biến sâu
sắc và toàn diện trong mọi lĩnh vực đời sống, bước đầu đã có những sự ghi
nhận nhất định. Tuy nhiên, để thực hiện thành công CNH – HĐH đất nước
trong thời kỳ đổi mới đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải cần phải nỗ lực nhiều
hơn nữa.
Đầu tư phát triển là chìa khoá để thực hiện thành công mục tiêu đó
nhưng vốn cho đầu tư phát triển lại luôn là vấn để vướng mắc trong mọi thành
phần kinh tế. Hơn nữa các dự án đầu tư luôn đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian
hoàn vốn dài, độ rủi ro cao vì vây không phải cá nhân, doanh nghiệp nào cũng
có thể đáp ứng và quản lý được.Vì vậy, với chức năng tập hợp và kinh doanh
tiền tệ, sự trợ giúp nhu cầu vốn từ phía ngân hàng luôn là sự lựa chọn hàng
đầu của các cá nhân, tổ chức.
Với tư cách là một trung gian tài chính chung chuyển vốn cho nền kinh
tế, tập hợp những nguồn vốn nhỏ lẻ trong dân cư và từ các tổ chức kinh tế, xã
hội và kinh doanh trên nguồn vốn đó nên yêu cầu đặt ra trong hoạt động của
mọi ngân hàng là phân tán và giảm thiểu rủi ro để đạt hiệu quả kinh tế cao. Để
đạt được yêu cầu đó, trước khi quyết định cho vay ngân hàng đều phải thẩn
định kỹ lưỡng để đánh giá tính khả thi của dự án, mục tiêu của sự kiểm tra
này đó là đánh giá khả năng trả nợ cho ngân hàng mà nội dung chủ yếu là
thẩm định tài chính dự án đầu tư.
Thẩm định tài chính là một hoạt động căn bản của mỗi ngân hàng, tuy
nhiên với sự phát triển không ngừng của mối quan hệ kinh tế - xã hội, yêu cầu
đặt ra để hoàn thiện nội dung này ngày càng phức tạp hơn. Cũng như các
ngân hàng thương mại khác, ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam hình
thành và phát triển vững mạnh cùng đất nước trong suốt thời kỳ đổi mới, nắm
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
bắt được nhu cầu vốn trong nền kinh tế ngân hàng luôn cố gắng nâng cao chất
lượng của tín dụng đầu tư nói chung và hoàn thiện nội dung thẩm định tài
1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Hàng hải là Ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam sau khi
Pháp lệnh về Ngân hàng, HTX Tín dụng và Công ty Tài chính có hiệu lực.
Được thành lập theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08/06/1991 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, MSB chính thức khai trương và đi vào
hoạt động từ ngày 12/07/1991 tại số 25 Điện Biên Phủ (sau chuyển về số 5A
Nguyễn Tri Phương, Hồng Bàng, Hải Phòng). Ngày 24/05/2005 MSB đã
chính thức chuyển trụ sở chính lên số 44 Nguyễn Du, Hà Nội và hiện tại Trụ
sở chính được đặt tại toàn nhà VIT số 519 Kim Mã, Quận Ba Đình, Hà Nội.
MSB có số vốn điều lệ ban đầu là 40 tỷ đồng và thời gian hoạt động
là 25 năm. Đến tháng 7 năm 2003, theo quyết định số 719 QĐ – NHNN ngày
07/07/2003 của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, thời gian hoạt động của
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Ngân hàng đã tăng lên 99 năm. Thực hiện kế hoạch tăng vốn điều lệ trong
năm 2007, theo văn bản số 478/NHNN-HAN7 ngày 25/5/2007 của Ngân
hàng Nhà nước VN - Chi nhánh TP Hà Nội, MSB đã chính thức được phép
tăng vốn điều lệ đợt 1 năm 2007 từ 700 tỷ đồng lên 1500 tỷ đồng. Hết quý I
năm 2009, ngân hàng TMCP Hàng Hải (Maritime Bank) đã hoàn thành tăng
vốn điều lệ từ 1.500 lên 2.240 tỷ đồng
Ngân hàng Hàng hải là một trong 6 Ngân hàng Thương mại Việt Nam
được Ngân hàng Thế giới lựa chọn và tài trợ để tham gia Dự án Hiện đại hoá
ngân hàng và Hệ thống thanh toán. MSB đã hoàn thiện và khai thác thành
công giai đoạn 1 của dự án và là Ngân hàng Thương mại cổ phần duy nhất
của Việt Nam được tài trợ cho Dự án giai đoạn 2. Kết thúc giai đoạn này,
MSB sẽ xây dựng hoàn chỉnh hệ thống Ngân hàng điện tử (E-banking) đạt
tiêu chuẩn quốc tế, nhằm đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch
vụ, đáp ứng tối đa nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng.
Đến nay MSB đã có mạng lưới giao dịch trải rộng trên khắp 3 miền
Bắc, Trung, Nam với hệ thống 87 điểm giao dịch và khoảng 1000 cán bộ
Với định hướng là ngân hàng thương mại cổ phần đa năng, MSB đã triển
khai các sản phẩm và dịch vụ đa dạng đáp ứng nhu cầu của dân cư, tổ chức kinh
tế và tổ chức tín dụng cả bằng ngoại tệ và nội tệ. Công tác phát triển khách hàng
theo hướng chuyên nghiệp hóa (hình thành khối Khách hàng Doanh nghiệp và
khối Khách hàng cá nhân) để tận dụng mọi khả năng kinh doanh, khai thác tối đa
lợi thế của khách hàng trên cơ sở hợp tác hai bên cùng có lợi. Số liệu tổng hợp
về hoạt động huy động tiền gửi trong những năm qua như sau:
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
BAN LÃNH ĐẠO
Phòng
KH cá
nhân
Phòng
DV
KH
Phòng
KH
DN
Phòng
KT TC
Phòng
hành
chính
Phòng
CNTT
Phòng
dự án
Phòng
thẻ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chức tín dụng, vay NHNN.
Qua bảng số liệu trên cho thấy, qua các năm lượng vốn huy động tại
ngân hàng nói chung và tại SGD nói riêng đã có tăng trưởng rất nhanh. Tính
đến thời điểm cuối năm 31 tháng 12 năm 2007 trên toàn hệ thống đạt 7.625 tỷ
đồng, tăng 3.527 tỷ đồng tương ứng 86% so với năm 2006, năm 2008 tăng
trưởng so với năm 2007 là 70,22%. Năm 2008 vừa qua là một năm khó khăn
đối với hệ thống ngân hàng tuy nhiên vốn huy động vẫn có tốc độ tăng trưởng
lớn điều này là minh chứng cho sự hiệu quả trong các chính sách thu hút tiền
gửi từ khách hàng của MSB.
Bảng 1.3: TỶ TRỌNG TIỀN GỬI CỦA KHÁCH HÀNG
Chỉ tiêu 2006 2007 2008
% vốn huy động SGD/ vốn huy động MSB 16,9% 10,37% 6,7%
% tiền gửi TCKT/ tổng vốn huy động SGD 71,01% 69,82% 65,8%
% tiền gửi KH CN/ tổng vốn huy động SGD 28,99% 30,18% 34,2%
Nguồn: phòng KHDN - SGD
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nguồn vốn huy động từ dân cư tăng đáng kể so với các năm trước đây.
Tổng nguồn vốn huy động từ dân cư năm 2007 đạt 238,564 tỷ đồng, tăng
20,62% so với năm 2006. Kết quả đạt được là do chính sách linh hoạt trong
điều chỉnh lãi suất, đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng mạng lưới chi nhánh và
kết hợp với hoạt động truyền thông, quảng cáo, khuyến mại, mức tăng trưởng
hàng năm tăng thêm khoảng 4%.
Biểu đồ 1.1: HUY ĐỘNG VỐN TẠI SGD PHÂN THEO KHÁCH HÀNG
Tại SGD, năm 2006 là năm đầu tiên chuyển tới địa điểm hoạt động mới
tại Hà Nội nhưng vốn huy động cũng đã đạt hơn 682 tỷ đồng. Năm 2007 tăng
trưởng 15,85% so với năm 2006, đặc biệt trong năm 2008 tuy gặp nhiều biến
động trong lãi suất nhưng vẫn đạt mức tăng trưởng 10,17%.
Nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế vẫn chiếm tỷ trọng lớn và
luôn là thế mạnh của MSB, cũng như của SGD. Cùng với việc hình thành
cho lãi suất tăng cao, ảnh hưởng đến chi phí của doanh nghiệp. Tuy nhiên,
tiền gửi có kỳ hạn lại tăng mạnh trong điều kiện cạnh tranh lãi suất, điều này
chứng tỏ sự tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng.
2.2. Hoạt động tín dụng
Năm 2007 là năm đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc của Maritime
Bank nói chung và của SGD nói riêng, họat động cho vay khách hàng doanh
nghiệp và cá nhân có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Tuy tăng trưởng với tỷ lệ cao
nhưng các chỉ số an toàn về hoạt động luôn được đảm bảo ở mức cao.
Để đa dạng hoá sản phẩm tín dụng, đồng thời hỗ trợ phát triển huy
động vốn dân cư, tỷ trọng tín dụng cá nhân của MSB ngày càng được cải
thiện. Đối tượng khách hàng cá nhân là những người có thu nhập ổn định tại
các khu vực thành thị và các vùng kinh tế trọng điểm; phương thức tài trợ
được thực hiện trên cơ sở các phương án kinh doanh khả thi hay các nhu cầu
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tiêu dùng cá nhân thiết thực đảm bảo khả năng trả nợ ngân hàng.
Bảng 1.5: SỐ LƯỢNG DƯ NỢ TÍN DỤNG 2006-2008
ĐVT: triệu đồng
CHỈ TIÊU 2006 2007 2008
Tổng dư nợ tín dụng tại MSB 2.887.925 6.527.849 8.865.458
Tổng dư nợ tín dụng tại SGD 171.003 431.995 575.853
%Tỷ trọng 5,92% 6,6% 6,49%
Nguồn: phòng KHDN - SGD
Đối với SGD, mức dư nợ tín dụng luôn đạt tốc độ tăng trưởng dương
qua các năm. Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng luôn cao và vào năm 2008
còn tăng vượt hơn cả tốc độ tăng trưởng vốn huy động. Điều này đặc biệt có ý
nghĩa khi năm 2008 là một năm khó khăn trong phát triển tín dụng đầu tư của
các doanh nghiệp.
Có thể nhận thấy rằng tỷ trọng mức dư nợ tín dụng của SGD so với toàn
hệ thống đang giảm dần tuy vậy điều này không làm mất đi tính tiên phong
kinh doanh của SGD. Năm 2006, mức dư nợ tín dụng tổ chức chỉ đạt 67,13%
dư nợ tín dụng 2005, tuy nhiên trong các năm tiếp theo đã có sự tăng trưởng
ổn định hơn cho thấy sự định hướng đúng đắn cũng như sự cố gắng lớn của
SGD. Năm 2008 lượng tín dụng không bị ảnh hưởng nhiều do tác động của
nền kinh tế, tăng trưởng so với năm 2007 tới 33,22% điều này cho thấy sự tin
tưởng, uy tín của khách hàng đối với SGD nói riêng và đối với MSB nói
chung.
Biểu đồ 1.2: MỨC DƯ NỢ TÍN DỤNG TẠI SGD
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Triệu đồng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Sự tăng trưởng nói chung mức dư nợ tín dụng và mức tỷ trọng cao của
dư nợ đối với khối khách hàng tổ chức cho thấy công tác tín dụng của SGD
đã ngày được cải thiện trong cả công tác phát triển sản phẩm cũng như trong
cả công tác thẩm định hợp đồng tín dụng. Số lượng khách hàng tổ chức trong
năm 2006 là 23 khách hàng, năm 2007 là 41 khách hàng, so với năm 2006
tăng 78,3%, đến năm 2008 ngoài số lượng khách hàng truyền thống đã tăng
thềm nhiều khách hàng mới, nâng số khách hàng tổ chức lên 49 khách hàng
Bảng 1.7: DƯ NỢ TÍN DỤNG PHÂN THEO KỲ HẠN
ĐVT: triệu đồng
KỲ HẠN TÍN DỤNG 2006 2007 2008
Ngắn hạn
% tỷ trọng
130.886
76,54%
344.108
79,66%
284.172
49,35%
Trung và dài hạn
trong toàn hệ thống Maritime Bank.
Hoạt động thanh toán trong nước và quốc tế của Ngân hàng nhanh chóng
và rất an toàn đáp ứng đầy đủ nhu cầu thanh toán của khách hàng. Sự tăng
trưởng của hoạt động thanh toán chứng tỏ uy tín, chất lượng dịch vụ của
Maritime Bank ngày càng được củng cố, hệ thống khách hàng ngày càng mở
rộng và trong năm không phát sinh sai sót nào trong công tác chuyển tiền.
Bên cạnh sự phát triển của các hoạt động bảo lãnh trong nước với mức tăng
gần gấp đôi năm trước, bằng việc mở rộng quan hệ với các tổ chức tín dụng
trong và ngoài nước, các cam kết LC của SGD đã tăng đáng khích lệ. Dịch vụ
bảo lãnh tại SGD qua các năm đều tăng dần về cả số lượng và tố độ. Năm 2006
đạt 11.471 triệu đồng, năm 2007 tăng 67,15% đạt 19.147 triệu đồng, năm 2008
tăng cao với tốc độ 328,27% đạt 82.000 triệu đồng
Với 16 loại ngoại tệ mạnh khác nhau, hoạt động mua bán ngoại tệ phục vụ
nhu cầu của khách hàng được thực hiện ở tất cả các chi nhánh trong hệ thống.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động thanh toán quốc
tế đồng thời cũng góp phần không nhỏ vào việc tăng doanh thu cho Ngân hàng.
II. Hoạt động thẩm định tài chính dự án vay vốn tại SGD – Ngân hàng
TMCP Hàng Hải.
Đánh giá và quản lý khoản vốn cho vay giữ một vai trò quan trọng
trong hoạt động tín dụng cũng như hoạt động kinh doanh đối với một định chế
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tài chính như ngân hàng thương mại. Thẩm định tín dụng là hoạt động đánh
giá dự án trước khi quyết định cho vay hay không, trong đó thẩm định tài
chính dự án là một khâu mang tính chất quyết định nếu đứng trên phương
diện của người cho vay vốn của Ngân hàng thương mại.
1. Thẩm định dự án đầu tư tại Sở giao dịch.
SGD là nơi tập trung nhiều dự án cho vay, để đảm bảo và nâng cao chất
lượng cho hoạt động huy động vốn và tín dụng, hiện nay tại SGD hình thành
khối Khách hàng Doanh nghiệp (KHDN) và Khách hàng cá nhân (KHCN)
3. Phê duyệt (xét duyệt và quyết định) cho vay
4. Hoàn chỉnh hồ sơ tín dụng (hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm
tiền vay, mua bảo hiểm cho tài sản và hoàn chỉnh các hồ sơ có liên
quan khác)
5. Tiếp nhận, phong tỏa, quản lý tài sản bảo đảm tiền vay
6. Cập nhật hồ sơ tín dụng bằng văn bản và bằng dữ liệu điện tử máy
tính
7. Giải ngân khoản vay và hạch toán
8. Theo dõi, kiểm tra khoản vay và khách hàng vay
9. Thu hồi nợ gốc, lãi và phí cho vay
10. Xem xét xử lý những khoản vay có vấn đề
11. Giải tỏa tài sản bảo đảm tiền vay
12. Thống kê, báo cáo tín dụng
13. Tất toán khoản vay và lưu giữ hồ sơ tín dụng
Sơ đồ 1.2: QUY TRÌNH THẨM ĐỊNH
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Khách hàng: Cung
cấp các tài liệu và
thông tin liên quan tới
doanh nghiệp và dự
án
Cán bộ tín dụng:
tiếp xúc, hướng
dẫn, phỏng vấn,
kiểm tra thực tế
khách hàng
Lập hồ sơ:
+ Giấy đề nghị vay vốn
1.2. Nội dụng thẩm định dự án vay vốn.
Với mục tiêu tìm hiểu, phân tích các thông tin để làm căn cứ quyết định
cho vay và giảm xác suất sai lầm dựa trên cơ sở đánh giá khách hàng và dự án
đầu tư, ước lượng rủi ro ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ khi cho vay. Tại
SGD, thẩm định hồ sơ vay vốn tập trung vào các nội dung thẩm định khách
hàng, thẩm định dự án đầu tư, thẩm định tài sản bảo đảm.
Sơ đồ 1.3: QUY TRÌNH THẨM ĐỊNH HỒ SƠ VAY
1.2.1. Thẩm định khách hàng
Công tác thẩm định khách hàng bao gồm 2 nội dung, thứ nhất là thẩm
định tư cách pháp lý, thứ hai là thẩm định năng lực tài chính của khách hàng.
Tài liệu trong hồ sơ tín dụng được quy định cụ thể tại Điều 9 – quy chế cho
vay của MSB.
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Thẩm định hồ sơ vay vốn
Thẩm định tài sản bảo
đảm
Thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định khách
hàng
Thẩm
định
khía
cạnh
nhân
lực
Thẩm
định
khía
cạnh
Các số liệu phía ngân hàng yêu cầu bao gồm như báo cáo tài chính của các kỳ
gần nhất, gồm báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán,
báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng thuyết minh báo cáo tài chính. Dựa vào
các báo cáo này, cán bộ tín dụng sẽ phân tích để đưa ra đánh giá về chiều
hướng phát triển, tình hình hoạt động, tình hình sử dụng tài sản, khả năng tự
cân đối các nguồn tiền của khách hàng. Nguồn tài liệu này còn là cơ sở để
đánh giá xếp hạng tài chính doanh nghiệp.
Yêu cầu đối với thẩm định năng lực tài chính trước hết cần thẩm định
mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính, phân tích các tỷ số tài chính và cuối
cùng là đưa ra các đánh giá.
Để đảm bảo mức độ tin cậy của khách hàng nhất là khách hàng có giá
trị khoản vay lớn, ngân hàng đều yêu cầu cung cấp báo cáo tài chính sau khi
kiểm toán tuy nhiên điều này trên thực tế chưa thể thực hiện đối với đại đa số
các dự án vay vốn vì vậy các cán bộ ngân hàng lại là người trực tiếp thẩm
định mức độ tin cậy của báo cáo tài chính.
Các nhóm chỉ tiêu tỷ số tài chính được quan tâm phân tích được thống
nhất tại Điều 4 – chương II – quy định xếp hạng khách hàng Doanh nghiệp
trên toàn bộ hệ thống MSB, bao gồm:
• Khả năng thanh toán
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
+ Khả năng thanh toán ngắn hạn =
+ Khả năng thanh toán nhanh =
• Chỉ tiêu hoạt động
+ Vòng quay hàng tồn kho =
+ Vòng quay các khoản phải thu =
+ Vòng quay vốn lưu động =
+ Hiệu quả sử dụng tài sản =
• Khả năng tự tài trợ
+ Hệ số tự tài trợ = x 100%
- Thẩm định khía cạnh thị trường của dự án: các vấn đề cần xác định rõ
đó là thị trường đầu vào, đầu ra của dự án; xác định thế mạnh, lợi thế cạnh
tranh, thị phần sản phẩm dự án; trên cơ sở đó để đánh giá việc lựa chọn quy
mô sản xuất, công nghệ, kỹ thuật, bộ máy quản lý, nhân công và dự kiến khả
năng tiêu thụ, ước tính doanh thu của dự án. Thẩm định khía cạnh thị trường
là bước khởi đầu quan trọng, cần có sự đánh giá chính xác vì nó ảnh hưởng
trực tiếp tới các giai đoạn sau của dự án.
- Thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án: đòi hỏi cán bộ tín dụng có
sự đánh giá chính xác trong khâu tính toán các thông số kỹ thuật, kiểm tra sự
phù hợp của máy móc thiết bị với môi trường kinh doanh, môi trường tự
nhiên, tránh tình trạng bị hao mòn quá nhanh (bao gồm cả hao mòn hữu hình
và hao mòn vô hình) và có sự phù hợp với tình hình tài chính của dự án cũng
như phù hợp với khả năng vận hành của chủ đầu tư.
- Thẩm định khía cạnh nhân lực và tổ chức quản lý: đây là khía cạnh
thường ít được quan tâm khi thẩm định dự án tuy nhiên do nhận thức được
tầm ảnh hưởng của vấn đề nên trong quy trình thẩm định, các cán bộ tín dụng
tại đây rất chú trọng để phân tích nhu cầu nhân lực và trình độ tổ chức quản lý
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
của dự án. Thực tế cho thấy rất nhiều dự án dù tính toán chi phí và hiệu quả
kinh tế vẫn thất bại khi thực hiện mà nguyên nhân dẫn đến lại là do trình độ
quản lý yếu kém, nhân lực không đủ trình độ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
- Thẩm định tài chính dự án: đây là nội dung lớn, là khía cạnh chính
trong quá trình thẩm định dự án; là căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả
của dự án và trên cơ sỏ đó đánh giá được khả năng trả nợ của khách hàng. Nội
dung của khía cạnh này sẽ được đề cập chi tiết hơn trong phần sau.
- Thẩm định hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án: đứng trên góc độ ngân
hàng thì hiện nay khía cạnh này vẫn đang còn được phân tích khá hạn chế,
chưa có sự quan tâm đúng đắn khi đánh giá các tác động của dự án tới môi
trường tự nhiên, môi trường văn hóa, xã hội.
quyết định của Chính phủ hay các dự án trung, dài hạn đầu tư phát triển của
khách hàng có tín nhiệm, khách hàng truyền thống, khách hàng có khả năng
tài chính lành mạnh, có dự án đầu tư khả thi hay những dự án có mức vốn tự
có ít nhất đạt 70% tổng vốn đầu tư.
- Bảo đảm tín dụng bằng hình thức bảo lãnh: đây là cách thức thực hiện
bảo đảm thông qua sự bảo lãnh của bên thứ ba, bên này sẽ thực hiện đầy đủ
mọi nghĩa vụ thay cho bên đi vay đối với bên cho vay. Có hai loại bảo lãnh là
bảo lãnh bằng tài sản và bảo lãnh bằng tín chấp.
Việc thẩm định giá trị pháp lí của tài sản bảo đảm là rất cần thiết, các
tài sản đảm bảo như nhà xưởng, đất đai, phương tiện đi lại hay những tài sản
hình thành từ chính dự án vay vốn... cần phải thẩm định quyền sở hữu để làm
chứng thực cho tài sản đó.
Bên cạnh việc thẩm định giá trị pháp lí, thẩm định giá trị thị trường tài
sản bảo đảm nợ vay lại rất quan trọng bởi điểu kiện pháp lí mới là điều kiện
cần chứ chưa phải là điều kiện đủ đảm bảo khả năng thanh lí tài sản để thu hồi
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nợ khi cần thiết. Khi tiến hành thẩm định tài sản bảo đảm, các cán bộ tín dụng
thường tiến hành phân loại loại hình tài sản: tài sản hữu hình và tài sản vô
hình để thuận lợi cho việc đánh giá dòng tiền theo giá trị thị trường.
1.3. Phương pháp thẩm định dự án
Nhìn chung, phương pháp thẩm định tại SGD là sự kết hợp nhuần
nhuyễn các phương pháp vốn có, đó là sự kết hợp giữa thẩm định theo trình tự
với thẩm định theo phương pháp so sánh đối chiếu các chỉ tiêu và phương
pháp dự báo để tiến hành phân tích toàn bộ các nội dung của dự án. Cụ thể đó
là khi tiến hành thẩm định một dự án, quy trình thẩm định luôn tiến hành từ
thẩm định tổng quát đến thẩm định chi tiết (thẩm định theo trình tự); thẩm
định tổng quát nhằm đánh giá tính đầy đủ, hợp lí của dự án trong hồ sơ dự án,
tính pháp lí của chủ đầu tư... để từ đó có cái nhìn tổng quan nhất về dự án;
thẩm định chi tiết nhằm phát hiện ra những thiếu sót của dự án để hoàn tất các
làm giảm uy tín và giảm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Khi tiến hành thẩm định tài chính, tuân thủ nghiêm ngặt các quy chế
của Ngân hàng Nhà nước, tại SGD tập trung vào các nội dung sau:
Vũ Thị Phương Lớp: Kinh tế Đầu tư 47A
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
2.1. Nội dung thẩm định tài chính dự án vay vốn.
Các nội dung của thẩm định tài chính luôn có quan hệ chặt chẽ với
nhau, vì vậy quy trình thẩm định tín dụng tại SGD tiến hành theo các nội
dung sau: thứ nhất là xác định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ
cũng như phương thức tài trợ vốn; thứ hai, xác định dòng tiền của dự án; thứ
ba, xác định lãi suất chiết khấu đối với dự án; thứ tư, xác định các tiêu chuẩn
đánh giá hiệu quả tài chính; thứ năm là đánh giá rủi ro trong dự án. Dựa trên
các kết quả phân tích trên sẽ đưa ra các kết luận chung về tính khả thi về tài
chính của dự án để làm căn cứ ra quyết định cho vay.
2.1.1. Xác định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ
Tổng mức dự toán vốn đầu tư là mức vốn đầu tư vào tài sản cố định và
tài sản lưu động của dự án, xác định tổng mức dự toán và độ biến động của
chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình thực hiện dự án đầu tư.
Phương pháp sử dụng để tính toán tổng vốn đầu tư thường kết hợp giữa
phương pháp cộng chi phí và phương pháp định mức dựa trên việc so sánh
đối chiếu với các dự án cùng loại khác hoặc những dự án tương tự; đối với
những dự án mới thì việc xác định tổng mức vốn đầu tư sẽ trở nên khó khăn
hơn vì chưa có cơ sở để phân tích mà chủ yếu dựa trên những ước lượng.
Đối với phía chủ đầu tư, dự toán tốt tổng vốn đầu tư sẽ đảm bảo dự án
được diễn ra đúng tiến độ, đảm bảo khối lượng công việc, giúp chủ đầu tư chủ
động các tình huống có thể diễn ra nếu có sự biến động ảnh hưởng tới dự án.
Đồng thời là cơ sở để các ngân hàng quyết định mức vốn cho vay, thời gian,
quy mô, phương thức giải ngân vốn vay. Nếu dự toán mức vốn đầu tư sai lệch
nhiều so với thực tế thì sẽ ảnh hưởng ngay tới các chỉ tiêu tài chính của dự án,
ngoài ra nếu quá thấp thì dự án sẽ thiếu hụt vốn, lâm vào tình trạng trì trệ; nếu