MỤC LỤC
1
PHẦN MỘT : LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, thu nhập của mọi người
tăng,mức sống cũng ngày càng cao. Vì thế giờ đây con người ta không chỉ
muốn thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu mà con nười còn muốn thỏa mãn
những nhu cầu cao hơn,những nhu cầu về vật chất đã đầy đủ khi đó họ sẽ
nghĩ tới những nhu cầu về tinh thần. Một trong số đó là nhu cầu giải trí,
tham quan du lịch vui vẻ cùng gia đình bạn bè, muốn khám phá tìm hiểu
cái mới, hay dùng du lịch phục vụ cho việc kinh doanh làm tăng các mối
quan hệ với các đối tác, tìm hiểu những đối tác mới. Du lịch không chỉ đơn
thuần là nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí cho con người mà du lịch còn là
một ngành công nghiệp mang lại lợi nhuận khá cao. Du lịch là một ngành
công nghiệp không khói. Bước vào thế kỷ 21 ngành du lịch ngày càng có
những thay đổi rõ ràng, do sự tác động của nhiều yếu tố. Ngành du lịch là
ngành được coi là có mối quan hệ qua lại rộng rãi nhất với các ngành khác,
nó là ngành có quan hệ liên ngành, liên nghề và kể cả kết nối các quốc gia
với nhau, du lịch chính là trung tâm, phương tiện để giao lưu, trao đổi
thồng tin với nhau, tiếp xúc và hòa quệt với nhau về văn hóa và chính nó để
mọi người có thể thông qua nó tìm hiểu, khám phá thế giới.
Với những lợi ích mà ngành du lịch mang lại, đã có rất nhiều công ty du
lịch được ra đời, các công ty cạnh tranh nhau trong mọi mặt từ các thị
trường, giá cả đến các chất lượng các dịch vụ. Trong số đó thì thị trường
luôn là mối quan tâm hàng đầu của tổ chức kinh doanh nói chung và của
các công ty du lịch nói riêng. Vì muốn tồn tại và phát triển thì tổ chức đó
phải có một vị trí nhất định trên thị trường. Để doanh nghiệp ngày càng
phát triển,việc kinh doanh được mở rộng thì hoạt động mở rộng thị trường
là không thể thiếu. Do đó các doanh nghiệp cần chú trọng công tác xúc
2
tiến, quảng bá và liên kết, phối hợp doanh nghiệp nước ngoài để ngày càng
Âu và Châu Á.
2.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục tiêu trên, chuyên đề có nhiệm vụ là :
- Tổng hợp chung nhất các lý luận về thị trường du lịch quốc tế inbound
và khai thác mở rộng thị trường du lịch quốc tế inbound.
- Phân tích thực trạng hoạt động mở rộng thị trường du lịch quốc tế
inbound của công ty những năm gần đây.
- Đưa ra các phương hướng giải pháp đẩy mạnh hoạt động mở rộng thị
trường quốc tế inbound của công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung chủ yếu vào phân tích thực trạng hoạt động mở rộng thị
trường du lịch quốc tế inbound của công ty và từ đó đưa ra giải pháp phù
hợp để mở rộng thị trường. Ngoài ra, còn phân tích các điểm mạnh, hạn chế
của công ty và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động mở rộng thị trường du
lịch quốc tế inbound.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian : từ 2005- 1010
- Phạm vi không gian : hoạt động mở rộng thị trường du lịch quốc tế
inbound được thực hiện trên phạm vi rộng như Châu Âu, Châu Á, Châu
Mỹ… nhưng trong chuyên đề thực tập này em chỉ tập trung chủ yếu vào
nghiên cứu hai thị trường là Châu Âu và Châu Á.
- Giác độ nghiên cứu : đề tài này đứng trên giác độ doanh nghiệp để
nghiên cứu và đưa ra giải pháp.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác – Lê Nin trong quá trình nghiên cứu phân tích. Đề tài còn
sử dụng phương pháp so sánh, tổng hợp kết hợp với khảo sát thực tiễn hoạt
4
động khai thác mở rộng thị trường du lịch quốc tế inbound của công ty
Theo nghị định của hội nghị Roma do liên hợp quốc tổ chức về các vấn đề
của du lịch quốc tế năm 1963 : Khách du lịch quốc tế là những người lưu
lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ
trong thời gian 24h hoặc hơn.
Định nghĩa trên mắc phải sai lầm đó là không đánh giá đúng mức độ ảnh
hưởng hay phụ thuộc giữa các ngành với nhau trong du lịch.hëng hay phô
thuéc gi÷a c¸c ngµnh víi nhau trong du lÞch.Định nghĩa vẫn chưa giới hạn
đầy đủ đặc trưng về lĩnh vực của các hiện tượng và các mối quan hệ kinh tế
du lịch( các mối quan hệ thuộc loại nào : kinh tế, chính trị, xã hội, văn
hóa).Ngoài ra, định nghĩa cũng bỏ sót hoạt động của các công ty giữ nhiệm
6
vụ trung gian nhiệm vụ tổ chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng hóa dịch
vụ đáp ứng nhu cầu khách du lịch.
Xuất phát từ những thực tế đó, chúng ta chỉ có thể nhìn nhận du lịch như
sau : Du lịch quốc tế là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm
đến của cuộc hành trình nằm ở hai quốc gia khác nhau, ở hình thức này
phải vượt qua biên giới và tiêu ngoại tế ở nơi đến du lịch. Từ cách nhìn
nhận trên chúng ta có thể thấy rằng du lịch quốc tế là những hình thức du
lịch có dính dáng tới yếu tố nước ngoài, điểm đi và điểm đến của hành trình
ở các quốc gia khách nhau, khách du lịch sử dụng ngoại tệ của nước mình
đem tới nước du lịch để chi tiêu cho nhu cầu du lịch của mình.
Các đặc điểm của du lịch quốc tế :
+ Phát sinh từ sự di chuyển của con người và đến ở tại các địa điểm khác
nhau.
+ Có hai thành phần trong mọi hình thức du lịch :
Chuyến đi đến các địa điểm du lịch
Các hoạt động của du khách tại địa điểm du lịch
+ Các chuyến đi và các hoạt động du lịch thực hiện bên ngoài nơi họ làm
việc
+ Chuyến đi là tạm thời ngắn hạn
đó là nơi mua bán hàng hóa.
Theo một nghĩa khác thì thị trường là biểu hiện của quá trình mà trong đó
thể hiện các quyết định của người tiêu dùng về hàng hóa và dịch vụ cũng
như các quyết định của doanh nghiệp về số lượng, chất lượng,mẫu mã của
hàng hóa. Đó chính là mối quan hệ giữa tổng số cung và tổng số cầu của
từng loại hàng hóa cụ thể.
1.2.2. Khái niệm thị trường du lịch
Thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường chung một phạm trù của
sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ các
8
thông tin kinh tế kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch.
Thị trường du lịch có đặc điểm chung với các thị trường hàng hóa khác là
nơi chứa đựng tổng cầu và tổng cung, hoạt động trao đổi diễn ra trong một
không gian và thời gian xác định, chịu ảnh hưởng của các yếu tố trong môi
trường vĩ mô, có vai trò quan trọng đối với sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Đặc điểm riêng có của thị trường du lịch :
+ Xuất hiện muộn hơn so với thị trường hàng hóa nói chung
+ Trong tiêu dùng du lịch không có sự di chuyển của hàng hóa vật chất,
giá trị của tài nguyên du lịch tới nơi ở thường xuyên của người tiêu dùng.
+ Trên thị trường du lịch cung-cầu chủ yếu là dịch vụ. Dịch vụ du lịch ít
hiện hữu khi mua và bán.
+ Quan hệ mua và bán trong thời gian dài kể từ khi mua đến khi tiêu dùng
và sau tiêu dùng.
+ Không thể lưu kho, sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, tính thời vụ
cao, cả nhận rủi ro lớn.
Như vậy, ta có thể đưa ra các định nghĩa về thị trường du lịch sau:
Theo nghĩa rộng, thị trường du lịch là tập hợp người mua và bán sản phẩm
hiện tại và tiềm năng. Người mua với tư cách là người tạo ra thị trường du
lịch và người bán với tư cách là người tạo ra ngành du lịch.
Theo nghĩa hẹp, thị trường du lịch và nhóm người mua có nhu cầu mong
mua tất cả sản phẩm của doanh nghiệp cũng như của người cạnh tranh
Biết được biến động của thị trường và chu kỳ sống có hạn của hầu hết
các sản phẩm là điều cốt tử đảm bảo cho sự phát triển trước mắt cũng như
triển vọng lâu dài. Kế hoạch mở rộng phải được vạch ra một cách thận
trọng để tránh đầu tư quá mức vào thiết bị và nhân lực, những yếu tố này sẽ
đè nặng lên công ty khi thị trường suy thoái. Và hoạt động mở rộng thị
trường của doanh nghiệp là cần thiết và thích hợp.
10
Sự phát triển của nền kinh tế thế giới đã tác động thuận lợi đến sự phát
triển du lịch và xu hướng phát triển đầu tiên là quốc tế hoá du lịch. Du lịch
đã trở thành ngành kinh tế mang tính tổng hợp, một ngành công nghiệp
không khói, ngành xuất khẩu vô hình, xuất khẩu tại chỗ mang lại hiệu quả
kinh tế cao. Ngày nay hầu hết quốc gia đều phát huy thế mạnh của loại hình
kinh doanh này và đặt nó vào vị trí kinh tế mũi nhọn. Thị trường du lịch
các quốc gia trên thế giới ngày càng phát triển rộng rãi không chỉ trong
nước mà còn ra nhiều quốc gia khác.
Ngày càng có nhiều các doanh nghiệp du lịch được thành lập để phục vụ
cho dịch vụ du lịch ngày càng tăng cao của con người. Do đó, để phát triển
được thì các doanh nghiệp cần phải mở rộng thị trường du lịch.
Vậy mở rộng thị trường du lịch là hoạt động phát triển thị trường của các
doanh nghiệp nhằm đến các khách du lịch đã sử dụng hoặc chưa sử dụng
các dịch vụ du lịch của doanh nghiệp trên một thị trường cụ thể làm tawnm
thị phần của doanh nghiệp trên thị trường đó trong thời gian nhất định.
2.2. Khái niệm mở rộng thị trường du lịch quốc tế inbound
Hiện nay thế giới đang trong quá trình hội nhập kinh tế, các ngành kinh
tế đều tham gia vào quá trình hội nhập, tham gia vào là một bộ phận kinh tế
quốc tế, du lịch là một ngành dịch vụ còn khá mới mẻ và là ngành có sự di
chuyển qua nhiều nơi do đó việc tham gia vào thị trường quốc tế là tất yếu.
Mở rộng thị trường du lịch quốc tế có thể nhằm để nói đến việc mở rộng cả
thị trường du lịch quốc tế inbound và outbound. Mở rộng thị trường du lịch
hiện nay khả năng cạnh tranh cao thấp cho biết sức mạnh của doanh
nghiệp, nó sẽ bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Khai thác nội lực chỉ là
động lực của phát triển, khi kinh doanh không còn hiệu quả nghĩa là việc
khơi dậy và phát huy nội lực không tốt.
Trong nội lực, sức lao động con người là quan trọng, con người có năng
lực là yếu tố động nhất, quan trọng nhất trong nội lực. Vì thế phát huy và
12
sử dụng có hiệu quả năng lực của con người là phần quan trọng trong khai
thác và phát huy nội lực.
Quá trình khai thác và phát huy nội lực là quá trình chuyển hoá các yếu
tố sức lao động, tư liệu lao động thành sản phẩm hàng hoá thành thu nhập
của doanh nghiệp. Phát triển thị trường vừa là cầu nối, vừa là động lực để
khai thác, phát huy nội lực tạo thực lực kinh doanh cho doanh nghiệp .Thị
trường tác động theo hướng tích cực sẽ làm cho nội lực tăng trưởng mạnh
mẽ, trái lại cũng sẽ hạn chế vai trò của nó.
Trong xu thế phát triển mạnh mẽ như hiện nay, cạnh tranh mãnh liệt
hơn trước rất nhiều, các doanh nghiệp phải tập trung những nỗ lực của
mình vào sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của thị trường. Trước đây
nhiều công ty đã sản xuất những sản phẩm mà họ tin rằng thị trường tiêu
cực, mà ít hoặc không quan tâm đến cái gì thực sự là nhu cầu. Kết quả là sự
xâm nhập thị trường giảm xuống tối thiểu. Chiến lược mở rộng thị trường
đòi hỏi phải có sự hiểu biết sâu sắc về thị trường. Do đó, nó tạo điều kiện
cho doanh nghiệp nắm bắt một cách chính xác về nhu cầu thị trường để từ
đó tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh thích hợp. Chẳng hạn trong
một chiến lược mở rộng thi trường, doanh nghiệp phải nắm bắt được nhu
cầu, tình hình và khả năng tiêu thụ của thi trường mới. Qua đó, doanh
nghiệp sẽ chủ động di chuyển tư liệu sản xuất, vốn và lao động từ ngành
này sang ngành khác, từ sản phẩm này qua sản phẩm khác để có lợi nhuận
cao.
Sự tác động của hoạt động phát triển thị trường được thể hiện thông qua
kiếm và phát triển nhiều thị trường hơn nữa. Cùng với việc phát triển các
thị trường hiện có và khai thác thêm các thị trường mới sẽ giúp doanh
nghiệp tìm được các đoạn thị trường mới từ đó doanh nghiệp lựa chọn đoạn
thị trường phù hợp với doanh nghiệp mình.
14
2.3.1.3. Doanh nghiệp có nhiều cơ hội kinh doanh mới trên các thị trường
mới và nắm bắt được số lượng khách hàng mới nhất định. Khả năng cạnh
tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp cũng vì thế được nâng cao, uy tín
doanh nghiệp và nhãn hiệu sản phẩm được biết đến rộng rãi. Ngoài ra
doanh nghiệp còn có thể nắm bắt được nhu cầu, tình hình và khả năng tiêu
thụ của thị trường mới.
2.3.1.4. Bảo đảm sự thành công cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Hoạt động mở rộng thị trường giúp cho các doanh nghiệp quan tâm đến
các vấn đề:
* Sự tồn tại của một thị trường đứng vững được.
* Quy mô các thời cơ trên thị trường có thể đạt được một cách thực sự
Việc biết được hai nhân tố này sẽ tạo điều kiện xây dựng các dự án sản
xuất và tiếp thị có hiệu qủa. Mở rộng thị trường sẽ tạo điều kiện cho doanh
nghiệp có vị trí ngày càng ổn định. Nâng cao uy tín sản phẩm của doanh
nghiệp và trên cơ sở đó thị trường hiện có mang tính ổn định. Mặt khác,
trên thị trường lúc nào cũng có sự cạnh chanh quyết liệt của nhiều doanh
nghiệp khác nhau cùng sản xuất và tiêu thụ một hay một số loại mặt hàng.
Lẽ đương nhiên doanh nghiệp nào cũng phải tìm cách dành những điều
kiện thuận lợi nhất để sản xuất và tiêu thụ. Mở rộng thị trường sẽ tạo ra
động lực thúc đẩy chiến thắng trong cạnh tranh, nâng cao số lượng sản
phẩm bán ra.
2.3.2. Sự cần thiết của hoạt động mở rộng thị trường du lịch.
Thị trường du lịch Việt Nam nói chung và thị trường du lịch thế giới nói
riêng ngày càng phát triển, và trở thành một thị trường khá đa dạng và
Nhu cầu du lịch là loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người. Nhu
cầu này được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý ( đi
lại) và nhu cầu tâm lý ( giao tiếp) trong hệ thống các nhu cầu của con
Hoạt
động
nghiên
cứu thị
trường
Thiết
lập
mối
quan
hệ với
thị
trường
Chính
sách
sản
phẩm
Tổ chức
thực
hiện
chương
trình
Hoạt
động
hậu
bán
17
người. Tuy nhiên nhu cầu du lịch của con người chưa phải là cầu du lịch.
3.1.2. Điều kiện thị trường sản xuất du lịch ( cung du lịch)
Cung du lịch được hiểu là khả năng cung cấp dịch vụ và hàng hóa nhằm
đáp ứng thị nội dung của cầu thị trường du lịch. Nó bao gồm hàng hóa du
lịch được đưa ra thị trường, các nhà sản xuất chính là :
+ Nhà sản xuất dịch vụ lưu trú
+ Nhà sản xuất ăn uống
+ Nhà sản xuất tham quan giải trí
+ Nhà sản xuất dịch vụ khách
+ Nhà sản xuất hàng hóa phục vụ cho du lịch
Hoạt động kinh doanh lữ hành của doanh nghiệp muốn phát triển được thì
phải có sự tham gia đầy đủ của các nhà sản xuất du lịch hay chúng ta
thường gọi là nhà cung ứng du lịch. Bởi chính các nhà sản xuất du lịch đảm
bảo cung ứng những yếu tố đầu vào để các nhà kinh doanh lữ hành kiên kết
dịch vụ mang tính đơn lẻ của từng nhà cung ứng và thành dịch vụ mang
tính nguyên chiếc và làm tăng giá trị sử dụng của chúng để bán cho khách
du lịch với mức giá gộp. Yêu cầu mức giá gộp phải thấp hơn mức giá mà
khách du lịch mua từng đơn vị đơn lẻ gộp lại và tiết kiệm được thời gian,
dễ dàng tìm kiếm thông tin, lựa chọn sản phẩm phù hợp với đặc điểm tiêu
dùng du lịch của họ. Do vậy nếu thiếu nhà cung cấp dịch vụ đầu vào, số
lượng bị hạn chế, mức giá cho các nhà kinh doanh lữ hành cao thì hoạt
động mở rộng thị trường của công ty lữ hành sẽ không có cơ sở duy trì và
phát triển.
Nếu không có mối quan hệ mật thiết giữa các nhà cung cấp thì công ty lữ
hành không thể tổ chức được các chuyến đi. Vì các dịch vụ có trong
chuyến du lịch không được thực hiện hoặc thực hiện với giá quá cao, khiến
khách du lịch không thể hoặc không muốn đặt mua chương trình du lịch
của công ty. Nhà cung cấp của doanh nghiệp lữ hành là những tổ chức kinh
doanh và phi kinh doanh đảm bảo cung ứng các yếu tố đầu vào cho doanh
19
nghiệp sản xuất tiêu thụ, thực hiện sản phẩm và chương trình du lịch. Nhà
hành phải tiến hành tiếp cận với các đối tượng đặc biệt là công ty lữ hành
gửi khách, các tổ chức hỗ trợ khai thác thị trường khách và các tổ chức, cơ
quan tại các địa điểm du lịch.
3.2.1. Thiết lập mối quan hệ với các công ty lữ hành gửi khách
Các kênh tiếp xúc của công ty lữ hành với các đối tác này khá đa dạng và
phong phú, dưới nhiều hình thức khác nhau.
Kênh trực tiếp : Tham gia vào các hội trợ du lịch tạo điều kiện cho công
ty có cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu và đàm phán ký kết với các công ty lữ hành
quốc tế nước ngoài có gửi khách đi Đông Dương trong đó có Việt Nam.
Kênh gián tiếp: Thông qua trang web của công ty, mail, fax mà công ty đã
chào bán các sản phẩm là chương trình du lịch của mình cũng như một số
dịch vụ khác đến các công ty lữ hành gửi khách nước ngoài, khi có tín hiệu
trả lời hay chấp nhận đàm phán, công ty thường cử nhân viên phụ trách
sang đàm phán trực tiếp với công ty bạn, hoặc mời đại diện công ty đối tác
sang đàm phán trực tiếp với công ty.
Ngoài ra còn có nhiều kênh tiếp xúc không chính thức khác như thông qua
các mối quan hệ cá nhân của ban lãnh đạo công ty, cũng như phòng
inbound với các Tour leader của đối tác mà công ty có thể thiết lập quan hệ
kinh doanh với phía bạn.
3.2.2. Thiết lập mối quan hệ với các cơ quan tổ chức có ảnh hưởng quan
trọng đến khả năng triển khai các hoạt động mở rộng thị trường của công
ty.
Thực tế cho thấy, để sản phẩm có thể dễ dàng được thực hiện thì vai trò
của các tổ chức công như : Đại sứ quán, hãng hàng không, hội hữu nghị…
là rất quan trọng. Với một công ty lữ hành, việc thiết lập quan hệ với thị
trường khách bao gồm cả việc thiết lập mối quan hệ với các tổ chức khác
như : Đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam, đại sứ quán Việt Nam tại nước
21
ngoài, các hãng hàng không, các hội hữu nghị… đây là các cơ quan trợ
giúp cho công ty trong các vấn đề như thủ tục hải quan, vấn đề về vận
+ Các yêu cầu khác : Đặc trưng cho từng thị trường khách cũng như cho
từng thời điểm xây dựng chương trình.
3.3.2. Xác định giá thành, giá bán cho chương trình du lịch
* Xác định giá thành:
Giá thành của chương trình du lịch bao gồm tòa bộ những chi phí thực sự
mà công ty lữ hành phải chi trả để tiến hành thực hiện các chương trình du
lịch. Thông thường có 2 phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp 1 : Xác định giá thành theo khoản mục chi phí. Phương
pháp này xác định giá thành bằng cách nhóm toàn bộ các chi phí phát sinh
vào thành hai khoản mục chủ yếu :
+ Chi phí cố định là chi phí cho cả đoàn khách hay đó là mức chi phí cho
các hàng hóa và dịch vụ mà mức giá của chúng không thay đổi một cách
tương đối so với số lượng khách trong đoàn. Trong một chương trình du
lịch, chi phí cố định bao gồm :
Chi phí vận chuyển.
Chi phí về các phương tiện tham quan( tàu thủy, oto..)
Chi phí hướng dẫn.
Chi phí thuê bao khác ( văn nghệ…)
+ Chi phí biến đổi là chi phí cho từng khách du lịch hay đó là mức chi phí
gắn liền trực tiếp với sự tiêu dùng riêng biệt của từng du khách. Khi tính
giá thành một chương trình du lịch, chi phí biến đổi thường bao gồm :
Chi phí về lưu trú ( khách sạn)
Chi phí ăn.
Chi phí tham quan
Chi phí về Visa – hộ chiếu và chi phí biến đổi khác.
Giá thành cho một khách du lịch được tính theo công thức :
23
Giá thành cho đoàn khách :
Z = N x b + A
Trong đó : Z : giá thành
T : các khoản thuế.
Tất cả các khảo trên đều tính bằng phần trăm ( hoặc hệ số nào đó ) của giá
thành. Trong công thức trên ap ; ab ; ak ; aT là các các hệ số tương ứng của
lợi nhuận, chi phí bán, chi phí khác và thuế, tính theo giá thành, aΣ là tổng
của các hệ số.
- Phương pháp 2 : Xác định giá bán trên cơ sở các khaorn chi phí, lợi
nhuận nói trên vief một lý do nào đó : những quy định tập quán hoặc chính
sách kinh doanh, tất cả các hệ số trên được tính theo gái bán. Khi đó ta có
công thức sau :
G = = =
Trong đó :
b : Hệ số tính theo %, b
p
, b
b
, b
k
, b
T
là hệ số các khoản lợi nhuận, chi phí bán,
chi phí khác và thuế tính theo gái bán.
b
Σ
: Tổng các hệ số trên
3.3.3. Hoạt động phân phối
Để có thể bán được các chương trình du lịch trọn gói cho khách du lịch,
công ty lữ hành phải sử dụng và khai thác tối đa kênh phân phối sản phẩm
trong du lịch. Kênh phân phối sản phẩm du lịch là hệ thống các dịch vụ
nhằm tạo ra các điểm bán hoặc tiếp cận sản phẩm thuận tiện cho khách du