Pháp luật quốc tế và pháp luật việt nam vê quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
Bộ Môn Luật Thương Mại
……

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2011 - 2015
Đề tài:

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. KIM OANH NA
Bộ Môn Luật Thương Mại

Sinh viên thực hiện:
PHẠM HOÀI LÂM
MSSV: 5115987
Lớp: Luật Thương Mại–Khóa 37

Cần Thơ, tháng 11 - 2014


LỜI CẢM ƠN
......
Lời đầu tiên người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
quý thầy cô Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình
truyền dạy cho người viết nguồn kiến thức sâu rộng góp phần
hoàn thành luận văn này. Và hơn hết, người viết xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến thầy Kim Oanh Na, người đã tận tình chỉ
dẫn, giúp đỡ người viết trong suốt quá trình làm luận văn. Bên
cạnh đó, người viết cũng xin cảm ơn các tác giả của những bài
viết, sách, báo, tạp chí chuyên luận mà người viết đã sử dụng

..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
Cần Thơ, ngày ... tháng 11 năm 2014


NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
......
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................
..........................................................................................................

1.2.3.1. Khái niệm sức khỏe....................................................................................15
1.2.3.2. Khái niệm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em ..............................16
1.3. Đặc điểm của trẻ em và quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em................17
1.3.1. Đặc điểm của trẻ em ........................................................................................17
1.3.2. Đặc điểm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em ...................................19
1.4. Bản chất quyền của trẻ em ...................................................................................21
1.4.1. Bản chất xã hội................................................................................................21
1.4.2. Bản chất pháp lý ..............................................................................................22
1.5. Mục đích, ý nghĩa quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và bảo vệ quyền
trẻ em .............................................................................................................................23
1.5.1. Mục đích quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em
....................................................................................................................................23


1.5.2. Ý nghĩa quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em
....................................................................................................................................24

Chương 2. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM .........................26
2.1. Pháp luật quốc tế về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em .....................26
2.1.1. Quyền được hưởng mức độ cao nhất có thể đạt được về sức khỏe và các
phương tiện chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ .........................................................26
2.1.2. Quyền được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ......................................27
2.1.3. Quyền nhận được sự giúp đỡ y tế và chăm sóc sức khỏe ban đầu ...............28
2.1.4. Quyền được chăm sóc sức khỏe cho trẻ và mẹ của trẻ trước và sau khi sinh
....................................................................................................................................28
2.1.5. Quyền được tiếp cận thông tin, giáo dục về chăm sóc sức khỏe cho trẻ em 29
2.1.6. Quyền được bảo vệ trước những tập tục có hại cho sức khỏe của trẻ em....30
2.1.7. Quyền được bố trí và xem xét lại định kỳ chế độ điều trị và mọi điều kiện
khác liên quan đến việc bố trí nơi ở để được chăm sóc, bảo vệ, điều trị sức khỏe về

KHỎE CỦA TRẺ EM TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN ..............................................................................................................51
3.1. Tình hình chăm sóc sức khỏe của trẻ em tại Việt Nam .....................................51
3.1.1. Một số mặt đạt được trong bảo vệ việc thực hiện quyền được chăm sóc sức
khỏe của trẻ em..........................................................................................................51
3.1.1.1. Về mặt pháp lý ...........................................................................................51
3.1.1.2. Về mặt thực tiễn .........................................................................................53
3.1.2. Một số hạn chế trong bảo vệ việc thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe
của trẻ em...................................................................................................................56
3.1.2.1. Về mặt pháp lý ...........................................................................................56
3.1.2.2. Về mặt thực tiễn .........................................................................................57
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện .................................................................................59
3.2.1. Phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật..................................................59
3.2.2. Phát triển và hoàn thiện hệ thống tổ chức y tế, củng cố mạng lưới y tế cơ sở,
đổi mới chăm sóc sức khỏe ban đầu .........................................................................60
3.2.3. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về y tế .............................................62
3.2.4. Đổi mới công tác đầu tư tài chính ..................................................................62
3.2.5. Phát triển nhân lực y tế, trang thiết bị và tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng y
tế .................................................................................................................................63
3.2.6. Đẩy mạnh công tác y tế học đường ................................................................64
3.2.7. Phát triển hệ thống thông tin y tế, đẩy mạnh công tác truyền thông - giáo
dục sức khỏe ..............................................................................................................65
3.2.8. Đẩy mạnh công tác y tế dự phòng và nâng cao chất lượng dịch vụ khám
bệnh, chữa bệnh ........................................................................................................66
3.2.9. Tăng cường hợp tác quốc tế về y tế ................................................................67

KẾT LUẬN....................................................................................................................68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em 1989 và phê chuẩn Công ước vào ngày 20
tháng 2 năm 1990. Nước ta là quốc gia thứ hai trên thế giới và cũng là quốc gia đầu tiên ở
Châu Á phê chuẩn Công ước này. Việc phê chuẩn Công ước đã tạo cơ sở pháp lý quốc tế
cho việc bảo vệ trẻ em ở Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra những nghĩa vụ ràng buộc Việt
Nam trong việc thực thi Công ước đối với các quyền của trẻ em nói chung và quyền được
chăm sóc sức khỏe nói riêng. Hơn thế nữa, từ sau khi phê chuẩn Công ước của Liên Hợp
Quốc về quyền trẻ em năm 1989 cho đến nay, không thể phủ nhận một thực tế ở nước ta
là cả cộng đồng ngày càng có nhiều hoạt động quan tâm và chăm lo hơn về sức khỏe của
trẻ em. Quyền chăm sóc sức khỏe của trẻ em đã được cụ thể hóa vào những văn bản quy
phạm pháp luật cụ thể, tiêu biểu là: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004,
GVHD: ThS.Kim Oanh Na

-1-

SVTH: Phạm Hoài Lâm


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

Luật Bảo hiểm y tế năm 2008,... Bên cạnh đó, nhiều chủ trương, chính sách về chăm sóc
sức khỏe cho trẻ em cũng được xây dựng và triển khai thực hiện.
Như vậy, trong những năm qua với việc xây dựng và ban hành những quy định
pháp luật cũng như xây dựng và triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách về bảo
vệ, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em thì công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em đã
đạt được nhiều thành quả tích cực. Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập
đang tồn tại song song, tác động một phần không nhỏ khiến công tác này gặp nhiều khó
khăn và thách thức. Những ngày này, dư luận xã hội thực sự hoang mang, lo lắng trước

-2-

SVTH: Phạm Hoài Lâm


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

2008; Luật Người Khuyết tật năm 2010. Ngoài ra, người viết còn nghiên cứu những quy
định trong các Nghị định, Thông tư và quyết định liên quan.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm để làm sáng tỏ hơn các vấn đề trong chăm sóc
sức khỏe cho trẻ em. Thứ nhất, về mặt pháp luật người viết sẽ tìm hiểu rõ hơn những quy
định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền được chăm sóc sức khỏe của
trẻ em. Thứ hai, về mặt thực tiễn người viết tập trung làm rõ thực trạng công tác bảo vệ,
chăm sóc sức khỏe cho trẻ em tại Việt Nam, những kết quả đã đạt được cũng như những
hạn chế, bất cập đang tồn tại. Và cuối cùng, dựa trên cơ sở nghiên cứu người viết xin đưa
ra một số kiến nghị, giải pháp khắc phục những bất cập hiện tại nhằm giúp trẻ em được
bảo vệ, chăm sóc sức khỏe được tốt hơn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã kết hợp sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp liệt kê, phương pháp so sánh, phương
pháp phân tích đối chiếu, phương pháp tổng hợp, phương pháp diễn dịch,... để làm rõ cơ
chế pháp lý bảo vệ quyền chăm sóc sức khỏe của trẻ em theo pháp luật quốc tế cùng với
cơ chế pháp lý và thực tiễn bảo vệ tại Việt Nam.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần mục lục, lời nói đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
thì nội dung của luận văn được kết cấu làm 3 chương:

thế kỷ XX, thuật ngữ pháp lý “quyền trẻ em” mới được đề cập sau một loạt biến cố quốc
tế lớn mà đặc biệt là cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Cuộc chiến
tranh này đã khiến rất nhiều trẻ em ở châu Âu bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như
mồ côi không nơi nương tựa, đói khát, bệnh tật và thương tích... Tình cảnh đó đã thúc
đẩy việc thành lập hai tổ chức cứu trợ trẻ em đầu tiên trên thế giới ở Anh và Thuỵ Điển
vào năm 1919. Những năm tiếp theo, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng đã ban hành
một số Công ước nhằm bảo vệ trẻ em trong các lĩnh vực lao động, việc làm và bảo trợ xã
hội. Tuy nhiên, những văn kiện thời kỳ đó chưa đặt vấn đề dưới góc độ các “quyền” của
trẻ em.
Năm 1923, bà Eglantyne (1876-1928) là người sáng lập Quỹ cứu trợ trẻ em ở nước
Anh đã thảo một bản Tuyên bố gồm 7 điểm, trong đó kêu gọi thừa nhận và bảo vệ các
quyền của trẻ em. Đến năm 1924, khái niệm “quyền trẻ em” mới chính thức được đề cập
trong luật pháp quốc tế, khi Tuyên ngôn Giơnevơ về quyền trẻ em được Hội Quốc Liên
thông qua tại Thụy Sỹ. Đây là lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ quyền trẻ em trên thế giới
và được coi là mốc quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em, đánh dấu sự ra đời và vị trí
quan trọng của trẻ em trong xã hội loài người.
Ngày 24/10/1945, tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời, đây là tổ chức liên minh giữa các
nước. Sau khi được thành lập, Liên hợp quốc đã đưa vấn đề quyền trẻ em phát triển lên
một bước ngoặt mới. Năm 1948, Liên Hợp quốc thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền
con người, trong đó khẳng định trẻ em cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền con
người. Năm 1959, Liên Hợp Quốc tiếp tục thông qua bản Tuyên ngôn thứ hai về quyền
trẻ em, phát triển nội dung của Tuyên ngôn Giơnevơ năm 1924, tuyên ngôn khẳng định
1

Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng,Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009, trang 253.

GVHD: ThS.Kim Oanh Na

-4-

3 triệu trẻ em được cứu sống, 75 vạn em khỏi bị tàn tật về thể chất, 12 triệu em thoát khỏi
nguy cơ mắc bệnh tâm thần... Bằng việc phổ biến dùng nước sạch, vệ sinh môi trường,
nuôi con bằng sữa mẹ... mà hàng năm có hàng chục triệu em không bị suy dinh dưỡng.
Bằng việc giáo dục, tuyên truyền về quyền trẻ em, nhận thức về vị thế của trẻ em trong
các xã hội đã thay đổi: từ việc coi trẻ em là đối tượng phụ thuộc, phải chịu sự chi phối
hoàn toàn của người lớn đến chỗ trẻ em đã được thừa nhận và được đối xử với tư cách là
những chủ thể của quyền chứ không đơn thuần chỉ là đối tượng của tình thương hay lòng
nhân đạo3.
Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 thì đến năm
2000 Liên Hợp Quốc còn thông qua hai Nghị định thư bổ sung, đó là: Nghị định thư
không bắt buộc về việc sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang và Nghị định thư không
bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em.
2

Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959.
Phan Thị Thanh Tâm, Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em - cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền trẻ em,
[truy cập ngày: 14/7/2014].
3

GVHD: ThS.Kim Oanh Na

-5-

SVTH: Phạm Hoài Lâm


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

đồng, một Chỉ thị chuyên đề đầu tiên của Đảng về một chính sách toàn diện đối với việc
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Ngoài ra, Chính phủ đã thành lập Uỷ ban Thiếu
niên nhi đồng Việt Nam theo Quyết định số 112/NV ngày 02/5/1961 của Bộ Nội vụ - đây
là tổ chức quần chúng có nhiệm vụ phụ trách việc giáo dục thiếu niên nhi đồng một cách
toàn diện và chỉ đạo phong trào thiếu niên nhi đồng trong cả nước.
4

Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009, trang 253.
5
Điều 24 Hiến pháp năm 1959.

GVHD: ThS.Kim Oanh Na

-6-

SVTH: Phạm Hoài Lâm


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

Từ năm 1979 đến năm 1989, sau ngày thống nhất đất nước, kế thừa truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn là mối quan tâm đặc biệt
hàng đầu của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ của mỗi công dân, gia đình, nhà trường và
toàn xã hội. Hiến pháp năm 1980, đã quy định việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
gắn liền với bảo vệ phụ nữ, bảo vệ bà mẹ, đồng thời khẳng định trách nhiệm và nghĩa vụ
của gia đình, Nhà nước và xã hội đối với sự nghiệp bảo vệ bà mẹ và trẻ em: Điều 47

Điều 47 Hiến pháp năm 1980.
Điều 64 Hiến pháp năm 1980.
8
Điều 64 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001.
7

GVHD: ThS.Kim Oanh Na

-7-

SVTH: Phạm Hoài Lâm


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

Từ năm 2000 đến nay, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề trẻ em, bảo
đảm cho trẻ em một tương lai tốt đẹp hơn. Tiêu biểu là Hiến pháp năm 1992 được sửa
đổi, bổ sung năm 2001 laị tiếp tục kế thừa và tái khẳng định việc bảo vệ trẻ em, đề cao
trách nhiệm của gia đình, đặc biệt là trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, đồng thời
cũng quy định bổn phận của con cháu đối với ông bà, cha mẹ được quy định tại điều 64
“Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình. Cha mẹ có trách
nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm
sóc ông bà, cha mẹ. Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các
con ”. Đồng thời, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật về quyền trẻ em cũng được
ban hành, cụ thể là: Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg ngày 26/2/2001 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai
đoạn 2001-2010; Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày 12/2/2004 của Thủ tướng Chính


SVTH: Phạm Hoài Lâm


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

vấn đề quan trọng mà công cụ hiệu quả nhất cho việc bảo vệ chính là hệ thống pháp luật.
Chỉ thông qua việc thể chế hóa thành luật, quyền con người mới được bảo đảm và bảo vệ
tốt nhất.
Vì lẽ đó, kể từ khi Liên Hợp Quốc được thành lập năm 1945, quyền con người đã
được quy định trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế như: Tuyên ngôn thế giới về nhân
quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), Công ước về
các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966)... Và các văn kiện này đã trở thành hệ thống
tiêu chuẩn pháp lý toàn cầu về quyền con người đòi hỏi mọi quốc gia, trong đó có Việt
Nam tôn trọng và thực hiện.
Quyền con người là một phạm trù đa diện, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo
đức, chính trị, pháp lý... Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con
người. Theo một tài liệu của Liên hợp quốc, từ trước đến nay có đến gần 50 định nghĩa
về quyền con người đã được công bố, mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất
định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả
các thuộc tính của quyền con người.
Ở cấp độ quốc tế, theo định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền
con người (Office of High Commissioner for Human Rights – OHCHR) thường xuyên
được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu thì “quyền con người là những bảo đảm pháp lý
phổ quát (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống
lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân
phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do
quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng
đồng”13. Tuy nhiên theo một số nhà nghiên cứu và chuyên gia thì “quyền con người là
những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và
bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”14. Bên cạnh đó, tại
buổi quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI) của Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao
ngày 26/02/2014 khi nói về những điểm mới về quyền con người, quyền công dân được
quy định trong Hiến pháp năm 2013, Phó giáo sư, Tiến sỹ Trần Văn Độ - Chánh án Tòa
án Quân sự Trung ương, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao khái quát “quyền con
người là quyền của cá nhân mà khi sinh ra vốn dĩ là đã có, còn quyền công dân là quyền
được quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật của nhà nước nó gắn liền với quốc
tịch của mỗi công dân”15. Đây là cách khái quát dể hiểu và cơ bản nhất về quyền con
người. Nó phù hợp với học thuyết về “quyền tự nhiên” cho rằng quyền con người là
những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là
thành viên của gia đình nhân loại.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quyền con người nhưng
chúng ta có thể thấy được quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu
là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật. Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị
xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã
hội, tự do...; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải được thể
chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Do đó, dù ở góc độ
nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực
được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá
trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người hướng
đến bảo vệ quyền và lợi ích chung của tất cả mọi con người trên thế giới.
1.2.1.2. Khái niệm quyền công dân
Quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù rất gần gũi với nhau nhưng

Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho Nhà nước khác”17 và “Công dân Việt Nam
ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ”18.
Như vậy, quyền công dân là quyền của các cá nhân đặt trong mối quan hệ với nhà
nước, sẽ được Nhà nước trao cho những quyền và nghĩa vụ cụ thể, hay nói đúng hơn
nghĩa vụ của họ phải tương thích quyền hạn tạo nên địa vị pháp lý công dân. Do đó,
quyền công dân trước hết cũng là quyền con người, nhưng việc thực hiện nó gắn với quốc
tịch, tức là gắn với vị trí pháp lý của công dân trong quan hệ với nhà nước, được nhà
nước đảm bảo đối với công dân của nước mình và chỉ có những người có quốc tịch của
một quốc gia mới được hưởng quyền công dân của quốc gia đó. Vì vậy, chúng ta có thể
thấy được khái niệm quyền công dân là khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối
quan hệ giữa công dân với Nhà nước, được xác định bởi chế định quốc tịch. Vì lẽ đó,
Quyền công dân là tập hợp những quyền con người được pháp luật của một nước ghi
nhận và chỉ những người mang quốc tịch của một nước thì mới được hưởng các quyền
công dân mà pháp luật nước đó quy định. Ví dụ như theo điều 27 Hiến pháp năm 2013
thì “Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử
vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Bên cạnh đó, như đã nói ở trên thì quyền công dân sẽ có mối quan hệ mật thiết với
quyền con người nhưng lại không đồng nhất. Vì thực tế, nội hàm về quyền con người
rộng hơn quyền công dân. Về tính chất, quyền con người sẽ không bị bó hẹp trong mối
quan hệ giữa cá nhân với nhà nước như quyền công dân mà rộng hơn là mối quan hệ giữa
cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại. Về phạm vi áp dụng, do không bi giới hạn bởi
chế định quốc tịch của quyền công dân nên chủ thể của quyền con người sẽ là tất cả các
thành viên của gia đình nhân loại, bất kể là ai, mang quốc tịch gì. Như vậy, về bản chất
thì các quyền công dân chính là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và
áp dụng cho công dân của nước mình và một cá nhân, ngoại trừ những người không quốc
tịch thì một cá nhân sẽ đồng thời là chủ thể của cả hai loại quyền con người và quyền
công dân.

16


1989 đã ghi nhận “trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp
dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”19.
Như vậy, trong pháp luật quốc tế độ tuổi để được coi là trẻ em được sử dụng một
cách thống nhất và được đa số các quốc gia sử dụng như: Ở Nhật Bản được quy định tại
Điều 4 Luật phúc lợi trẻ em năm 1947 “trẻ em là người dưới 18 tuổi”, ở Trung Quốc
được quy định tại Điều 2 Luật Bảo vệ người chưa thành niên “trẻ em còn được gọi là trẻ
chưa thành niên, là công dân dưới 18 tuổi”...
Tuy nhiên, pháp luật quốc tế cũng khẳng định việc áp dụng khái niệm trẻ em của
mỗi quốc gia có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào nội luật của mỗi nước quy định độ tuổi
thành niên sớm hơn. Do vậy, nhìn chung ở một số quốc gia sẽ có những quy định khác
nhau về độ tuổi để được coi là trẻ em so với Công ước quốc tế. Việc quy định độ tuổi ở
mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất, tinh thần và tâm sinh lý của trẻ em
ở mỗi quốc gia. Do đó sẽ có những quốc gia quy định khái niệm về trẻ em có thể sớm
hơn hoặc trể hơn 18 tuổi như được xác định trong công ước về quyền trẻ em. Chẳng hạn
như theo pháp luật Việt Nam quy định tại Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm
2004 thì “trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”20.
1.2.2.2. Trẻ em theo pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, pháp luật quy định về khái niệm trẻ em chính thức được đề cập trong
một văn bản pháp quy sau khi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành, đó là Pháp lệnh về

19
20

Điều 1 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.

GVHD: ThS.Kim Oanh Na

- 12 -


Trẻ em là những con người rất cần được sự quan tâm và bảo vệ của xã hội, do chưa
trưởng thành hoàn toàn về thể chất và tinh thần nên trẻ em còn rất non nớt, dễ bị tổn
thương. Do đó, việc đưa ra các quy định về quyền trẻ em sẽ góp phần quan trọng trong
việc bảo vệ trẻ em ngày càng tốt hơn. Như vậy, sự hình thành khái niệm quyền trẻ em sẽ
tạo ra cơ sở pháp lý giúp trẻ em không còn tiếp nhận thụ động sự chăm sóc từ người lớn
mà đã trở thành chủ thể được hưởng các quyền trong pháp luật. Từ đó, việc bảo vệ và
chăm sóc trẻ em sẽ được quan tâm và thực hiện chặt chẽ hơn.
Vì trẻ em cần được trao những quyền cần thiết cho sự phát triển của trẻ, nên
“Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành

21

Điều 1 Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979.
Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.
23
Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005.
24
Điều 161 Bộ luật lao động năm 2012.
22

GVHD: ThS.Kim Oanh Na

- 13 -

SVTH: Phạm Hoài Lâm


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

tham gia hoạt động xã hội.

25

Hội bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Thừa Thiên Huế, Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn
lên một cách lành mạnh và an toàn, [truy cập ngày:
20/7/2014].
26
Điều 1 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948.
27
Điều 14 Hiến pháp năm 1946.
28
Điều 15 Hiến pháp năm 1946.

GVHD: ThS.Kim Oanh Na

- 14 -

SVTH: Phạm Hoài Lâm


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

1.2.3. Khái niệm sức khỏe và quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em
1.2.3.1. Khái niệm sức khỏe
Trong cuộc sống này, không có gì quan trọng cho bạn bằng chính con người bạn,
một thân thể không bệnh tật, một tâm hồn không loạn đó là điều hạnh phúc nhất của con


Nguyễn Minh Mẫn, Y tế Việt Nam nên bắt đầu từ định nghĩa sức khỏe,
[truy cập ngày
21/7/2014].

GVHD: ThS.Kim Oanh Na

- 15 -

SVTH: Phạm Hoài Lâm


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

- Khả năng chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt của môi trường: Chịu
nóng, lạnh, hay sự thay đổi đột ngột của thời tiết.
Sức khoẻ tinh thần là hiện thân của sự thoả mãn về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm và
tinh thần. Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh
thản; ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời; ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ
động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và có lối sống không lành mạnh.
Sức khoẻ tinh thần cho ta khí thế để sống năng động, để đạt được các mục tiêu đặt ra
trong cuộc sống và tương tác với người khác với sự tôn trọng và công bằng. Cơ sở của
sức khoẻ tinh thần là sự thăng bằng và hài hoà trong hoạt động tinh thần giữa lý trí.
Khác với sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất thì sự hoà nhập của cá nhân với
cộng đồng được gọi là sức khoẻ xã hội. Sức khoẻ xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các
mối quan hệ chằng chịt, phức tạp giữa thành viên: gia đình, nhà trường, bạn bè, xóm
làng, nơi công cộng, cơ quan. Nó thể hiện ở sự được chấp nhận và tán thành của xã hội.

Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

Theo pháp luật quốc tế, tại Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em quy định
“Các Quốc gia thành viên thừa nhận quyền của trẻ em được hưởng mức độ cao nhất có
thể đạt được về sức khỏe và các phương tiện chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ. Các Quốc
gia thành viên cố gắng đảm bảo rằng không có trẻ em nào bị tước đoạt quyền được
hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ như vậy”30. Như vậy, quyền được chăm sóc sức
khỏe của trẻ em là quyền không thể bị tước bỏ và trong khuôn khổ quyền được chăm sóc
sức khỏe của trẻ em thì trẻ em sẽ luôn được quan tâm và chăm sóc ở mức độ cao nhất,
được hưởng đầy đủ các phương tiện, dịch vụ trong chăm sóc sức khỏe cho bản thân.
Đối với pháp luật Việt Nam, quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em được quy
định tại điều 15 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em có quyền
được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ”31. Theo quy định này thì tất cả mọi trẻ em đều có
quyền được hưởng sự chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Chẳng những vậy, pháp luật nước ta
còn đặc biệt quan tâm tới những đối tượng là trẻ em dưới 6 tuổi, cụ thể việc quy định
“Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh
không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập”32. Vì giai đoạn này nhu cầu về sức khỏe
của trẻ em là cao nhất nên việc pháp luật quy định như vậy sẽ góp phần thúc đẩy việc
chăm sóc cho trẻ ở giai đoạn này được đầy đủ và tốt hơn.
Như vậy cùng với khái niệm sức khỏe và khái niệm quyền trẻ em, chúng ta có thể
hiểu quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là quyền được thỏa mãn các nhu cầu
trong sinh hoạt (nhu cầu đầy đủ về dinh dưỡng, được vui chơi giải trí...) và tất cả những
gì cần để đảm bảo trạng thái thỏa mãn về thể chất , tinh thần, xã hội cho trẻ em để trẻ em
có một sức khỏe tốt nhất cho sự phát triển của bản thân.
1.3. Đặc điểm của trẻ em và quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em
1.3.1. Đặc điểm của trẻ em
Trong cuộc sống của chúng ta, ai cũng sẽ phải trải qua những giai đoạn cần thiết để

mẹ. Từ khi đứa trẻ chào đời cho đến khi đứa trẻ dưới 18 tháng tuổi, trẻ thể hiện mọi nhu
cầu của mình bằng “tiếng khóc”, nếu muốn ăn, muốn thay tã lót, muốn được nâng niu, âu
yếm, muốn được bảo vệ khi cảm thấy nguy hiểm… thì tiếng khóc là ngôn ngữ duy nhất
của trẻ em. Nếu cha mẹ, người chăm sóc trẻ quan tâm, đáp ứng lại các nhu cầu đó, trẻ yên
tâm, tin tưởng vào người chăm sóc mình. Khi trưởng thành niềm tin này phát triển thành
niềm tin vào các mối quan hệ xã hội và vì vậy, giao tiếp, quan hệ của trẻ em với những
người xung quanh thuận lợi, là cơ sở của các hành vi và cách ứng xử phù hợp, được xã
hội chấp nhận. Ngược lại, những trẻ em không được đáp ứng nhu cầu một cách phù hợp
có thể hình thành tâm lý không tin tưởng và lâu dài sẽ khó khăn trong niềm tin đối với
các mối quan hệ xã hội.
- Giai đoạn nhà trẻ: đây là giai đoạn trẻ em từ 18 tháng tuổi đến dưới 36 tháng tuổi.
Giai đoạn này, trẻ mới tập đi, tập nói, ở trẻ bắt đầu hình thành cách hay bắt chước, thích
khám phá mọi vật xung quanh. Trẻ ở giai đoạn này có nhu cầu được bảo vệ và hướng dẫn
về cái gì được, cái gì không được một cách chu đáo. Các nhà tâm lý học gọi đây là giai
đoạn của sự lựa chọn giữa độc lập và tự ti. Nếu trẻ học được cách biết nghe lời chỉ dẫn,
biết tuân theo kỷ luật (trước hết là tập đi vệ sinh đúng chỗ quy định chẳng hạn) thì sau
này trẻ sẽ phát triển tính tự lập. Trong trường hợp người lớn không hướng dẫn, giảng giải
cụ thể, trẻ không hiểu và không biết kỷ luật, khi gặp các trường hợp nguy hiểm (bị bỏng
do nghịch nước sôi, đưa tay vào ổ điện…) thì sau này, trẻ em cảm thấy tự ti, không mạnh
dạn phát triển tính độc lập của mình.
- Giai đoạn mẫu giáo: đây là giai đoạn trẻ em từ 36 tháng tuổi đến dưới 60 tháng
tuổi. Trong độ tuổi này, trẻ em bắt đầu hình thành năng lực tự chủ, có sự định hướng
những hành vi công việc của mình. Nếu cha mẹ cười hoặc giễu cợt, phê phán con trước
những nỗ lực chưa thực hiện được của nó thì trẻ sẽ luôn cảm thấy điều mình làm là có lỗi.
Ngược lại, nếu được cổ vũ, khích lệ thì trẻ rất sung sướng và nỗ lực hơn nữa. Tình cảm
hồn nhiên, dễ yêu, dễ hờn giận, muốn được tự chủ là một trong những nét tâm lý nổi bật
của trẻ giai đoạn này. Tương ứng với giai đoạn này là trẻ sẽ dần hình thành ý thức, tính
cách của bản thân mình.
- Giai đoạn nhi đồng - thiếu nhi: đây là giai đoạn trẻ em từ 6 tuổi đến 12 tuổi. Độ
tuổi này trẻ rất háo hức và sẵn sàng học nhiều điều mới. Trẻ bắt đầu đến trường, bắt đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status