TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(Niên khóa 2011 – 2015)
Đề tài:
HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VIỆT NAM – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Điền Thị Diệu Hiền
Bộ môn: Luật Tư Pháp
MSSV: 5115976
Lớp: Tư pháp 2 K37
Cần Thơ, 12/2014
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt khoảng thời gian bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, tôi
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2014
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng dịch vụ ......................................................6
1.1.2.1. Hợp đồng dịch vụ là hợp đồng có đền bù ...............................................7
1.1.2.2. Hợp đồng dịch vụ là hợp đồng ưng thuận ...............................................7
1.1.2.3. Đặc điểm riêng của hợp đồng dịch vụ ....................................................8
1.2. Phân loại hợp đồng dịch vụ ................................................................................8
1.3. So sánh hợp đồng dịch vụ với một số loại hợp đồng khác theo pháp luật
Việt Nam .....................................................................................................................9
1.3.1. So sánh hợp đồng dịch vụ với hợp đồng mua bán tài sản ..........................9
1.3.2. So sánh hợp đồng dịch vụ với hợp đồng ủy quyền ....................................11
1.4. Nguyên tắc giao kết hợp đồng dịch vụ ............................................................12
1.4.1. Tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái với pháp luật, đạo đức xã hội
................................................................................................................................13
1.4.2. Giao kết tự nguyện, bình đẳng ...................................................................14
1.5. Lịch sử hình thành và phát triển của hợp đồng dịch vụ ...............................15
1.6. Sự cần thiết điều chỉnh pháp lý về hợp đồng dịch vụ ....................................17
CHƯƠNG 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH
VỤ .................................................................................................................................18
2.1. Giao kết hợp đồng dịch vụ ...............................................................................18
2.1.1. Chủ thể của hợp đồng dịch vụ ....................................................................18
2.1.1.1. Bên thuê dịch vụ ....................................................................................18
2.1.1.2. Bên cung ứng dịch vụ ............................................................................20
2.1.2. Hình thức giao kết của hợp đồng dịch vụ ..................................................22
2.1.2.1. Hình thức miệng (lời nói) ......................................................................22
2.1.2.2. Hình thức viết (văn bản) ........................................................................24
2.1.3. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ ................................................................25
2.1.4. Thời hạn thực hiện công việc .....................................................................26
2.1.5. Thù lao trong hợp đồng dịch vụ (tiền công) ..............................................27
2.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ ..............................29
2.2.1. Quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ ...................................................29
2.2.2.1. Nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ ..............................................................29
Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay các giao dịch diễn ra ngày càng sôi động
trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cùng với sự phát triển đó thì nhu cầu tất yếu là
cần phải có một cơ sở pháp lý nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các giao dịch này.
Hợp đồng là một lựa chọn hàng đầu đối với các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ
dân sự cũng như trong đầu tư kinh doanh. Hiện nay, đa số các giao dịch đều được cụ
thể hóa dưới hình thức hợp đồng, nó là căn cứ nhằm ràng buộc các bên vào những gì
mà họ đã cam kết, để khi có tranh chấp xảy ra thì đó là một trong những căn cứ quan
trọng để xác định trách nhiệm của các bên. Trong điều kiện nước ta đang trên đường
hội nhập và mở cửa như hiện nay đó là một thách thức không hề nhỏ đối với các cá
nhân tham gia vào các hoạt động giao dịch. Vì vậy vấn đề pháp lý về hợp đồng được
các bên đặc biệt chú ý, nhằm đảm bảo tính chặt chẽ về mặt nội dung và hình thức
trong tất cả các giao dịch để đem lại sự hài lòng, tin cậy và lợi ích cao nhất cho các chủ
thể khi tham gia giao kết hợp đồng.
Kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu vật chất và tinh thần của con người ngày
một được nâng lên, theo đó các loại hình dịch vụ đáp ứng cho những nhu cầu đó cũng
không ngừng xuất hiện từ thành thị đến nông thôn. Chẳng hạn như dịch vụ chăm sóc
sắc đẹp, dịch vụ tư vấn việc làm, dịch vụ du lịch… điều này đòi hỏi cần phải có một
hợp đồng tương thích để các bên chủ thể ràng buộc nhau trong việc thực hiện hợp
đồng. Và hợp đồng dịch vụ là một lựa chọn hữu hiệu nhất cho các bên. Hợp đồng dịch
vụ là một dạng hợp đồng được sử dụng khá phổ biến và được cụ thể hóa thành luật
quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy việc áp dụng những quy định này đã
mang lại lợi ích rất nhiều cho các bên chủ thể, quyền và lợi ích của họ luôn được bảo
đảm nhưng trong quá trình áp dụng cũng như trong thực tiễn hiện nay cũng xuất hiện
không ít các quan hệ xã hội liên quan đến hợp đồng dịch vụ mà luật không thể dữ liệu
được. Vì thế, “Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam – lý luận
và thực tiễn” cũng đặt ra nhiều hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn cần được giải
sở pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng dịch vụ, góp phần bảo đảm việc
nhận thức và áp dụng quy định của pháp luật được thống nhất trong thực tiễn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, nội dung, bản chất
quy định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ nhằm làm sáng tỏ các vấn đề xoay quanh
vấn đề hợp đồng dịch vụ như: quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, việc
người cung ứng dịch vụ giao công việc cho người khác làm, xác định mức độ lỗi và
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên trong hợp đồng,… những vấn đề lý luân
và thực tiễn theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam. Và các văn bản hướng dẫn
thi hành các quy định các quy định của Bộ luật Dân sự về loại hợp đồng này, những tài
liệu liên quan đến vấn đề này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp phân tích, so sánh, diễn giải, quy nạp, tổng hợp, chứng
minh,…đã được vận dụng trong bài viết.
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận của học thuyết Mác – Lênin về chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nhằm tìm ra mối liên hệ giữa
các hiện tượng để đánh giá các vấn đề nghiên cứu một cách khoa học. Các phương
pháp luận kết hợp với một số phương pháp phân tích, so sánh, diễn giải, tổng hợp, …
cũng được sử dụng hợp lý trong quá trình thực hiện đề tài.
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
2
SVTH: Điền Thị Diệu Hiền
Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
5. Kết cấu đề tài
Ngoài các phần mục lục, lời mở đầu, kết luận, danh mục và tài liệu tham khảo,
luận văn bao gồm 3 chương. Cụ thể:
việc này sẽ không được hình thành. Do đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý
chí giữa các bên thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành. Quan hệ đó
được gọi là hợp đồng dân sự.
Theo pháp luật La Mã: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác
lập nghĩa vụ”.(2) Có thể thấy rõ sự gặp gỡ về ý chí và sự thống nhất đi đến việc làm
phát sinh các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng đối với các bên. Theo quy định của
Bộ luật Dân sự 2005, tại Điều 388 hợp đồng được hiểu như sau: “Hợp đồng dân sự là
sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự”.(3) Khái niệm hợp đồng dân sự cần phải được xem xét ở nhiều khía cạnh khác
nhau. Theo phương diện khách quan, hợp đồng dân sự là do các quy định của Nhà
nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch
chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau.
Theo phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà
trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau
làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định.
Các Mác, "Tư bản", quyển 1, tập I, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1973, trang 163.
TS. Nuyễn Ngọc Điện, Giáo trình luật La Mã, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, trang 45.
3
Xem Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005.
1
2
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
4
SVTH: Điền Thị Diệu Hiền
luật Thương mại năm 2005 quy đinh rất cụ thể và chi tiết về lĩnh vực hợp đồng. Điều
này đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong việc giao kết hợp
đồng.
Wikipedia, Dịch vụ, [truy cập ngày 5/7/2014].
Nguyễn Thị Yến, Luận văn đề tài pháp luật về hợp đồng dịch vụ du lịch và thực tiễn áp dụng tại công ty
TNHH nhà nước một thành viên Thăng Long, [truy cập ngày 6/7/2014].
6
Xem phần 3 Tiêu chuẩn ISO 9004: 2009 [truy cập ngày 6/7/2014].
4
5
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
5
SVTH: Điền Thị Diệu Hiền
Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
Theo Điều 518 Bộ luật Dân sự 2005 thì hợp đồng dịch vụ là “sự thỏa thuận
giữa các bên theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ,
còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”.(7)
Ví dụ: công ty X có thể tổ chức dịch vụ tư vấn cho người lao động về quyền
và nghĩa vụ của người lao động nói chung, quyền và nghĩa vụ của người lao động khi
làm việc cho công ty X nói riêng. Đối với công việc này công ty X sẽ ký hợp đồng
dịch vụ tư vấn việc làm cho người lao động. Loại hợp đồng này là loại hợp đồng đặc
biệt của loại hợp đồng dịch vụ dân sự và quy định cụ thể trong trong pháp luật về hợp
đồng của Nhà nước. Hoặc một ví dụ khác nữa công ty X trên có thể ký với người lao
SVTH: Điền Thị Diệu Hiền
Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
1.1.2.1. Hợp đồng dịch vụ là hợp đồng có đền bù
Đền bù lợi ích được coi là một trong những đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp
luật Dân sự. Tính chất đền bù đó được thể hiện một cách rõ nét nhất trong chế định
hợp đồng Dân sự. Hợp đồng mang tính đền bù là những hợp đồng mà trong đó một
bên sau khi thực hiện nghĩa vụ cho bên đối tác sẽ nhận được những lợi ích vật chất
tương ứng ngược lại từ phía bên kia. Lợi ích tương ứng ở đây không đồng nghĩa với
lợi ích ngang bằng vì các lợi ích các bên dành cho nhau không phải lúc nào cũng cùng
một tính chất hay chủng loại. Ví dụ: hợp đồng thuê biểu diễn ca nhạc- trong đó một
bên sẽ nhận được một lợi ích vật chất là tiền thù lao biểu diễn, catxê… và một bên sẽ
đạt được lợi ích về mặt tinh thần – đáp ứng nhu cầu giải trí, thưởng thức âm nhạc. Việc
phân tích tính chất đền bù giúp xác định bản chất pháp lý của từng hợp đồng, từ đó áp
dụng các quy định pháp luật để giải quyết tranh chấp phát sinh một cách chuẩn xác.
Mặt khác hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng dịch vụ nói riêng giữa các bên đều
có nghĩa vụ đối với nhau, các bên đều được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ.
Bên cung ứng dịch vụ có quyền nhận tiền công từ phía người thuê dịch vụ và đổi lại
phải có nghĩa vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ như đã thỏa thuận. Có thể
nói quyền và nghĩa vụ của các bên đối ứng với nhau có nghĩa là quyền và nghĩa vụ của
bên này sẽ tương ứng là nghĩa vụ và quyền của bên kia.
Hợp đồng dịch vụ thuộc dạng hợp đồng có đền bù theo đó bên thuê dịch vụ
phải trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ, khi bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện
công việc và mang lại kết quả như đã thỏa thuận.
1.1.2.2. Hợp đồng dịch vụ là hợp đồng ưng thuận
Theo như quy định của pháp luật hợp đồng dân sự Việt Nam thì hợp đồng ưng
thuận là loại hợp đồng mà quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ phát sinh ngay sau khi các
bên đã thỏa thuận xong với nhau về những nội dung chủ yếu của hợp đồng. Ví dụ như
tượng là công việc có tính chất dịch vụ không tạo ra kết quả mới.
1.2. Phân loại hợp đồng dịch vụ
Đây là một loại hợp đồng dân sự đặc thù. Việc giao kết và thực hiện các hợp
đồng dịch vụ phải theo những nguyên tắc, những quy định chung của pháp luật.
Nhưng do mỗi loại hợp đồng dịch vụ có đặc điểm riêng, vì vậy căn cứ vào đối tượng
của hợp đồng có thể chia hợp đồng dịch vụ thành những loại như: hợp đồng dịch vụ
thủ công; hợp đồng dịch vụ bảo hiểm; hợp đồng dịch vụ cho thuê, mướn tài sản; hợp
đồng dịch vụ kiểm dịch; hợp đồng dịch vụ tư vấn, thiết kế; hợp đồng dịch vụ khoa học
kỹ thuật…(8)
Hợp đồng dịch vụ thủ công: đây là loại hợp đồng phổ biến và đa dạng nhất.
Xuất hiện thường xuyên trong cuộc sống hằng ngày. Dịch vụ sửa chữa, vận chuyển là
một dạng thuộc loại hợp đồng này chẳng hạn như dịch vụ sửa chữa các thiết bị điện tử,
hợp đồng vận chuyển hàng hóa... thông thường các dịch vụ này được giao kết bằng lời
nói. Tuy nhiên, đối với những hợp đồng có tính chất quy mô tương đối lớn thì giao kết
bằng văn bản ví dụ như hợp đồng vận chuyển hàng hóa giữa hai doanh nghiệp, công ty
với nhau.
Hợp đồng dịch vụ bảo hiểm: đây là một hợp đồng quan trọng và cần thiết với
mỗi người. Bảo hiểm ở đây có thể là bảo hiểm con người và bảo hiểm tài sản. Khi giao
kết hợp đồng bên cung ứng sẽ nhận một khoản tiền từ bên tiếp nhận dịch vụ có thể
nhận tiền theo định kỳ hàng tháng hoặc có thể nhận một lần và đồng nghĩa với việc đó
thì bên này phải có nghĩa vụ bảo vệ đối tượng trong hợp đồng mà hai bên đã thỏa
Nguyễn Thị Chiều, Luận văn chế độ pháp lý về hợp đồng dịch vụ - Thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH Mộc
Dũng, [truy cập ngày 2/8/2014].
8
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
8
SVTH: Điền Thị Diệu Hiền
1.3.1. So sánh hợp đồng dịch vụ với hợp đồng mua bán tài sản
Hợp đồng dịch vụ và hợp đồng mua bán tài sản là hai loại hợp đồng được quy
định khá chi tiết và đầy đủ trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Cả hai loại hợp đồng
này đều có bản chất dân sự, thiết lập dựa trên sự thỏa thuận nhằm phát sinh, thay đổi
hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trên tinh thần tự nguyện và bình đẳng,
các bên cùng có lợi.
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
9
SVTH: Điền Thị Diệu Hiền
Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
Hai loại hợp đồng này vẫn có một số điều khoản tương tự nhau chẳng hạn như
về điều khoản chủ thể. Chủ thể của các bên trong hợp đồng có thể là cá nhân, pháp
nhân hoặc tổ chức. Tuy nhiên để phân biệt hai loại hợp đồng này chúng ta dựa vào các
điểm khác nhau cơ bản sau:
Thứ nhất về đối tượng: Đây là điểm khác nhau nổi bật nhất của cả hai loại hợp
đồng. Đối tượng của hợp đồng mua bán là tài sản. Theo quy định của Bộ luật Dân sự
năm 2005 định nghĩa về tài sản “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền
tài sản”.(9) Có thể thấy đối tượng tài sản trong hợp đồng mua bán không thể là tiền,
giấy tờ có giá mà mua bán ở đây là một đối tượng cụ thể có thể là hàng hóa, nhà cửa,
công trình, đất đai…Còn đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc mà người cung
ứng dịch vụ phải làm theo yêu cầu của người thuê dịch vụ.
Thứ hai, trong một số trường hợp một dịch vụ được cung ứng dựa trên việc
cùng tiến hành hoặc phối hợp giữa các nhà cung ứng dịch vụ khác nhau thì có thể xảy
ra tình trạng người cung ứng dịch vụ này gây cản trở hoặc làm chậm tiến độ của người
cung ứng dịch vụ khác. Vì vậy, cần phải quy định về nghĩa vụ hợp tác giữa các nhà
Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
Tuy nhiên, một đặc thù của hợp đồng dịch vụ là việc thực hiện dịch vụ thường kéo dài
trong một khoảng thời gian nhất định. Từ đặc thù này đặt ra trường hợp tại thời điểm
phải hoàn thành dịch vụ người cung ứng dịch vụ chưa hoàn thành việc cung ứng dịch
vụ và người cung ứng dịch vụ vẫn tiếp tục thực hiện dịch vụ mà khách hàng biết hoặc
không thể không biết đồng thời không phản đối việc tiếp tục thực hiện dịch vụ thì có
thể suy đoán việc chưa hoàn thành hợp đồng đúng hạn của người cung ứng dịch vụ
không ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng.
Thứ tư, như trên đã đề cập, việc thực hiện đa số các dịch vụ đều yêu cầu một
khoảng thời gian nhất định nên cần phải cân nhắc để quy định theo hướng coi việc hợp
tác của khách hàng trong việc cung cấp các kế hoạch, chỉ dẫn, và các vấn đề khác
trong quá trình thực hiện hợp đồng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung ứng dịch
vụ không bị trì hoãn hay gián đoạn là một nghĩa vụ của khách hàng.
Thứ năm, trong hợp đồng mua bán thì giá bán phải xác định hoặc xác định
được. Còn trong hợp đồng dịch vụ tiền công không cần thiết phải được xác định lúc
giao kết hợp đồng. Theo khoản 1 Điều 524 Bộ luật Dân sự 2005 quy định bên thuê
dịch vụ phải trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận. Và khoản 3 lại quy định bên thuê dịch vụ
phải trả tiền công tại thời điểm thực hiện công việc khi hoàn thành dịch vụ, nếu không
có thỏa thuận khác. Vậy người thuê dịch vụ phải trả tiền công theo thỏa thuận khi công
việc đã hoàn thành. Nghĩa là tiền công dịch vụ do hai bên thỏa thuận.
1.3.2. So sánh hợp đồng dịch vụ với hợp đồng ủy quyền
Cả hai loại hợp đồng đều được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự năm
2005, khác với hợp đồng mua bán hợp đồng dịch vụ và hợp đồng ủy quyền có đối
tượng giống nhau. Có nghĩa là người làm dịch vụ và người được ủy quyền đều thực
hiện một công việc theo yêu cầu của người giao kết hợp đồng và người được ủy quyền
có thù lao cũng nhận được một số tiền đền bù công sức của mình như người làm dịch
vụ.
Tuy nhiên cả hai loại hợp đồng vẫn có một số điểm khác nhau cơ bản sau:
Thứ nhất, người được ủy quyền thực hiện công việc nhân danh người ủy
trình làm dịch vụ bên thuê dịch vụ không có nghĩa vụ thanh toán cho bên làm dịch vụ.
Thứ tư, theo quy định tại Điều 588 Bộ luật Dân sự thì người ủy quyền và
người được ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc
nào theo ý mình không cần có lý do. Còn trong hợp đồng dịch vụ thì bên thuê dịch vụ
và bên cung ứng dịch vụ không có quyền đó. Đối với bên thuê dịch vụ nếu nhận thấy
việc tiếp tục hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình thì mới đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng. Đối với bên cung ứng dịch vụ nếu bên thuê dịch vụ không thực
hiện nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện không đúng theo thỏa thuận thì bên cung ứng
dịch vụ mới có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng.
1.4. Nguyên tắc giao kết hợp đồng dịch vụ
Do luật không có quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng dịch vụ, bởi vậy
các quy định trong luật chung được áp dụng.
Giao kết hợp đồng có thể hiểu là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các
bên theo nội dung, hình thức, nguyên tắc, trình tự nhất định, được pháp luật thừa nhận
nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên chủ thể.
Giao kết hợp đồng dân sự vốn là việc các bên có liên quan bày tỏ ý chí,
nguyện vọng của mình để qua đó xác lập hợp đồng dân sự với nội dung, hình thức phù
hợp với ý chí của các bên. Tuy nhiên giao kết hợp đồng dân sự không phải là sự tùy
tiện, các bên tùy ý lựa chọn cách thức thực hiện mà phải tuân theo một quy định cụ
thể. Giao kết hợp đồng cũng có những nguyên tắc nhất định phù hợp với nguyên tắc cơ
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
12
SVTH: Điền Thị Diệu Hiền
Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
bản được quy định trong Hiến pháp 1992 và những nguyên tắc chung của Bộ luật Dân
sự. Điều 389 quy định về các nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự như sau:
Xem Điều 389 Bộ luật dân sự năm 2005.
Xem Điều 57 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001.
12
Văn phòng Luật sư Tô Đình Huy, Nguyên tắc giao kết hợp đồng, [truy cập ngày 2/8/2014].
10
11
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
13
SVTH: Điền Thị Diệu Hiền
Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
do cam kết, thỏa thuận, trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo
đảm, nếu cam kết thỏa thuận đó không trái với đạo đức xã hội”.
Nguyên tắc này cũng được thể hiện trong Khoản 1 điều 11 Luật Thương Mại
2005: “Các bên có quyền tự do thỏa thuận không trái với các qui định của pháp luật,
mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập quyền, nghĩa vụ các bên trong hoạt động thương
mại và bảo hộ các quyền đó”.
Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 quy
định tại điều 1.1 :
Các bên được giao kết hợp đồng và thỏa thuận nội dung hợp đồng.(13)
Nguyên tắc của Luật hợp đồng Châu Âu điều 1.02 quy định:
Các bên được tự do giao kết hợp đồng xác định nội dung hợp đồng phụ thuộc
vào yêu cầu về thiện chí, công bằng và các quy tắc bắt buộc được thiết lập bởi các
nguyên tắc này.(14)
Hơn nữa tại Điều 50 Bộ luật dân sự 2005 cũng ghi nhận quyền tự do kinh
doanh: “Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo
Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
giao kết do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối hoặc đe dọa đều là những hợp đồng không đáp
ứng được nguyên tắc tự nguyện khi giao kết. Như vậy, nó sẽ bị coi là vô hiệu”. Nguyên
tắc này đặt ra nhằm đảm bảo trong việc giao kết hợp đồng không ai bị cưỡng ép hoặc
bị cản trở làm trái với ý chí của mình. Có nghĩa là không một ai được viện dẫn lý do
tôn giáo, dân tộc, giới tính, thành phần xã hội… để làm biến dạng các quan hệ dân sự.
Muốn biết được thế nào là sự tự nguyện thì vô cùng phức tạp đó là điều rất
khó để nhận ra khi nào thì các bên tự nguyện hoặc không tự nguyện. Tự nguyện giao
kết hợp đồng được biểu hiện qua sự thể hiện ý chí bên trong và sự bày tỏ ý chí đó ra
bên ngoài. Hai mặt này luôn tồn tại song song và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ý
chí chủ quan ở bên trong, sự mong muốn của các bên luôn được thể hiện một cách
khách quan, trung thực ra bên ngoài thông qua hình thức của hợp đồng.
1.5. Lịch sử hình thành và phát triển của hợp đồng dịch vụ
Khác với những gì diễn ra ở châu Âu, sự hình thành và phát triển của pháp luật
hợp đồng ở Việt Nam cho đến thế kỉ XIX chưa thực sự tồn tại theo đúng nghĩa khoa
học của thuật ngữ này. Ở nhà nước phong kiến chúng ta không thể tìm thấy đươc thuật
ngữ “hợp đồng” hay bất cứ một thuật ngữ tương đương nào trong các văn bản pháp
luật chính thức. Ngay trong các bộ cổ luật được đánh giá như là đỉnh cao của thành tựu
lập pháp phong kiến như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long, khái niệm hợp đồng
hay khế ước với tư cách là một thuật ngữ pháp lý độc lập và hoàn chỉnh hầu như
không được biết đến. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi thực dân Pháp tới Vệt Nam
biến Việt Nam thành thuộc địa thì tình hình mới thay đổi. Dưới dự bảo hộ của thực
dân Pháp cùng với chính sách khai thác thuộc địa đã làm cho cơ cấu xã hội ở Việt nam
biến đổi mạnh mẽ trong đó hệ thống pháp luật dân sự là một trong những lĩnh vực có
sự thay đổi mạnh mẽ và toàn diện nhất. Người Pháp sau khi ban hành ra Bộ luật Dân
sự Pháp năm 1804 đã thể hiện sự thống trị của mình đối với Việt nam bằng cách áp
dụng thành quả của mình vào thực tế Việt Nam và cho ra đời Bộ luật riêng áp dụng
cho ba chế độ cai trị khác nhau. Đó là Bộ luật giản yếu Nam Kỳ áp dụng cho Nam Kỳ
năm 1883. BỘ Luật Bắc Kỳ năm 1931 áp dụng cho Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ
điều chỉnh các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa các chủ thể bình đẳng về địa
vị pháp lý và chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự mới thực sự có chỗ đứng thỏa
đáng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Bộ luật dân sự năm 2005 đặt ra một dấu ấn
trong lịch sử trên con đường pháp điển hóa pháp luật về hợp đồng. Bộ luật Dân sự năm
2005 ra đời đã thể hiện những tính năng nổi bật cũng như những quy chế pháp lý điều
chính các mối quan hệ trong xã hội một cách chặt chẽ và có hiệu quả đặc biệt là mảng
hợp đồng. Nhưng do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, với phương châm mở
cửa hội nhập nền kinh tế nước ta cũng hội nhập vào nền kinh tế thế giới và yêu cầu đó
đòi hỏi nước ta cần phải có một hành lang pháp lý vững chắc hơn quy định về việc
kinh doanh hợp tác với các nước và giữa những thương nhân trong nước với nhau
trong khi đó thì Bộ luật dân sự năm 1995 không còn phù hợp nữa, xuất hiện nhiều mặt
hạn chế cần phải sửa đổi, bổ sung cho kịp thời đại. Ngày 14/06/2005 tại kỳ họp thứ
bảy Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Dân sự năm 2005, có những quy định mới
phù hợp với tình hình xã hội đương thời và nhu cầu của cuộc sống.
Kế thừa và phát triển trên Bộ luật dân sự năm 1995 và dựa trên Hiến pháp năm
1992 Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời đã có chín điều (từ Điều 518 đến Điều 526) quy
định về hợp đồng dịch vụ. Trong đó quy định khá rõ ràng về đối tượng, thời hạn cũng
như quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong hợp đồng. Bổ sung những mặt hạn
chế cũng như những tiêu cực của Bộ luật Dân sự năm 1995 để từ đó các bên đi đến
giao kết một hợp đồng dịch vụ hợp pháp và quyền lợi của các bên được đảm bảo cũng
như góp phần vào tình hình phát triển chung nền kinh tế nước nhà. Và từ đó hợp đồng
dịch vụ đã được sử dụng phổ biến, rộng rãi khắp nơi trên nhiều mặt của xã hội.
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
16
SVTH: Điền Thị Diệu Hiền
Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
những quy định thiết thực nhằm tạo hành lang pháp lý an toàn, bảo vệ quyền và lợi ích
cho các bên.
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
17
SVTH: Điền Thị Diệu Hiền
Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ
2.1. Giao kết hợp đồng dịch vụ
2.1.1. Chủ thể của hợp đồng dịch vụ
Thông lệ, trong một hợp đồng lúc nào cũng tồn tại ít nhất hai bên chủ thể tham
gia giao kết hợp đồng. Bởi lẽ, một hợp đồng giao kết chỉ với một bên chủ thể thì điều
đó hoàn toàn vô lý. Chẳng hạn như đối với hợp đồng ủy quyền thì chủ thể của nó
chính là bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền, đối với hợp đồng mua bán thì luôn tồn
tại song song giữa bên mua và bên bán…còn đối với hợp đồng dịch vụ cơ bản cũng
bao gồm hai chủ thể đó là bên cung ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ. Trong phạm vi
nghiên cứu người viết chỉ đề cập đến các quy định về hai chủ thể này trong hệ thống
pháp luật Việt Nam.
2.1.1.1. Bên thuê dịch vụ
Chủ thể thuê trong hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng dịch vụ nói riêng
rất đa dạng. Theo như quy định hiện hành về hợp đồng dân sự chúng ta cũng sẽ nhận
thấy rõ chủ thể bên thuê dịch vụ trong hợp đồng dịch vụ có thể là cá nhân, pháp nhân,
hộ gia đình, tổ hợp tác…
Cá nhân trong hợp đồng dịch vụ là một con người cụ thể được ghi nhận là một
mọi quan hệ dân sự trong đó có thực hiện hợp đồng đân sự.
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân: Theo quy định của pháp luật tại Điều 17
Bộ luật dân sự 2005 thì “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá
nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”.(17) Vậy năng
lực hành vi của một người được xem xét trên tiêu chí độ tuổi, bệnh tật và nghiện.
Tóm lại chủ thể bên thuê dịch vụ là cá nhân thì phải đáp ứng đủ các yêu cầu về
năng lực chủ thể khi tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng dịch vụ. Tuy nhiên nếu
pháp luật quy định về các điều kiện thuê dịch vụ thì phải đảm bảo các điều kiện đó.
Bên thuê dịch vụ cũng được thừa nhận là pháp nhân. Theo quy định của pháp
luật thì sự tồn tại của pháp nhân chỉ khi đáp ứng các tiêu chí luật định về năng lực
pháp luật và năng lực hành vi tức là pháp nhân đó phải có sự tồn tại và được thừa nhận
theo quy định của pháp luật, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân sẽ đứng ra
xác lập, thực hiện các giao dịch cũng như hợp đồng nhưng không được nhân danh bản
thân mà phải nhân danh pháp nhân. Chỉ là đại diện cho pháp nhân mọi phát sinh tranh
chấp đều nhân danh pháp nhân giải quyết chẳng hạn như người đứng đầu một Bệnh
viện là giám đốc. Giám đốc sẽ là người đại diện theo pháp luật của bệnh viện đó và
thực hiện các giao dịch nhân danh bệnh viện mình. Vì thế trong hợp đồng dịch vụ với
tư cách là một pháp nhân chủ thể bên thuê dịch vụ, người đại diện của pháp nhân sẽ
thay mặt pháp nhân giao kết hợp đồng. Và trách nhiệm không phải cá nhân đại diện đó
chịu mà là do pháp nhân chịu. Cho nên người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
cũng phải có đầy đủ năng lực chủ thể như đã phân tích ở phần trên và người đại diện
này cũng phải đáp ứng được các điều kiện, nguyên tắc riêng mà pháp nhân đưa ra.
Trong hợp đồng dịch vụ chủ thể của bên thuê dịch vụ cũng có thể là hộ gia
đình. Khi tham gia vào các quan hệ dân sự thì hộ gia đình cũng phải tuân theo những
nguyên tắc nhất định. Hộ gia đình ở đây có một nét rất đặc trưng đó là giữa các thành
viên có mối quan hệ gia đình với nhau. Có nghĩa là những người này “gắn bó với nhau
do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các
nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định”.(18) Không giống như cá nhân và
pháp nhân khi tham gia vào các quan hệ dân sự. Cá nhân, pháp nhân có thể trở thành
chủ thể của bất kỳ quan hệ pháp luật nào, nếu thỏa mãn các quy định của pháp luật mà