hợp đồng ủy quyền theo quy định của pháp luật việt nam – lý luận và thực tiễn - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(Niên khóa 2011 – 2015)

HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VIỆT NAM – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

Phạm Thị Kiều
MSSV: 5115984
Lớp: Thương mại 2 – K37

Cần Thơ, ngày 30 tháng 11 năm 2014


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt khoảng thời gian bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, tôi đã
nhận được rất kiến thức, kinh nghiệm cũng như nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy
Cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cám ơn đến Ban
giám hiệu Trường Đại học Cần Thơ, Ban chủ nhiệm Khoa Luật cùng quý Thầy Cô là
giảng viên Khoa Luật đã tận tình dạy bảo, truyền đạt những kiến thức, những kinh
nghiệm quý báu trong học tập và cả những kỹ năng sống ngoài xã hội, để tôi có được

............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
Cần Thơ, ngày ... tháng ... năm 2014


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................

1.3.3 Đại diện cho thương nhân ...............................................................................14
1.4 So sánh hợp đồng ủy quyền và hợp đồng dịch vụ ...............................................15
1.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu hợp đồng ủy quyền ...............................................17
1.6 Lịch sử hình thành và phát triển của chế định hợp đồng ủy quyền trong hệ
thống pháp luật Việt Nam ........................................................................................... 18

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HỢP
ĐỒNG ỦY QUYỀN ....................................................................................................20
2.1 Điều kiện của hợp đồng ủy quyền........................................................................20
2.1.1 Điều kiện về chủ thể ......................................................................................... 20
2.1.2 Điều kiện về nội dung của hợp đồng ủy quyền ...............................................23
2.1.3 Hình thức của hợp đồng ủy quyền ..................................................................24
2.2 Hiệu lực của hợp đồng ủy quyền ..........................................................................27
2.2.1 Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng ủy quyền ...................................27
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng ủy quyền ............................. 28
2.2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của bên ủy quyền ......................................................... 28
2.2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên được ủy quyền ................................................29
2.3 Thời hạn của hợp đồng ủy quyền và vấn đề ủy quyền lại ..................................33


2.3.1 Thời hạn ủy quyền ............................................................................................ 33
2.3.2 Ủy quyền lại ......................................................................................................34
2.4 Các trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy quyền ...................................................35
2.4.1 Hợp đồng ủy quyền hết hạn .............................................................................35
2.4.2 Công việc ủy quyền đã hoàn thành..................................................................36
2.4.3 Các bên ủy quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền ......36
2.4.3.1 Bên ủy quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền .......................... 36
2.4.3.2 Bên được ủy quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền .................37
2.4.4 Bên ủy quyền, bên được ủy quyền chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực
hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết .....38

1. Tính cấp thiết của đề tài
Với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của nhà nước. Quá trình phát triển kinh tế luôn gắn liền với nhu cầu xã hội, kinh tế
phát triển cao thì nhu cầu xã hội ngày càng tăng theo một thông số tỉ lệ thuận. Ngày nay
trong nền kinh tế thị trường những giao dịch dân sự, thương mại diễn ra rất phổ biến. Tuy
nhiên, không phải lúc nào những chủ thể cũng có thể tham gia trực tiếp vào việc thực
hiện các giao dịch này. Vì vậy pháp luật cho phép một chủ thể có quyền trao quyền đó
cho người khác để thực hiện thay mình để đạt được mục đích mong muốn bằng cơ chế ủy
quyền.
Có thể nói hợp đồng ủy quyền là một trong những căn cứ pháp lý cho việc thực hiện
các giao dịch do người đại diện theo ủy quyền thực hiện nhân danh người ủy quyền, pháp
luật về hợp đồng ủy quyền là một trong những biện pháp thúc đẩy các giao dịch dân sự
phát triển
Vấn đề hợp đồng ủy quyền được pháp luật quy định khá chi tiết cụ thể là Bộ Luật
Dân Sự 2005 đã quy định về khái niệm, những vấn đề về trình tự, thủ tục cũng như quyền
và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng ủy quyền và đây cũng được xem là
những khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hiệu quả quan hệ dân sự. Bên cạnh đó việc đánh giá
và tìm hiểu các vấn đề về hợp đồng ủy quyền là một vấn đề cần thiết với tính chất, mức
độ và phạm vi để nắm vững các quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng ủy quyền. Thế
nhưng trong thực tế có những chủ thể tham gia vào quan hệ ủy quyền đã không tôn trọng
pháp luật khi có những hành vi sai trái trong quá trình áp dụng pháp luật làm xâm hại đến
lợi ích của các cá nhân, tổ chức, gây thiệt hại cho nhà nước và ảnh hưởng đến xã hội. Cụ
thể nhiều người đã lợi dụng tính chất thỏa thuận về phạm vi của của hợp đồng ủy quyền
trong định đoạt tài sản để chiếm đoạt tài sản hoặc che đậy hợp đồng khác với mục đích
trốn thuế gây thất thoát cho nguồn thu của ngân sách nhà nước.
Thực trạng trên diễn ra sôi nỗi trong lĩnh vực bất động sản như ủy quyền mua bán,
thế chấp nhà ở, quyền sử dụng đất, ủy quyền giao dịch chứng khoán. Đồng thời do người
dân thiếu kiến thức pháp luật, bằng việc chưa có nhận thức sâu sắc quy định về hợp đồng
ủy quyền nên họ sẵn sàng chấp nhận tham gia vào quan hệ ủy quyền mà không lường
trước được những rủi ro khi người khác lợi dụng hợp đồng ủy quyền để trục lợi. Bên

3. Phạm vi nghiên cứu
Hợp đồng ủy quyền là một trong những hợp đồng thông dụng có ý nghĩa quan trọng
trong nhiều lĩnh vực như dân sự, hành chính, tố tụng, kinh tế,…Tuy nhiên với kiến thức
hạn hẹp người viết không có tham vọng nghiên cứu tất các các lĩnh vực liên quan đến
hợp đồng ủy quyền mà chỉ tập trung phân tích những quy định của hợp đồng ủy quyền
trong Bộ Luật Dân Sự 2005. Cụ thể như khái niệm, đặc điểm, thời hạn ủy quyền, ủy
quyền lại, quyền và nghĩa vụ của các bên,… Song song đó người viết đã tìm hiểu những
bất cập, vướng mắc trong thực tế khi áp dụng hợp đồng ủy quyền như việc công chứng,
chứng thực, việc lợi dụng hợp đồng ủy quyền để che đậy hợp đồng khác hoặc chiếm đoạt
tài sản. Cuối cùng người viết đưa ra đề xuất của mình với mong muốn góp phần hoàn
thiện những quy định của pháp luật về hợp đồng ủy quyền cũng như hạn chế được những
tiêu cực có thể xãy ra.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm hoàn thiện luận văn một cách tốt nhất, người viết đã vận dụng phương pháp
để phục vụ mục đích nghiên cứu của mình như phương pháp phân tích luật viết dựa trên
những quy định của pháp luật hiện hành cụ thể là các quy định của Bộ Luật Dân Sự 2005,
phương pháp đánh giá, so sánh, nhận định các quy định pháp luật từ đó đưa ra các điểm

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

-2-

SVTH: Phạm Thị Kiều


hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành, phương pháp tổng hợp thông tin qua các
bài viết, các công trình nghiên cứu có giá trị pháp lý và tạp chí chuyên ngành trên nền
tảng phương pháp luận theo quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lê Nin.
Cùng với đó là tham khảo ý kiến của các nhà soạn thảo nghiên cứu luật, các giảng viên
trường Đại học Cần Thơ.

hóa các quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể.
Trong cuộc sống hiện tại hợp đồng được biết đến như một giao dịch không thể
thiếu, là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa người với người liên quan đến tài sản
trong một xã hội có tổ chức.1 Hầu hết mọi hoạt động của con người khi tham gia vào một
quan hệ xã hội đều được xem là hợp đồng, từ việc mua thức ăn, xem hát hay mua đồ
dùng sinh hoạt, suy cho cùng để thực hiện được các công việc nói trên thì chủ tham gia
nói chung sẽ phải xác lập với đối phương một giao dịch và giao dịch đó được gọi là hợp
đồng.
Thuật ngữ “hợp đồng” trước tiên được hiểu là “sự cam kết giữa hai hay nhiều
người để làm một việc gì đó, là việc xác lập trách nhiệm, quyền lợi”2. Với việc xuất hiện
sự cam kết của hai hay nhiều người, có thể nói hợp đồng chính là sự giao kết mà trong đó
có sự xuất hiện của từ hai chủ thể trở lên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng. Đồng thời
làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể cũng như quyền lợi của bên thứ ba
khi tham gia quan hệ hợp đồng.
Hợp đồng dân sự theo pháp luật Việt Nam được định nghĩa tại Điều 388 Bộ Luật
Dân Sự (BLDS) hiện hành theo đó: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về
việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Khái niệm này cũng đã
được ghi nhận tại Điều 394 BLDS 19953. Từ khái niệm trên cho thấy hợp đồng dân sự có
Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình luật Dân Sự Việt Nam (tập 1), Tủ sách Đại học Cần Thơ, 2004, trang 4.
Quang Hùng, Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, TP.HCM, 2006, trang 45.
3
Điều 394 Bộ luật Dân sự 1995: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
1
2

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

-4-


vụ phải có tính chất tài sản, nghĩa là định giá được bằng tiền. Tóm lại, muốn tồn tại một
hợp đồng, thì phải có sự thỏa thuận và sự thỏa thuận phải có giá trị pháp lý nhằm làm
phát sinh nghĩa vụ pháp lý dân sự trong hợp đồng.
Song song đó hợp đồng ủy quyền được ghi nhận trong xã hội đương đại như là
một công cụ đắc lực thúc đẩy các giao dịch trong điều kiện sự phân công lao động ngày
càng chặt chẽ và tinh vi, và được hình dung trong quan niệm truyền thống như một kỹ
Đinh Văn Thanh, Đặc trưng pháp lý của hợp đồng dân sự, Tạp chí Luật học, số 4/1999, trang 20.
Nguyễn Thị Ngọc Tuyền, Bài giảng Luật dân sự 2, năm 2010, trang 5.
6
Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
4
5

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

-5-

SVTH: Phạm Thị Kiều


thuật pháp lý đặc biệt, cho phép một người không thể tự mình thực hiện được các giao
dịch mà mình đã giao kết, do vướng bận, bệnh tật, trình độ chuyên môn hay do ở xa…có
thể thực hiện được công việc một cách gián tiếp thông qua vai trò của một người khác,
nhưng phải hành động nhân danh mình và vì lợi ích của mình. Xuất phát từ đó mà dần
dần chế định hợp đồng ủy quyền được hình thành. Tuy nhiên trong cuộc sống hiện tại, ủy
quyền được biết đến nhiều hơn như là một dịch vụ được cung ứng bởi một người có năng
lực chuyên môn, cũng như có điều kiện vật chất cần thiết, và được thực hiện theo yêu cầu
của người ủy quyền đồng thời là khách hàng, trong điều kiện người ủy quyền đồng thời là
khách hàng không có đủ năng lực chuyên môn, chứ không chỉ đơn giản là không có thì


GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

-6-

SVTH: Phạm Thị Kiều


hoặc quyết định của Tòa án,…tuy nhiên trong phạm vi đề tài của mình người viết chỉ tìm
hiểu quan hệ ủy quyền phát sinh từ hợp đồng như được định nghĩa tại Điều 581 BLDS
hiện hành.
Như vậy có thể thấy rằng theo quy chế pháp lý của BLDS hiện hành thì hợp đồng
ủy quyền có sự xuất hiện của ý chí chủ quan của các bên trong quan hệ hợp đồng, từ đó
làm xuất hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên, tuy nhiên với tính chất của chương này
chỉ là khái quát chung về hợp đồng ủy quyền người viết sẽ không trình bày cụ thể quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mà sẽ dành thời gian trình bày ở chương tiếp
theo.
1.2 Đặc điểm của hợp đồng ủy quyền
Vì là một trong các loại hợp đồng dân sự thông dụng nên về cơ bản hợp đồng ủy
quyền sẽ có các tính chất giống như các loại hợp đồng khác như giao kết dựa trên sự thỏa
thuận, sự tự nguyện của các bên, song hợp đồng ủy quyền còn có một số đặc điểm riêng
dưới đây:
 Chủ thể được phép tham gia giao dịch với tư cách là người nhận ủy quyền, chỉ
có thể là cá nhân, con người cụ thể
Điều này có nghĩa chủ thể tham gia vào giao dịch này phải là một con người cụ thể
có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật theo quy định tại Điều 143 BLDS9, và đây
chính là điểm đặc biệt của chế định hợp đồng ủy quyền so với các chế định hợp đồng
khác, bởi lẽ khi tham gia vào các giao dịch quan hệ dân sự khác chủ thể tham gia rất đa
dạng có thể là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác… tùy vào giao dịch mà chủ thể
đó tham gia, tuy nhiên đối với chủ thể tham gia vào quan hệ ủy quyền thì chủ thể tham

quyền, nghĩa vụ dân sự.”11 Chỉ có thể thông qua hành vi cụ thể của mỗi cá nhân con
người mới có thể tác động đến những chủ thể khác, tác động đến tài sản và xác lập các
quyền và nghĩa vụ của họ đối với người khác. Tuy nhiên đối với các chủ thể không phải
là cá nhân thì tự thân họ không thể có hành vi, mà phải thông qua người đại diện thì mới
có thể thiết lập các mối quan hệ với các chủ thể khác. Các hoạt động của pháp nhân, tổ
chức hoặc một nhóm người đối với người thứ ba phải thông qua người đại diện để đảm
bảo tính thống nhất trong hoạt động, và về nguyên tắc sẽ chỉ có duy nhất một người đại
diện. Tuy nhiên suy cho cùng nguyên tắc thì phải có ngoại lệ, có thể thấy một tổ chức
nhưng cùng lúc và cùng thời điểm có nhiều hoạt động khác nhau thì có thể có nhiều
người đại diện để hoàn tất mọi công việc của pháp nhân hay tổ chức mà mình đại diện.
Tất cả các tư cách đại diện đó đều xuất phát từ cơ chế ủy quyền của người đại diện theo
pháp luật mà có, và người đại diện này cũng phải luôn đảm bảo có năng lực dân sự đầy
đủ. Theo phân tích ở trên thì cá nhân mới có thể làm đại diện cho pháp nhân, tổ chức
khác. Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt thì pháp nhân vẫn có thể trở thành đại
diện cho cá nhân hay tổ chức nhưng những trường hợp không chỉ đơn thuần là cơ chế đại
diện theo ủy quyền, mà được pháp luật ghi nhận, vì mục tiêu, nhiệm vụ nhất định nào đó,
Nhà nước sẽ giao quyền đại diện cho các tổ chức nhưng trong phạm vi những quan hệ
khá đặc biệt (các tổ chức bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em....). Song có một số trường
hợp cơ chế đại diện này có thể là những hợp đồng của các bên nhưng nó chỉ có thể gói
gọn trong phạm vi ngành nghề đăng ký kinh doanh như hoạt động đấu giá, hoạt động
kinh doanh bất động sản, dịch vụ chứng khoán...Thông thường, những hoạt động đại diện
này mặc dù thuộc phạm vi hoạt động của một tổ chức nhưng lại gắn chặt với từng con
người cụ thể, thỏa mãn một số yêu cầu, điều kiện của pháp luật thì mới có khả năng thực
hiện được, hoặc người thực hiện nghiệp vụ của tổ chức phải thỏa mãn một số yêu cầu,
điều kiện của pháp luật.
 Hợp đồng ủy quyền là hợp đồng có hoặc không có đền bù
Sở dĩ hợp đồng ủy quyền có đặc điểm điểm này là xuất phát từ định nghĩa tại Điều
581 BLDS hiện hành “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên ủy
quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc ủy quyền nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy
quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Từ đó cho

tham gia kiện cáo với tư cách nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền và lợi ích liên
quan...Khác với người được ủy quyền người môi giới không phải là người được ủy quyền
của bên này hay bên kia, mà chỉ giữ vai trò trung gian, công việc của người môi giới
mang tính vật chất nhiều hơn, nhờ có người môi giới, các bên có thể tiếp xúc và trao đổi
thông tin, thương lượng với nhau. Do vậy có thể thấy vai trò của người môi giới sẽ mang
tính chủ động hơn so với người được ủy quyền, bởi lẽ người môi giới sẽ chủ động giúp
các bên gặp gỡ, thương lượng và trao đổi thông tin, sau đó khi hai bên đạt đươc mục đích
của mình thì người môi giới sẽ được hưởng hoa hồng của một trong hai bên hoặc có thể
là cả hai bên.
Ví dụ: A có một mảnh đất ở quê, A muốn bán để lấy tiền lên thành phố lập nghiệp,
trong khi đó B ở trên Sài Gòn lại muốn về quê mua một mảnh đất để an hưởng tuổi già,
thấy vậy C ở gần nhà A đã chủ động liên lạc với B và đưa B về quê để gặp A mua đất,
sau đó A và B đã đạt được mục đích của mình, một bên bán được và một bên mua được,
và C sẽ được hưởng hoa hồng từ A và B hoặc được hưởng từ cả hai người. Trong khi đó
với vai trò là người được ủy quyền thì sẽ được người ủy quyền yêu cầu làm đại diện thì
mới có thể làm thay công việc của người này, nhưng phải với điều kiện chỉ được làm
Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật Dân sự Việt Nam, NXB Trẻ TP.HCM, trang
399.
12

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

-9-

SVTH: Phạm Thị Kiều


công việc mà người ủy quyền yêu cầu và phải nhân danh người ủy quyền, và chỉ được
hưởng thù lao từ người ủy quyền mà thôi.


để chỉ định người đại diện thì người đại diện chỉ được phép thực hiện chính xác các công
Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật Dân sự Việt Nam, NXB Trẻ TP.HCM, trang
402.
14
Khoản 1 Điều 139 Bộ luật Dân sự 2005.
13

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

- 10 -

SVTH: Phạm Thị Kiều


việc được giao trong hợp đồng ủy quyền, người đại diện không thể thực hiện các công
việc không được ghi nhận. Đồng thời trong hợp đồng công việc được ủy quyền được ghi
nhận như thế nào thì người được ủy quyền chỉ được phép thực hiện như thế đó, không
được biện hộ hay suy luận rằng các công việc này liên quan đến những công việc được
ủy quyền thì được phép thực hiện. Mặc dù người đại diện có thể có những quyền năng rất
lớn (theo thỏa thuận hoặc pháp luật cho phép) nhưng tất cả mọi công việc, hoạt động,
hành vi của người đại diện luôn phải được thực hiện vì lợi ích của người được đại diện.
Bản chất của đại diện đã là vì người khác, vì vậy người đại diện phải nỗ lực hết mình để
thực hiện các công việc được đại diện sao cho có lợi nhất (trong điều kiện có thể), vì lợi
ích của người mà mình đã đại diện. Với tính chất của việc ủy quyền vừa được thể hiện ở
trên thì những quan hệ được xác lập với người thứ ba từ công việc được thực hiện theo
hợp đồng ủy quyền sẽ là những quan hệ trực tiếp giữa người ủy quyền và người thứ ba,
những hệ quả về tài sản của công việc được thực hiện theo hợp đồng ủy quyền sẽ ràng
buộc sản nghiệp của người ủy quyền chứ không phải sản nghiệp của người được ủy
quyền. Vả lại, nếu muốn về mặt lý thuyết người ủy quyền theo hợp đồng có thể trực tiếp
xác lập giao dịch với người thứ ba mà không cần đến vai trò của người được ủy quyền,

nhau giữa môi giới mua bán nhà đất và ủy quyền trong quan hệ mua bán nhà đất mà chỉ
nêu những điểm khác nổi bậc giữa hai loại giao dịch này, là do đã được trình bày khá rõ ở
phần đặc điểm của hợp đồng ủy quyền. Hiện nay dịch vụ mua bán nhà đất phát triển một
cách tự phát theo sự phát triển của kinh tế thị trường và đô thị hóa, nhưng cho đến nay,
còn chưa phổ biến lắm so với dịch vụ môi giới mua bán nhà đất. Nhìn chung trong khung
cảnh của luật thực định, dịch vụ mua bán nhà đất chịu sự chi phối của chế định chung về
hợp đồng ủy quyền, bởi vì suy cho cùng thì người làm dịch vụ mua bán nhà đất cũng chỉ
đóng vai trò của một người được ủy quyền mà thôi. Cụ thể công việc mà người làm dịch
vụ mua bán nhà đất phải làm là được sự ủy quyền từ người được đại diện và phải nhân
danh người này, vì lợi ích của họ mà thực hiện.
Ví dụ: Những người có đất muốn bán sẽ thông qua các cá nhân hoặc tổ chức
chuyên làm dịch vụ để tìm kiếm và giới thiệu người đến mua đất, khi này các cá nhân hay
tổ chức làm dịch vụ sẽ đóng vai trò như người được ủy quyền còn những người có đất
muốn bán sẽ có vai trò là người ủy quyền.
1.3.2 Ủy quyền quản lý tài sản
Có thể hiểu ủy quyền là việc giao cho một người khác thay mặt mình sử dụng
quyền mà mình có được một cách hợp pháp, để làm các công việc mà mình yêu cầu. Ủy
quyền quản lý tài sản là việc quản lý theo đó, người ủy quyền giao cho người được ủy
quyền một hoặc một khối tài sản mà mình có quyền sở hữu để người sau này thay người
ủy quyền và nhân danh người ủy quyền quản lý tài sản (hoặc khối tài sản) đó. Việc ủy
quyền quản lý tài sản thường có đối tượng là một hoặc nhiều bất động sản.15
Người được ủy quyền quản lý tài sản có những quyền và nghĩa vụ được xác định
trong hợp đồng ủy quyền. Thông thường người này có quyền xác lập và thực hiện tất cả
các giao dịch mang tính chất quản trị tài sản, kể cả cho thuê, thu tiền thuê và cho thuê
tiếp. Nhưng người được ủy quyền quản lý tài sản không có quyền để định đoạt tài sản, trừ
trường hợp quyền định đoạt được ghi nhận một cách rành mạch trong hợp đồng ủy
quyền. Những tính chất trên đã khiến cho hợp đồng ủy quyền quản lý tài sản trở nên rất
đặc biệt, bởi lẽ đối tượng của loại hợp đồng này là một hoặc nhiều bất động sản, hơn nữa
có thể thấy người được ủy quyền gần như có đầy đủ các quyền của chủ sở hữu, chỉ trừ
quyền định đoạt. Trong khi đó với đặc điểm chung của hợp đồng ủy quyền được pháp

hạn do chủ sở hữu xác định.”
Người được uỷ quyền quản lý tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài
sản được giao theo căn cứ về thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 BLDS hiện
hành”.16 Như vậy, mặc dù ông C đã chiếm hữu ngôi nhà của ông D đã hơn 30 năm nhưng
theo quy định của pháp luật ông C là người đã được ông D uỷ quyền quản lý ngôi nhà đó
nên ông C không thể trở thành chủ sở hữu đối với ngôi nhà đó theo căn cứ về thời hiệu
nêu trên.
1.3.3 Đại diện cho thương nhân
Ở Việt Nam, đại diện trong lĩnh vực thương mại là một vấn đề pháp lý tương đối
mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn. Theo đó Đại diện thương mại là hình thức đại diện
theo ủy quyền, bên nhận ủy quyền sẽ thay mặt cho bên ủy quyền thực hiện các hoạt động
thương mại trong phạm vi ủy quyền. Các hoạt động trong đại diện thương mại có thể là
đại diện đàm phán, ký kết hợp đồng; đại diện kiểm tra giám sát quá trình thực hiện hợp
đồng. Về định nghĩa, Điều 139 BLDS 2005 quy định: “đại diện là việc một người (sau
đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người
được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.”

16

Điều 185 Bộ luật Dân sự 2005.

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

- 13 -

SVTH: Phạm Thị Kiều


“Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận ủy nhiệm (gọi là bên đại
diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động với


Khoản 2 Điều 144 Luật Thương mại 2005: “Trường hợp không có thỏa thuận, thời hạn đại diện chấm dứt khi bên
giao đại diện thông báo cho bên đại diện về việc chấm dứt hợp đồng đại diện hoặc bên đại diện thông báo cho bên
giao đại diện về việc chấm dứt hợp đồng.”
17

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

- 14 -

SVTH: Phạm Thị Kiều


đây chúng ta lần lượt đi tìm những điểm giống và khác giữa hợp đồng ủy quyền và hợp
đồng dịch vụ.
“Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ
thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho
bên cung ứng dịch vụ.”18
“Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có
nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù
lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.”19
Dựa vào hai khái niệm trên có thể dễ dàng nhận thấy điểm giống nhau cơ bản nhất
giữa hợp đồng ủy quyền và hợp đồng dịch vụ chính là sự thỏa thuận và đối tượng của hợp
đồng. Cả hai hợp đồng đều được xác lập dựa vào sự thỏa thuận giữa các bên, không bị ép
buộc, nếu các bên không thỏa thuận thống nhất ý chí với nhau thì hợp đồng sẽ không tồn
tại. Bên cạnh đó về phần đối tượng thì cả hai hợp đồng trên đều có đối tượng là công việc
phải làm. Người làm dịch vụ và người được ủy quyền đều thực hiện một công việc theo
yêu cầu của người giao kết hợp đồng và đều có quyền hưởng thù lao khi công việc được
giao đã hoàn thành theo đúng như trong hợp đồng đã giao kết.
Về điểm khác nhau mặc dù người làm dịch vụ hay người được ủy quyền đều được

không được lập dưới hình thức văn bản, thì dễ dẫn đến trường hợp người được ủy quyền
sẽ vượt quá phạm vi đại diện, nhưng người gánh chịu những hậu quả pháp lý do việc thực
hiện công việc lại là người được đại diện, trong khi đó người làm dịch vụ khi thực hiện
công việc phải nhân danh mình, nên họ sẽ là người phải gánh chịu hậu quả pháp lý nếu
như tự mình làm sai công việc.
Song song đó đối với hợp đồng dịch vụ thì người thuê dịch vụ không bị ràng buộc
bởi các giao dịch do người làm dịch vụ xác lập với người thứ ba nhằm thực hiện công
việc đã thỏa thuận với người thuê dịch vụ, ngược lại người được đại diện bị ràng buộc
bởi các giao dịch mà người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba. Đồng thời người
ủy quyền phải thanh toán cho người được ủy quyền các chi phí hợp lý mà người sau này
đã bỏ ra để thực hiện công việc theo hợp đồng ủy quyền, trong khi người thuê dịch vụ,
ngoài tiền công, không phải trả cho người làm dịch vụ khoản tiền gì khác.
Một điểm khác biệt nữa giữa hợp đồng dịch vụ và hợp đồng ủy quyền là người ủy
quyền, người được ủy quyền có thể đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng ủy quyền
theo ý mình, nếu quyết định đơn phương đình chỉ hợp đồng là của người ủy quyền, đối
với trường hợp ủy quyền có thù lao thì người ủy quyền phải trả cho người được ủy quyền
một khoản thù lao, tương ứng với công việc mà bên được ủy quyền đã thực hiện cũng
như bồi thường thiệt hại, còn nếu quyết định đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng là
của bên ủy quyền thì đương nhiên bên được ủy quyền sẽ mất khoản thù lao mà đáng lẽ ra
mình được nhận. Trong khi người làm dịch vụ, người thuê dịch vụ chỉ có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ trong trường hợp nếu việc tiếp tục duy trì hợp đồng
không mang lại lợi ích cho mình. Khác với người làm dịch vụ, người được ủy quyền
không được phép ủy quyền lại mà không có sự đồng ý của người ủy quyền, nhưng người
làm dịch vụ sẽ có được quyền năng này, ví dụ người làm dịch vụ gia công có quyền giao
kết hợp đồng gia công thứ cấp mà người đặt gia công không có quyền phản đối, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Đồng thời hợp đồng ủy
quyền chấm dứt khi người ủy quyền hoặc người được ủy quyền chết, nhưng hợp đồng
dịch vụ không nhất thiết chấm dứt khi người thuê dịch vụ chết.
1.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu hợp đồng ủy quyền
Đứng trước nhu cầu xã hội phát sinh từ các giao dịch dân sự thông qua hợp đồng

càng phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu của các quan hệ xã hội trong nước được diễn
ra thuận lợi nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển các mối quan hệ xã hội có tính quốc tế
trong giai đoạn hội nhập.
Tóm lại, từ những ý nghĩa trên cho thấy việc nghiên cứu hợp đồng ủy quyền có ý
nghĩa trong thực tiễn cũng như lý luận hết sức to lớn, nó thể hiện những quan điểm cơ
bản nhất của nhà nước trong điều chỉnh các quan hệ pháp luật tư, thiết lập các nguyên tắc
quan trọng nhất cho các mối quan hệ trong đời sống dân sự, đồng thời xác lập các quy tắc
điều chỉnh cho quan hệ dân sự phát sinh, đồng thời là một trong những tiền đề quan trọng
đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ các quan hệ xã hội trong đời sống, đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay nhất là trong giai đoạn hội nhập.
1.6 Lịch sử hình thành và phát triển của chế định hợp đồng ủy quyền trong hệ
thống pháp luật Việt Nam
Giai đoạn từ thế kỉ XV đến thời Pháp thuộc
Trong giai đoạn nhà nước phong kiến, Luật Dân sự Việt Nam không được tách ra
thành một bộ luật riêng mà được tìm thấy trong các điều khoản của các bộ luật phong
kiến như Lê Triều hình Luật (Luật Hồng Đức), Nguyễn Triều hình Luật (Hoàng Việt
Luật lệ), do đó không thấy quy định về việc chủ sở hữu ủy quyền định đoạt tài sản mặc
dù có những bước phát triển trong quy định về sở hữu. Bên cạnh đó trong giai đoạn này

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

- 17 -

SVTH: Phạm Thị Kiều


pháp luật thời Lê, thời Nguyễn đã có quy định cụ thể về khế ước như khế ước mua bán,
khế ước vay nợ, khế ước cho thuê động sản, bất động sản mà không có quy định về khế
ước ủy quyền. Đến khi người Pháp chiếm đóng Việt Nam thì các bộ luật dân sự được áp
dụng riêng rẽ ở ba kỳ lần lượt xuất hiện. Ví dụ ở Nam Kỳ thì bộ luật dân sự Nam Kỳ giản

Bộ Tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến
thời Pháp thuộc, NXB Chính trị quốc gia, 1998.
20

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

- 18 -

SVTH: Phạm Thị Kiều



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status