TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
---
---
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỤI
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giáo viên hướng dẫn:
Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Bộ môn luật Tư pháp
Sinh viên thực hiện:
Hà Thái Thơ
MSSV: 5062288
Lớp Tư pháp 1 – K32
CẦN THƠ – 11/2009
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................................. 3
2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................................ 4
2.3.2. Quyền và nghĩa vụ của người chơi hụi .................................................................... 38
2.3.2.1. Quyền và nghĩa vụ của chủ hụi............................................................................. 38
2.3.2.2. Quyền và nghĩa vụ của thành viên........................................................................ 44
2.3.3. Chấm dứt hợp đồng góp hụi .................................................................................... 47
2.4. Tranh chấp hụi và hướng giải quyết các tranh chấp về hụi ........................................ 51
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
1
SVTH: Hà Thái Thơ
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.4.1. Đối với các giao dịch về hụi diễn ra trước ngày Nghị định 144 có hiệu lực (ngày
22-12-2006) ...................................................................................................................... 51
2.4.2. Đối với các giao dịch về hụi diễn ra từ ngày Nghị định 144 có hiệu lực (ngày 2212-2006)
...................................................................................................................... 53
2.4.3. Về thời hiệu khởi kiện.............................................................................................. 55
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CÁC GIAO DỊCH VỀ
“HỤI” ................................................................................................................................ 57
3.1. Thực trạng giao dịch về hụi trong giai đoạn hiện nay ................................................ 57
3.1.1. Tình hình thực tiễn................................................................................................... 57
3.1.2. Vướng mắc trong các giao dịch về “hụi”................................................................. 60
3.2. Một số ý kiến đề xuất hoàn thiện quy chế pháp lý về hụi........................................... 66
3.2.1. Một vài lưu ý khi tham gia các giao dịch về “hụi” .................................................. 66
3.2.2. Bổ sung các quy định về chủ hụi chuyên nghiệp..................................................... 67
3.2.3. Quản lý các giao dịch về hụi.................................................................................... 67
3.2.4. Tăng nghĩa vụ cho các thành viên............................................................................ 68
3.2.5. Quy định cách tính lãi và lãi suất dễ áp dung .......................................................... 68
giao dịch đặc biệt này đã tạo ra tác dụng tích cực trong việc phát triển giao dịch dân sự,
tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong xã hội dân sự huy động vốn phục vụ cho các
mục đích tiêu dùng, mở rộng sản xuất của mình, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Bên
cạch tác dụng tích cực đó thì “công nghệ giựt hụi” cũng ngày càng phát triển với nhiều
thủ đoạn của chủ hụi như dựng hụi giả (không cho hụi viên bỏ hụi, hốt hụi) hoặc mạo
danh ai đó bỏ hụi cao để hốt sau đó “xù” luôn. Thấy lãi suất quá cao, người dân cả tin hùn
vốn vào các "chiêu bài" do những chủ hụi tung ra như: tiền tiết kiệm, tiền vay từ tín dụng
đen, tiền từ đền bù giải phóng mặt bằng… Nhiều người còn liều lĩnh thế chấp nhà, đất, tài
sản có giá trị cho ngân hàng để vay vốn nộp cho chủ hụi để cầm về một tờ giấy nợ viết tay
“nguệch ngoạc”. Và rồi, khi tạo dựng được một cớ nhỏ, các chủ hụi tuyên bố… vỡ hụi.
Dẫn đến hậu quả dây chuyền, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân của cả một khu vực. Có
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
3
SVTH: Hà Thái Thơ
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
rất nhiều người chỉ vì chơi hụi và tin tưởng vào chủ hụi mà sa vào cảnh trắng tay, tan cửa
nát nhà cũng vì hụi.
Hụi hiện nay được xem là một vấn đề nóng bỏng trong xã hội. Chính vì lẽ đó tìm
hiểu và phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn
giao dịch về hụi, rút ra các điểm hạn chế trong giao dịch về hụi từ đó đưa ra một số kiến
nghị và giải pháp để hoàn thiện các giao dịch về hụi, hạn chế các tranh chấp liên quan,
đảm bảo bình đẳng, công bằng và trật tự xã hội trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới.
Đây cũng chính là lý do để tác giả chọn đề tài: những quy định của pháp luật về “hụi”,
lý luận và thực tiễn.
chiếu, kết hợp giữa lý luận và thực tiển để giải quyết vấn đề.
5. Kết cấu đề tài
Đề tài kết cấu gồm ba chương, trong đó từng chương như sau:
Chương 1. Các vấn đề chung về “hụi”.
Chương 2. Những quy định của pháp luật về “hụi”
Chương 3. Thực trạng và đề xuất hoàn thiện các giao dịch về “hụi”
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô khoa Luật và giáo viên hướng
dẫn đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này.
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
5
SVTH: Hà Thái Thơ
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ “HỤI”
1.1.
Lịch sử hình thành hụi ở Việt Nam
Họ, hụi, biêu, phường là các tên gọi khác nhau của một hình thức giao dịch về tài
sản theo tập quán, tồn tại từ rất lâu và khá phổ biến ở Việt Nam. Ở miền Bắc thường gọi
là họ, ở miền Nam gọi là hụi, còn miền Trung thì hay gọi là biêu, là phường. Văn hoá bản
địa Việt Nam là văn hoá nông nghiệp trồng lúa nước. Điểm đặc trưng của nền văn hoá
bản địa này là sự bảo tồn lâu dài các công xã nông thôn (làng xã) và tinh thần cộng đồng
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
tục lệ cùng khế ước của người đương sự lập ra”. Hay “thể lệ luật này nếu không trái gì
với luật lệ hay tục riêng về thương mại, thời cũng đem thi hành với hội buôn. Đối với
những hội để dành tiền và những hội cho vay lẫn nhau như chơi họ cũng vậy” (Điều 1435
Bộ Hoàng việt Trung kỳ hộ luật 1936-1939). Hụi vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển cho đến
ngày nay, với những biến tướng mới có lúc đã bộc lộ những ảnh hưởng tiêu cực như lừa
đảo, cho vay nặng lãi. Vì thế có lúc nhà nước ta muốn xóa bỏ loại giao dịch này. Tại
Thông báo số 2590/PPLT ngày 10/8/1990 của Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng đã coi hoạt
động chơi hụi như là một tệ nạn xã hội, nên trong Thông báo nói trên có đoạn viết “trong
tình hình hiện nay nghiêm cấm tất cả các tổ chức và mọi công dân tham gia chơi hụi, họ
dưới mọi hình thức. Bất cứ tổ chức cá nhân nào tham gia chơi hụi, họ thì tùy theo lỗi
nặng nhẹ mà xử lý hành chính hoặc truy tố trước pháp luật”. Tuy nhiên, đến năm 1992,
tại Thông tư liên ngành số 04/TTLN ngày 08/8/1992 của Toà án nhân dân tối cao và Viện
kiểm sát nhân dân tối cao lại hướng dẫn không được coi nợ hụi là những giao dịch bất
hợp pháp để không thụ lý và giải quyết mà phải coi đây là một loại giao dịch dân sự về
vay tài sản. Văn bản trên khẳng định rõ: "1/ Khi có tranh chấp về nợ hụi thì tòa án cần coi
đó là một loại tranh chấp về vay nợ và phải thụ lý, giải quyết các tranh chấp về nợ hụi. 2/
Khi giải quyết các tranh chấp về nợ hụi, tòa án chỉ buộc người nợ phải trả lại cho người
đòi nợ phần vốn gốc (tức nợ gốc) mà không buộc người nợ phải trả cho người đòi nợ một
khoản lãi nào". Thông tư này được áp dụng cho đến khi Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực.
Sau khi Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực thi hành, ngày 05/7/1996 TANDTC ra thông báo
số 38/KHXX "Về việc hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực thi hành, sửa đổi, bổ sung và ban hành
mới các quy định pháp luật dân sự theo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật
Dân sự". Theo điểm 4 mục I của thông báo này thì: "Thông tư liên ngành số 04/TTLN
ngày 08/8/1992 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn
giải quyết các tranh chấp về nợ hụi không còn hiệu lực thi hành để giải quyết các tranh
chấp về nợ hụi phát sinh từ ngày 01/7/1996". Để hướng dẫn việc giải quyết tranh chấp về
nợ hụi, Tòa án nhân dân tối cao đã lần lượt ban hành công văn số 49/KHXX ngày
nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân theo quy định của Nghị định này và các văn bản
pháp luật có liên quan được pháp luật bảo vệ.
Tóm lại, trong lịch sử hình thành pháp luật dân sự Việt Nam, hụi cũng song song
tồn tại, tuy nhiên trong một khoảng thời gian khá dài (từ 01/7/1996 đến 01/01/2006) nó
không được thừa nhận, mãi đến khi Bộ luật dân sự 2005 ra đời nó mới được coi là hợp
pháp, có thể nói đây là một tiến bộ rất lớn của Bộ luật dân sự mới, điều chỉnh kịp thời mối
quan hệ này. Hiện nay, giao dịch về hụi đã được nhà nước thừa nhận là một giao dịch dân
sự hợp pháp nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân để giải quyết khó khăn. Từ đây trở
đi những người chơi hụi đã chính thức có một hành lang pháp lý cho sân chơi riêng của
mình.
1.2.
Một vài điểm mới trong Bộ Luật dân sự 2005 liên quan đến hợp đồng
góp “hụi”
Qua gần 10 năm thi hành, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995 đã góp phần to lớn
vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ dân sự, góp phần
giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển. Tuy nhiên với xu thế hội
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
9
SVTH: Hà Thái Thơ
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
nhập cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong nước và thế giới, các quy định trong
BLDS 1995 đã trở nên bất cập. Vì vậy Quốc hội nước ta đã tiến hành sửa đổi và thông
qua BLDS vào ngày 14/6/2005 và có hiệu lực vào ngày 01/01/2006. Với mong muốn tìm
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
“1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.
2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại
khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống”.
Khác với quy định tại Điều 48 BLDS 1995, các nhà làm luật xác định nơi cư trú
của cá nhân còn phụ thuộc vào yếu tố hộ khẩu, quy định này mang tính hành chính và
không phù hợp với quyền tự do đi lại, tự do cư trú được quy định tại Điều 68 Hiến pháp
năm 1992 và Điều 44 BLDS 1995. Bên cạnh đó BLDS 1995 còn quy định các vấn đề hộ
tịch và đăng ký hộ tịch từ Điều 54 đến Điều 66. Đây thực chất là các quan hệ hành chính
do pháp luật hành chính điều chỉnh. Do đó các nhà làm luật đã loại bỏ những quy định
này trong BLDS sửa đổi, bổ sung năm 2005. Tuy nhiên, nếu cá nhân dễ dàng thay đổi nơi
cư trú như vậy lại có tác dụng tiêu cực đối với những người chơi hụi. Khi họ cố ý muốn vi
phạm các nghĩa vụ của người chơi hụi thì họ chỉ cần thay đổi chổ ở để trốn tránh thực
hiện nghĩa vụ, gây khó khăn cho người có quyền trong việc đòi lại lợi ích của mình.
Thứ ba: Về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Trong chương giao dịch dân sự (GDDS), tại Điều 122 BLDS 2005 chỉ quy định 3
điều kiện có hiệu lực của GDDS chứ không quy định 4 điều kiện như BLDS 1995. Cụ thể
là BLDS 2005 đã bỏ điều kiện về hình thức của giao dịch. BLDS 2005 quy định hình thức
của GDDS là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.
Với quy định này, BLDS 2005 đã góp phần hạn chế trong việc tuyên bố GDDS vô hiệu
đối với những giao dịch có nội dung và mục đích phù hợp quy định của pháp luật, phù
hợp với ý chí đích thực của các bên nhưng có vi phạm về hình thức; qua đó cũng hạn chế
những người không có thiện chí viện dẫn sự vi phạm về hình thức của giao dịch mà yêu
cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu. Quy định này thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng tự do ý chí
của các bên. Và điều kiện về nội dung và mục đích cũng có sự thay đổi cơ bản. Nếu như
BLDS 1995 quy định nội dung và mục đích không trái quy định pháp luật và đạo đức xã
hội thì BLDS 2005 lại quy định không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã
hội. Quy định này tôn trọng nguyên tắc hiến định công dân được làm những gì pháp luật
còn là một biện pháp bảo đảm nữa mà đã được đưa vào phần nội dung của hợp đồng. Các
bên có thể thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng như là một biện pháp chế tài; quy định
bảo lãnh bằng tín chấp đã trở thành một biện pháp bảo đảm cụ thể có đặc thù khác biệt so
với các biện pháp khác nói chung và biện pháp bảo lãnh nói riêng.
Các biện pháp cầm cố và thế chấp cũng có sự thay đổi cho đúng với bản chất của
chúng. BLDS 1995 quy định việc cầm cố được thực hiện bằng động sản, thế chấp được
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
12
SVTH: Hà Thái Thơ
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
thực hiện bằng bất động sản. Như vậy, tiêu chí để phân biệt hai biện pháp này cơ bản căn
cứ vào động sản và bất động sản. BLDS sửa đổi, bổ sung đã không sử dụng tiêu chí trên
mà căn cứ vào cách thức thực hiện và xác định rủi ro. Cầm cố tài sản là việc một bên giao
tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia, còn thế chấp tài sản là việc một bên
dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiên nghĩa vụ mà không phải chuyển
giao tài sản. Với quan điểm tôn trọng sự tự do ý chí nhằm thúc đẩy các giao lưu dân sự
phát triển, BLDS 2005 còn quy định bên cầm cố, thế chấp được bán tài sản đó nếu được
bên nhận cầm cố, thế chấp đồng ý; được bán tài sản thế chấp nếu tài sản đó là hàng hóa
luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Đây là những quy định tạo ra sự thông
thoáng cho các bên và phù hợp với nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng.
Trong chế định giao kết hợp đồng, các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng cũng
được quy định cụ thể hơn về thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực (Điều 391),
thời điểm chấm dứt đề nghị (Điều 394). Đặc biệt Điều 401 quy định hình thức của hợp
đồng có thể được giao kết bằng lời nói, văn bản, hành vi cụ thể và không bị vô hiệu trong
trường hợp có vi phạm về hình thức trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong cuộc sống hằng ngày, để giải quyết khó khăn tạm thời về kinh tế; đặc biệt
đối với những gia đình túng thiếu cần vốn để sản xuất, kinh doanh phải vay mượn tiền
vàng của người khác, như vậy vay mượn là những phương tiện pháp lý để thỏa mãn nhu
cầu đó. Nhà nước đã tạo điều kiện cho nhân dân vay vốn ngân hàng với mức lãi suất phù
hợp, các hộ nông dân nghèo có thể phát triển sản xuất, kinh doanh. Mặc khác, nhân dân
vay, mượn của nhau để tiêu dùng cho những việc cần thiết trong gia đình hoặc để kinh
doanh là việc phổ biến và có ý nghĩa cần được Nhà nước khuyến khích. Vì vậy, Bộ luật
dân sự 2005 quy định về hợp đồng vay tài sản như sau:
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài
sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại
theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
(Điều 471).
1.3.1.2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng đơn vụ
Xét về nguyên tắc, hợp đồng cho vay là đơn vụ đối với những trường hợp vay
không có lãi suất, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải hoàn trả vật cùng loại
tương ứng với số lượng, chất lượng của tài sản cho bên cho vay. Bên cho vay không có
quyền đối với bên cho vay. Tuy nhiên, đối với hợp đồng cho vay có lãi suất thì bên vay có
nghĩa vụ chuyển tiền đúng thời hạn, nếu vi phạm phải chịu trách nhiệm dân sự.
Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
14
SVTH: Hà Thái Thơ
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
SVTH: Hà Thái Thơ
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trường hợp hết thời hạn hợp đồng mà bên cho vay không trả nợ thì phải chịu trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng. Nếu là vay có lãi thì bên vay còn phải trả lãi trên nợ gốc và
lãi quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn
vay tại thời điểm trả nợ. Nếu vay không có lãi thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ
chậm trả lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn
chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thỏa thuận (khoản 4 Điều 474).
1.3.3. Hình thức của hợp đồng vay tài sản
Hình thức của hợp đồng vay tài sản có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản. Hình
thức miệng thường được áp dụng trong những trường hợp như giá trị tài sản cho vay
không lớn hoặc giữa các bên có mối quan hệ thân quen. Trường hợp cho vay bằng miệng,
nếu xảy ra tranh chấp hợp đồng, bên cho vay phải chứng minh được là mình đã cho vay
được một số tiền hoặc một số tài sản nhất định. Trong thực tế, nếu hình thức của hợp
đồng vay bằng miệng mà có tranh chấp thì rất khó xác định quyền và nghĩa vụ giữa các
bên. Để làm cơ sở pháp lý cho hợp đồng vay tài sản các bên cần ký kết hợp đồng bằng
văn bản. Các bên có thể tự lập văn bản hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác
nhận văn bản đó.
1.3.4. Lãi suất và lãi trong hợp đồng vay tài sản
Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản là khoản tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả
thêm vào số tài sản hoặc số tiền đã vay tính theo đơn vị thời gian. Lãi suất thường được
tính theo tuần, tháng hoặc năm do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào lãi suất, số tiền cho vay và thời hạn vay mà bên vay phải trả số tiền nhất định
(tiền lãi). Số tiền này tỉ lệ thuận với lãi suất, số tiền đã vay và thời hạn cho vay.
Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản do các bên thỏa thuận, nếu các bên không thỏa
thuận hoặc pháp luật không có quy định thì hợp đồng vay không có lãi suất. Nếu các bên
có thỏa thuận về lãi suất thì không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước
phải tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng đã ký kết. Phải trả tiền
hoặc tài sản đã và tiền lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Nếu đối tượng
của hợp đồng là tài sản cùng loại. Nếu hợp đồng cho vay không kì hạn, khi bên cho vay
yêu cầu trả nợ thì phải thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận. Bên vay cũng có thể thực hiện
hợp đồng vào bất cứ thời gian nào. Thời điểm này được coi là thời điểm chấm dứt hợp
đồng cho vay không kì hạn. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về mục đích vay,
bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản của bên vay có đúng mục đích không.
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
17
SVTH: Hà Thái Thơ
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Nếu sử dụng tài sản không đúng mục đích thỏa thuận, bên vay có quyền hủy hợp đồng
(Điều 475 BLDS).
Nếu hợp đồng có kì hạn mà bên cho vay trả nợ trước kì hạn thì phải trả toàn bộ nợ
gốc và lãi của thời hạn vay trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Bởi vì khi cho vay,
bên cho vay đã xác định trong thời gian cho vay đó không sử dụng tài sản, tiền vào mục
đích khác, do vậy khi trả lại tài sản thì bên cho vay chưa có kế hoạch sử dụng tài sản đó.
Hay nói cách khác bên cho vay sẽ bị động khi bên cho vay trả tài sản trước thời hạn
(khoản 2 Điều 478).
1.4.
“Hụi” – hợp đồng vay tài sản đặc biệt
Họ, hụi, biêu, phường (gọi chung là hụi) là một loại giao dịch dân sự về tài sản.
hợp đồng góp hụi (dây hụi), khi đến kỳ mở hụi sẽ có người được lãnh hụi và người này
sau khi lãnh hụi phải hoàn trả lãi cho từng thành viên vào từng kỳ mở hụi tiếp theo, và
người này có thể phải trả lãi nếu tham gia vào dây hụi có lãi. Mặc khác đối tượng của hợp
đồng góp hụi là những tài sản cùng loại, sẽ được phân tích ở phần sau, nên người này
không phải trả đúng vật mà mình đã nhận. Dựa vào các điểm này ta có thể thấy rằng hụi
không phải là một hợp đồng mượn tài sản mà là một hợp đồng vay tài sản. Điều 479
BLDS không quy định về loại vay này không bắt buộc phải là một hợp đồng vay tài sản
có bảo đảm, vì vậy ta có thể suy đoán rằng đây là một giao dịch dân sự có thể thực hiện
biện pháp bảo đảm hoặc không bảo đảm, do các bên thỏa thuận. Tuy nhiên, thực tế giao
dịch cho thấy rằng đây là một giao dịch về tài sản không có bảo đảm, sự tín nhiệm lẫn
nhau là cơ sở để họ xác lập giao dịch. Họ (các thành viên) thường thì đã có sự quen biết
lẫn nhau hoặc ít ra là đã có sự quen biết với chủ hụi, nên khi tham gia vào dây hụi họ
không yêu cầu người tham gia phải có tài sản bảo đảm.
Khi đến kỳ mở hụi sẽ có người lãnh hụi và tất cả các thành viên còn lại sẽ góp hụi,
cho đến khi thành viên cuối cùng được lãnh hụi. Nếu xem xét dưới góp độ hợp đồng vay
tài sản không có lãi (hụi không có lãi) thì ta có thể thấy rằng vào mỗi kỳ góp hụi tất cả các
thành viên đều góp hụi là như nhau, do đó, tất cả các thành viên đều đóng vay trò là người
cho vay và người đi vay hay quyền và nghĩa vụ của họ là như nhau. Nếu xem xét dưới
gốc độ hợp đồng vay tài sản có lãi (hụi có lãi) thì sẽ xuất hiện ba nhóm đối tượng trong
cùng một hợp đồng:
Nhóm 1, thành viên chuyên đi vay nghĩa là người này sẽ tham gia vào dây hụi,
lãnh hụi, sau đó người này sẽ góp toàn phần hụi cơ bản3 (đóng hụi chết) để trả cho các
thành viên vào các kỳ lãnh hụi tiếp theo, thành viên này thường là người lãnh hụi đầu
3
Phần hụi này bao gồm cả lãi gốc và lãi cho thành viên đó.
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
19
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CHƯƠNG 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI”
2.1.
Khái niệm và đặc điểm pháp lý
2.1.1. Các khái niệm
Như đã phân tích ở phần trên, để thỏa mãn nhu cầu về vốn của người dân thì nhà
nước luôn có chính sách về vốn cho nhân dân thông qua các tổ chức tín dụng nhằm đảm
bảo các chính sách của Nhà nước như cho vay vốn để xây nhà, kinh doanh, phục vụ các
nhu cầu của cuộc sống… Nhưng bất lợi của phương pháp này là phải tốn nhiều thời gian
và thủ tục vay vốn phức tạp, đặc biệt đối với người dân ít chữ nghĩa và cần vốn gấp thì
đây quả là một vấn đề thực sự nan giải. Trước nhu cầu về vốn nhưng lại không muốn gặp
các khuyết điểm của việc vay vốn ở các tổ chức tín dụng nên người dân đã tìm đến các
loại hình khác ở bên ngoài như vay có kỳ hạn, vay nóng, vay trả góp, góp hụi…
¯Trong đó, vay có kỳ hạn là hợp đồng vay theo đó bên vay phải trả lại vốn cho
bên cho vay tại một thời điểm do hai bên thỏa thuận. Đối với loại vay này thì hiện nay
được áp dụng khá phổ biến đối với tài sản có giá trị lớn trên tài sản là vàng hoặc tiền, và
hợp đồng vay thường kéo dài một vài tháng, một năm hoặc có thể dài hơn và thường thì
các bên trả lãi vào cuối kỳ cùng với nợ gốc.
¯Vay nóng, một giải pháp được lựa chọn khi người vay cần một khoản vốn gấp và
có thể trả trong thời hạn nhanh chóng nhất. Có thể nói vay nóng là hợp đồng vay tài sản
có kỳ hạn rất ngắn và bên vay phải trả cho bên cho vay một khoản tiền do hai bên thỏa
thuận.
Ví dụ, A cần 10 triệu để mua gấp món hàng nào đó, nếu A không mua trong thời
hạn một ngày thì chủ hàng sẽ bán hàng cho người khác. Nhưng người được A mượn tiền
thì đến 3 ngày sau mới trả cho A. Vì vậy, giải pháp của A lúc này là đến tìm B để hỏi vay
10 triệu và sẽ trả trong thời hạn 3 ngày, hai bên đã thỏa thuận là A phải trả cho B khoản
tiền là 200 ngàn cùng với nợ gốc là 10 triệu. Như vậy, ưu điểm của loại vay này là người
Qua các khái niệm trên, một điểm lớn giúp ta nhận thấy sự khác biệt của các giao
dịch về hụi so với các loại hợp đồng vay tài sản khác, đó là, cơ sở để xác lập các giao dịch
về hụi là một nhóm người mà không phải là hai bên.
Qua tìm hiểu của của tác giả thì hầu hết những người chơi hụi đều có mục đích rõ
ràng như: huy động vốn để làm ăn, trả nợ, thậm chí chữa bệnh, cưới vợ, cho con du học...
Các tiểu thương cho rằng muốn có vốn mở rộng làm ăn, họ không thể tìm đến ngân hàng
4
Kỳ hạn áp dụng thường là ngày, tuần, tháng.
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
22
SVTH: Hà Thái Thơ
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ “HỤI” – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
vì sẽ phải thế chấp tài sản mới vay được. Trong khi chơi hụi thì không cần chứng minh
nhân dân, hộ khẩu mà đến lúc cần thì hốt nhanh, lãi suất cũng không cao lắm và người
vay có thể trả dần theo từng kỳ mở hụi. Do đó hụi là cách huy động vốn khả thi nhất và
nhiều người đã khẳng định rằng tham gia hụi đã giúp họ giải quyết rất nhiều vấn đề về
vốn.
2.1.2. Đặc điểm pháp lý về “hụi”
Về bản chất thì hợp đồng góp hụi là một hợp đồng vay tài sản nên nó có tất cả các
đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, hợp đồng góp hụi cũng có những
điểm khác biệt.
Thứ nhất, về tính đơn vụ hay song vụ. Hợp đồng góp hụi là một hợp đồng dân sự
đặc biệt vừa thể hiện tính song vụ và vừa thể hiện tính đơn vụ. Tính chất song vụ hay đơn
vụ của hợp đồng góp hụi được thể hiện thông qua thể thức góp hụi. Nghị định 144 quy
như thế nào? Vấn đề này cần được phân tích phân tích một cách sâu hơn từ phía các nhà
chuyên môn. Tuy nhiên, theo ý kiến của người viết cho rằng: để giải quyết vấn đề này
chúng ta nên phân tích hợp đồng góp hụi thành hai phần: phần một là thỏa thuận giữa
những thành viên với nhau, phần hai là thỏa thuận giữa chủ hụi và thành viên. Với cách
phân tích này chúng ta có thể xác định rằng tính chất đền bù trong hợp đồng góp hụi có
thể có những trường hợp sau:
Trường hợp 1: Chỉ mang tính đền bù nếu cả phần một và phần hai đều mang tính
chất đền bù;
Trường hợp 2: Chỉ mang tính không đền bù nếu cả hai phần đều không mang tính
đền bù;
Trường hợp 3: Vừa mang tính đền bù và vừa mang tính không đền bù nếu phần
một mang tính đền bù nhưng phần hai không mang tính đền bù hoặc ngược lại.
Thứ ba, tính chất của một hợp đồng thực tại. Hụi chính thức được giao kết khi
những người tham gia chơi hụi đóng góp phần hụi của mình trong kỳ mở hụi đầu tiên.
Nếu một thành viên nào đó đã thỏa thuận tham gia hụi nhưng trong kỳ mở hụi đầu tiên
người này lại không tham gia góp hụi thì xem như người đó không tham gia chơi hụi;
hoặc một người thể hiện rõ ý định đứng ra làm chủ hụi cho một dây hụi và được các thành
viên khác chấp nhận nhưng trước khi đến kỳ mở hụi đầu tiên người này lại từ bỏ ý định
làm chủ hụi thì xem như dây hụi đó chưa được tổ chức, nếu vẫn là thỏa thuận này khi đến
kỳ mở hụi các thành viên lại chọn ra một chủ hụi mới thì phải xem đây là một thỏa thuận
mới. Như vậy, trong cả hai trường hợp chủ hụi hay thành viên đều không bị ràng buộc
vào bất cứ nghĩa vụ nào.
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
24
SVTH: Hà Thái Thơ