xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 2011 – 2015

ĐỀ TÀI

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC ĐĂNG KÝ
VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH
Cán bộ hƣớng dẫn:
NGUYỄN LAN HƢƠNG

Sinh viên thực hiện:
TRỊNH THỊ MỘNG CẦM
Mã số SV: 5117372
Lớp: HG1163A1

CẦN THƠ – 12/2014


Lời cảm ơn
Trước tiên, em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Cô
Nuyễn Lan Hương, người đã tận tình hướng dẫn, đã tạo mọi
điều kiện, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
hiện luận văn tốt nghiệp. Sự hiểu biết sâu sắc về Luật hành
chính, cũng như kinh nghiệm của cô chính là tiền đề giúp em
đạt được kết quả tốt và kinh nghiệm quý báu cho em sau này.
Em xin cảm ơn chân thành đến các thầy, cô đã giảng
dạy em trong bốn năm qua, những kiến thức mà em nhận

…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Cần Thơ, Ngày........tháng........năm 2014
Giảng viên hƣớng dẫn
(ký và ghi họ tên)

3


Mục lục
MỞ ĐÀU ........................................................................................................................... 5
CHƢƠNG 1 ........................................................................ Error! Bookmark not defined.
KHÁI QUÁT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ ĐĂNG KÝ VÀ
QUẢN LÝ HỘ TỊCH ..................................................................................................... 8
1.1. Khái quát về vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch .................................................. 8
1.1.1. Khái niệm hộ tịch, đăng ký hộ tịch, quản lý hộ tịch ....................................... 8
1.1.2. Phạm vi đăng ký hộ tịch và các sự kiện hộ tịch phải đăng ký ...................... 10
1.1.3. Vị trí, vai trò, ý nghĩa của hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch................. 11
1.2. Khái quát về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ
tịch ................................................................................................................................. 12
1.2.1. Khái niệm về vi phạm hành chính và vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng
ký và quản lý hộ tịch ................................................................................................. 12
1.2.2. Đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch
................................................................................................................................... 14
1.2.3. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong

2.3.3. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan Thanh tra Tư pháp38
2.3.4. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ
quan lãnh sự, cơ quan khác được quỷ quyền chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài ............................................................... 39
2.3.5. Thẩm quyền phạt tiền đối với hành vi vi phạm của tổ chức......................... 39
4


2.4. Trình tự, thủ tục trong đăng ký và quản lý hộ tịch ........................................... 39
2.4.1. Trình tự, thủ tục đăng ký khai sinh ............................................................... 39
2.4.2. Trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn .................................................................. 43
2.4.3. Trình tự, thủ tục đăng ký khai tử................................................................... 44
24.4. Trình tự, thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi ................................................. 45
2.4.5. Trình tự, thủ tục đăng ký giám hộ ................................................................. 47
2.4.6. Trình tự, thủ tục đăng ký việc nhân cha, mẹ, con ........................................ 48
2.4.7. Trình tự, thủ tục đăng ký việc thay đổi, cải chính, bổ sung và điều chỉnh hộ tịch
................................................................................................................................... 49
2.4.8. Trình tự, thủ tục đăng ký quá hạn, đăng ký lại ............................................ 50
CHƢƠNG 3 ...................................................................................................................... 52
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH ....................................................... 53
3.1. Tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch ..... 53
3.1.1. Trong lĩnh vực đăng ký khai sinh, khai tử .................................................... 53
3.1.2. Trong lĩnh vực đăng ký kết hôn ..................................................................... 54
3.1.3. Trong lĩnh vực đăng ký nuôi con nuôi .......................................................... 55
3.2. Nguyên nhân của việc vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ
tịch ................................................................................................................................. 56
3.3. Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch
....................................................................................................................................... 59
3.4. Những bất cập trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ

tịch trong từng giai đoạn với những phương pháp và cách thức khác nhau đều đã thể
hiện rõ quan điểm, mục đích và những quy định cụ thể của Nhà nước ta về đăng ký và
quản lý hộ tịch. Tuy nhiên, do hạn chế trong quá trình nhận thức ở từng thời điểm, Nhà
nước mà trực tiếp là Chính phủ chưa bao quát hết và dự liệu được tất cả mọi vấn đề
nảy sinh trong thực tiễn đăng ký và quản lý hộ tịch cũng như xu hướng vận động của
các vấn đề hộ tịch. Nhiều sự kiện về đăng ký và quản lý hộ tịch phức tạp phát sinh ở
cơ sở không thể hoặc không được giải quyết do pháp luật chưa quy định. Những quy
định của pháp luật cũng chưa bám sát thực tiễn hoàn toàn, còn bộc lộ nhiều “kẽ hở”,
quy định đơn giản, sơ sài, không thống nhất, gây phiền hà cho người dân cũng như khó
khăn cho chính những cán bộ, công chức thừa hành khi áp dụng pháp luật.
Nhìn vào thực trạng đăng ký và quản lý hộ tịch ở Việt Nam và đặt trong sự so sánh
với các quốc gia trong khu vực, chúng ta không thể không lo ngại trước những bất cập
của thực tiễn đăng ký và quản lý hộ tịch cả về nhận thức và hành động, cả về hành
lang pháp lý , năng lực và trình độ quản lý. Mặc dù hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch
đã có quá trình phát triển đáng kể và đã có sự vận động tích cực trong những năm gần đây

6


nhưng việc quản lý “đầy đủ, chính xác, kịp thời” các thông tin hộ tịch vẫn là mục tiêu đầy
khó khăn đặt ra đối với các cơ quan quản lý Nhà nước.
Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch,
hộ khẩu có lẽ không phải là một vấn đề mới đối với các cơ quan quản lý hành chính
nhà nước nhưng sự diễn biến trong thực tiễn của hoạt động này đang chỉ ra những khó
khăn, vướng mắc nhất. Những khó khăn, vướng mắc đó xuất phát từ nhiều nguyên
nhân, cả chủ quan lẫn khách quan, với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu, để phần nào giải
thích được một số vấn đề về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực hộ tịch, tôi xin lựa
chọn đề tài “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ
tịch” làm luận văn tốt nghiệp.


Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 158/2005/NĐ-CP thì đăng ký hộ tịch
được hiểu là hành vi xác nhận các sự kiện hộ tịch và hành vi ghi vào sổ đăng ký hộ tịch
các thay đổi về hộ tịch. Cụ thể quy định như sau:

1

Vũ Văn Mẫu, Lê Đình Chân - Danh từ tài liệu dân Luật và Hiến Luật, Tủ sách đại học Sài gòn, 1968.
Điều 1, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP.
3
Nghị định này thay thế cho Nghị định số 83 ngày 10/10/1998.
2

8


Đăng ký hộ tịch theo quy định của Nghị định này là việc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền:
Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ,
con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định
lại dân tộc;
Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch
các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp
luật; chấm dứt nuôi con nuôi.
Theo quy định trên thì hành vi đăng ký hộ tịch được phân thành 2 loại hành vi cơ
bản sau: Hành vi xác nhận các sự kiện hộ tịch và hành vi ghi vào sổ đăng ký hộ tịch các
thay đổi về hộ tịch. Xác nhận là việc cơ quan đăng ký hộ tịch ghi các sự kiện hộ tịch
vào Sổ đăng ký hộ tịch gốc và cấp cho đương sự Giấy chứng nhận về các sự kiện đó.
Còn hành vi ghi là việc cơ quan đăng ký hộ tịch ghi chú vào Sổ đăng ký hộ tịch các
thay đổi về hộ tịch như ly hôn, xác định cha, mẹ, con, thay đổi quốc tịch, mất tích, mất
năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, huỷ hôn nhân trái pháp luật,

Phạm vi đăng ký hộ tịch bao gồm: đăng ký khai sinh; đăng ký khai tử; đăng ký kết
hôn; đăng ký nuôi con nuôi; đăng ký việc giám hộ; đăng ký việc nhận cha, mẹ, con;
đăng ký các việc thay đổi, cải chính hộ tịch, ghi vào sổ các thay đổi hộ tịch khác. Phạm
vi của quản lý hộ tịch bao gồm cả đối tượng là công dân Việt Nam, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài có những quan hệ hộ tịch thuộc phạm
vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam
Bất kỳ một sự kiện hộ tịch nào kể trên cũng đều phải được đăng ký tại cơ quan có
thẩm quyền của nhà nước. Đối với những thay đổi hộ tịch trên cơ sở quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, thì không phải thực hiện việc
đăng ký mà cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch sẽ thực hiện việc ghi vào sổ nội
dung các thay đổi hộ tịch. Các thay đổi hộ tịch thường bao gồm các việc về ly hôn; xác
định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; mất tích; mất năng lực hành vi dân sự; hủy hôn
nhân trái pháp luật; hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Đối với một số sự kiện, nếu đã đăng ký nhưng có yêu cầu thay đổi, cải chính thì cá
nhân vẫn phải thực hiện thủ tục đăng ký việc thay đổi, cải chính đó. Việc đăng ký thay
đổi, cải chính hộ tịch được áp dụng đối với việc thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính
họ, tên, chữ đệm, ngày tháng năm sinh; xác định lại dân tộc.
Đối với các
việc sinh, tử chưa đăng ký trong trong thời hạn luật định, thì pháp luật cũng bắt buộc
cá nhân, tổ chức phải thực hiện việc đăng ký theo thủ tục đăng ký quá hạn, bất kể thời
gian quá hạn kéo dài bao lâu. Đối với các việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi đã
được đăng ký, nhưng bản chính và sổ gốc đã bị mất hoặc hư hỏng, thì cá nhân, tổ chức
có thể thực hiện thủ tục đăng ký lại.
1.1.2.2. Các sự kiện hộ tịch phải đăng ký
Theo quy định của pháp luật thì sự kiện hộ tịch phải đăng ký bao gồm các sự kiện
sau:
Đăng ký khai sinh: Cha, mẹ, hoặc người thân thích, người có trách nhiệm phải đi
đăng ký khai sinh cho trẻ em để bảo đảm việc đăng ký khai sinh cho trẻ được kịp thời
và đầy đủ theo pháp luật hộ tịch quy định. Nếu quá thời hạn quy định, thì cũng phải
đăng ký khai sinh theo thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn.

1.1.3. Vị trí, vai trò, ý nghĩa của hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch
Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của
chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động của cộng đồng dân cư
nói chung và của từng cá nhân nói riêng thì Nhà nước mới có thể đưa ra được các biện
pháp đúng đắn và phù hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cũng như
để quản lý Nhà nước và xã hội. Các số liệu thống kê về hộ tịch là một trong những căn
cứ chủ yếu để Nhà nước thống kê và phân tích dân cư, nghiên cứu khoa học, hoạch
định các chính sách về an ninh quốc phòng, dân số - kế hoạch hoá gia đình, các chính
sách phát triển kinh tế - xã hội.
Nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của công tác đăng ký và quản lý hộ tịch
mà trong 7 năm qua từ khi thực hiện Nghị định 158/2005/NĐ-CP đã có nhiều chuyển
4
5

Khoản 1, Điều 32 Nghị định 158/ 2005/NĐ-CP.
Khoản 4, Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010.

11


biến tích cực, các sự kiện đăng ký hộ tịch của nhân dân cơ bản được thực hiện kịp thời
và đúng quy định của pháp luật; công tác phổ biến giáo dục pháp luật về hộ tịch được
chú trọng triển khai đến tận cơ sở. Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về hộ tịch
của nhân dân được nâng lên; đội ngủ cán bộ làm công tác hộ tịch cơ sở được quan tâm,
củng cố về số lượng và kỹ năng thực hiện nghiệp vụ; các loại sổ sách, biễu mẫu hộ tịch
được hỗ trợ và cung cấp kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước.
Đăng ký hộ tịch cũng là căn cứ pháp lý để mỗi cá nhân hưởng các quyền và thực
hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước. Đồng thời để phân biệt cá nhân này với cá
nhân khác thông qua các yếu tố về nhân thân của họ. Thông qua việc đăng ký hộ tịch,
thể hiện sự xác nhận của Nhà nước đối với các sự kiện hộ tịch và Nhà nước có trách

cảnh. Từ sau ngày 30/11/1989 đến khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được ban
hành ngày 6/7/1995 thì hành vi này được gọi là vi phạm hành chính. Trong Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính 1995 cũng như Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002
không đưa ra khái niệm vi phạm hành chính mà chỉ đưa ra khái niệm xử lý vi phạm
hành chính, bao gồm:
- Xử phạt vi phạm hành chính;
- Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính khác.6
Đến khi Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 ra đời thì mới có khái niệm một
cách cụ thể và rõ ràng về vi phạm hành chính. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật
xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá
nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà
không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành
chính.
Ví dụ: Chị C đi xe gắn máy và vượt đèn đỏ của đèn tín hiệu giao thông khi qua
ngã tư vì sợ trễ giờ làm. Hành vi vượt đèn đỏ của chị C là hành vi vi phạm hành chính
về an toàn giao thông.
Hành vi vi phạm hành chính được xác định là hành vi vi phạm mà cá nhân hoặc tổ
chức khi vi phạm do lỗi cố ý hay vô ý đều được xác định là hành vi vi phạm hành
chính. Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội hình
sự. Vi phạm hành chính khác với tội vi phạm hình sự và mức độ nguy hiểm của hành
vi vi phạm. Tính chất nguy hiểm của hành vi phụ thuộc vào khả năng gây thiệt hại của
hành vi. Nếu khả năng này lớn thì tính nguy hểm của hành vi cao và ngược lại mức độ
nguy hiểm của hành vi phụ thuộc vào quy mô vi phạm và thiệt hại thực tế đã xảy ra.
Những hành vi vi phạm hành chính thể hiện rất đa dạng và phong phú hầu hết
trong tất cả lĩnh vực, nhưng đều có một số đặc điểm cơ bản sau:
Vi phạm hành chính luôn là hành vi và hành vi đó luôn thể hiện tính có lỗi. Lỗi
trong vi phạm hành chính bao gồm lỗi cố ý và vô ý. Lỗi là một dấu hiệu cơ bản, bắt
buộc phải hiện diện trong mọi cấu thành của hành vi vi phạm hành chính, có ý nghĩa
quyết định đến các yếu tố khác trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính. Vì vậy,
các trường hợp loại trừ yếu tố lỗi thì không đủ các dấu hiệu cần thiết khi xác định một

chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức
thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về đăng ký và quản lý
hộ tịch mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi
phạm hành chính.
Ví dụ: Anh A và chị B vừa sinh đứa con đầu lòng nhưng do công việc hay yếu tố
nào đó mà đã không đăng ký khai sinh cho con đúng thời hạn. Hành vi của anh A và
chị B đã vi phạm hành chính về đăng ký hộ tịch.
1.2.2. Đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch
Về hình thức của hành vi vi phạm: Trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch, hành
vi vi phạm thường thể hiện dưới hai hình thức sau:
- Hành vi không hành động: Pháp luật quy định phải tiến hành thủ tục đăng ký
hộ tịch nhưng không thực hiện (không đăng ký khai sinh, khai tử, không đăng ký kết
hôn, không đăng ký nuôi con nuôi...)
- Hành vi hành động: Chủ thể hành vi vẫn thực hiện hành vi đăng ký hộ tịch
nhưng khai báo gian dối, giả mạo giấy tờ hoặc cung cấp thông tin làm sai lệch giữa các
giấy tờ hộ tịch và hồ sơ cá nhân...
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính thể hiện tập trung, cơ bản nhất ở yếu tố lỗi
của người vi phạm. Trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch thì yếu tố lỗi thường
biểu hiện ở cả hình thức lỗi vô ý và cố ý. Lỗi vô ý thể hiện ở chỗ người vi phạm do
chưa nắm vững các quy định của pháp luật về hộ tịch nên không thực hiện đúng các
14


thủ tục đăng ký cần thiết. Lỗi cố ý thể hiện ở hai trường hợp: Người vi phạm biết rõ
nghĩa vụ của mình là phải thực hiện các đăng ký về hộ tịch nhưng cho rằng không
quan trọng, không cần thiết đối với mình nên không thực hiện các nghĩa vụ luật định.
Hoặc người vi phạm biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực
hiện với mục đích, động cơ lẩn tránh pháp luật hoặc vụ lợi cá nhân như các hành vi giả
mạo giấy tờ về hộ tịch...
Chủ thể của hành vi vi phạm: Trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch, chủ thể của

-

Xử phạt vi phạm hành chính là một loại hoạt động cưỡng chế nhà nước, mang

tính quyền lực nhà nước;
-

Cơ sở để xử phạt hành chính là hành vi vi phạm hành chính;

-

Hoạt động xử phạt hành chính được tiến hành qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn

nhưng kết quả của hoạt động này phải được tiến hành bằng hoạt động xử phạt hành
chính;
- Hoạt động xử phạt hành chính phải được tiến hành trong khuôn khổ và phải
tuân theo pháp luật về trình tự và thủ tục hành chính.
Từ những đặc điểm trên ta có thể đưa ra khái niệm sau: Xử phạt vi phạm hành
chính là một loại hoạt động cưỡng chế hành chính cụ thể mang tính quyền lực nhà
nước, phát sinh khi có vi phạm hành chính, biểu hiện ở việc áp dụng chế tài hành
chính mang tính trừng phạt gây cho đối tượng bị áp dụng thiệt hại về vật chất hoặc
tinh thần và do các chủ thể có thẩm quyền nhân danh nhà nước thực hiện theo quy
định của pháp luật.
Ngoài ra, theo Khoản 2 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định
như sau: Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng
hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện
hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính.
Ví dụ: Chị C đi xe gắn máy và khi tín hiệu đèn giao thông đã chuyển sang màu
đỏ nhưng chị không dừng lại trước vạch dừng mà vẫn tiếp tục đi. Hành vi vượt đèn đỏ

định áp dụng biện pháp hành chính khác vượt thẩm quyền cho phép là vi phạm pháp
luật và phải bị xử lý.
Kết quả của việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý
hộ tịch thể hiện ở các quyết định xử phạt hành chính, quyết định các biện pháp khắc
phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra. Việc quyết định áp dụng các quyết định
xử phạt hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính thể hiện sự
trừng phạt nghiêm khắc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực đăng ký
và quản lý hộ tịch, qua đó giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực hộ tịch.
1.2.4. Nguyên tắc của việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và
quản lý hộ tịch
Cũng như khi xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, việc xử lý các vi
phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch phải tuân thủ những
nguyên tắc chung được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính
2012, cụ thể như sau:
Thứ nhất, mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải
bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục
theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền
phải tích cực chủ động trong việc thanh tra, kiểm tra và thực thi công vụ để kịp thời phát
hiện các vi phạm hành chính và một khi đã phát hiện thì phải tiến hành xử lý một cách
nhanh chóng, công minh và triệt để. Hậu quả do hành vi vi phạm gây ra phải được khắc
phục vì lợi ích của cộng đồng nhằm đảm bảo lập lại trật tự pháp luật, góp phần thiết lập
kỉ
cương,
ổn
định

hội,
phát
triển

Thứ tư, chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp
luật quy định.Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.Nhiều người
cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt
về hành vi vi phạm hành chính đó.Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành
chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm. Nếu
một hành vi vi phạm đã bị một người có thẩm quyền lập biên bản xử phạt hoặc ra
quyết định xử phạt thì không được lập biên bản hoặc ra quyết định xử phạt lần thứ hai
đối với cùng một hành vi đó nữa. Khái niệm xử phạt lần thứ hai và khái niệm xử phạt
khi tái phạm tuy có nhiều điểm giống nhau, nhưng đó không cùng loại. Tái phạm là
một hành vi vi phạm khác có tính chất cùng loại với hành vi vi phạm mà chủ thể đã
từng bị xử lý, trong khi đó thì khái niệm kia chỉ có 1 hành vi vi phạm tồn tại. Một hành
vi vi phạm hành chính đã được người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt thì không
đồng thời áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác đối với người thực hiện hành
vi vi phạm này. Một hành vi vi phạm hành chính đã bị ra quyết định xử phạt, nếu sau
18


này phát hiện hành vi đó có các dấu hiệu của tội phạm phải truy cứu trách nhiệm hình
sự thì phải hủy quyết định xử phạt hành chính trước đây, rồi mới chuyển hồ sơ vi
phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm, thì người đó sẽ bị xử
phạt về từng hành vi, sau đó tổng hợp lại thành mức phạt chung. Trường hợp nhiều
người cùng thực hiện một vi phạm hành chính thì mỗi người đều bị xử phạt.
Thứ năm, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành
chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện
hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính. Nguyên tắc trên cho thấy
người có thẩm quyền xử phạt, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành
chính có trách nhiệm chứng minh hành vi vi phạm bằng việc áp dụng các biện pháp
hợp pháp để xác định sự thật của vụ việc một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; cá
nhân, tổ chức bị xử phạt, cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự

hội, tạo điều kiện phát triển xã hội.
Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch còn
góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho cơ quan quản lý Nhà nước cũng như người dân
tham gia đăng ký hộ tịch bởi các quy định chặt chẽ buộc các chủ thể phải tự giác chấp
hành nếu không sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật. Đồng thời, pháp luật về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch cũng là các biện
pháp ngăn chặn hữu hiệu các hành vi phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch;
góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về hộ tịch.
1.2.6. Sơ lược quá trình phát triển của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch
Sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Nhà nước ta đã ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật chính yếu điều chỉnh về đănng ký và quản lý hộ tịch sau:
Nghị định số 764/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08/5/1956 ban hành bản
điều lệ đăng ký hộ tịch; Nghị định số 4/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 16/01/1961
ban hành bản điều lệ đăng ký hộ tịch. Hai văn bản trên không quy định về việc xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch mà chỉ quy định một cách chung
chung là các vi phạm chủ yếu giải quyết thông qua giáo dục và chỉ kỷ luật khi thật quá
đáng.
Năm 1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định 49/CP của Chính phủ ngày
15/8/1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự. Trong Nghị
định này, tại Điều 9 có quy định xử phạt đối với đăng ký hộ tịch nhưng rất ít.
Đến năm 1998, Nhà nước ban hành Nghị định 83/1998/NĐ-CP về đăng ký và
quản lý hộ tịch đã quy định rõ tại Chương V (Điều 93 và 94) về xử lý vi phạm hành
chính trong đăng ký và quản lý hộ tịch, cụ thể hóa Nghị định này và pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 1995, Nghị định 87/2001/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành
chính trong hôn nhân gia đình có quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong đăng
ký và quản lý hộ tịch. Tuy nhiên, Nghị định này chỉ quy định xử phạt hai nội dung
(Điều 9 và 14).
Đến ngày 02/8/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Cụ thể tại Mục 3 của Nghị

bản, thẩm quyền xử phạt, theo từng chức danh và mức phạt tiền cụ thể đối với hành vi
vi phạm hành chính trong các lĩnh vực như bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn
nhân và gia đình,thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

21


CHƢƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH
2.1. Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch
2.1.1. Hành vi vi phạm quy định về đăng ký khai sinh
Hành vi vi phạm quy định về đăng ký khai sinh bao gồm các hành vi sau:
Thứ nhất, hành vi không đăng ký khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn quy định:
Theo quy định tại Điều 14 của Nghị định 158/2005/NĐ-CP, trong thời hạn 60
ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ
không thể đi khai sinh, thì ông bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho
trẻ em.
Người có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em mà không thực hiện việc
đăng ký đúng thời hạn quy định sẽ bị phạt cảnh cáo theo quy định tại Điều 27 Nghị
định 110/2013/NĐ-CP. Theo quy định tại Điều 43, Nghị định 158/2005/NĐ-CP thì
việc sinh chưa đăng ký theo thời hạn đã quy định thì phải đăng ký theo thủ tục đăng ký
quá hạn.
Ví dụ: Anh C và chị D sinh con đã được 8 tháng nhưng vì một vài lý do nên
chưa thể đăng ký khai sinh cho con được. Theo đó, việc con của anh, chị đã 8 tháng
tuổi mà chưa đăng ký khai sinh thì anh, chị sẽ tiến hành đăng ký khai sinh cho con
theo thủ tục đăng ký quá hạn quy định tại Điều 43, Nghị định 158/2005/NĐ-CP. Về
việc gia đình chị thực hiện việc đăng ký khai sinh cho cháu bé không trong thời hạn do
pháp luật quy định thì sẽ bị xử phạt cảnh cáo theo quy định tại khoản 1, Điều 27, Nghị
định 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

làm Giấy khai sinh thì mẹ là người có giấy chứng sinh sinh ra bé. Tuy nhiên, người mẹ
nuôi đó lại muốn xóa gốc tích của đứa con và có thể sử dụng Giấy chứng sinh giả để
được ghi tên mình trên giấy khai sinh của con.
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 27 Nghi định 110/2013/NĐ-CP thì hành
vi sử dụng giấy tờ giả để làm thủ tục đăng ký khai sinh ngoài bị phạt tiền còn áp dụng
biện pháp khắc phục hậu quả hủy giấy tờ giả. Cụ thể là hủy Giấy khai sinh và buộc
đăng ký khai sinh theo đúng quy định của pháp luật.
Thứ năm, làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký khai sinh.
Theo quy định tại Nghị định 158/2005/NĐ-CP thì khi đăng ký khai sinh, người
đi đăng ký khai sinh phải nộp cũng như xuất trình một số giấy tờ liên quan, chẳng hạn
như Giấy chứng sinh, Giấy đăng ký kết hôn,… Một số trường hợp do không có đầy đủ
các giấy tờ liên quan nhưng muốn đăng ký khai sinh một cách thuận lợi nên đã làm giả
các giấy tờ trên. Đối với hành vi này, theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 27
Nghị định 110/2013/NĐ-CP thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng,
đồng thời áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hủy giấy tờ giả đối với hành vi trên.
Ví dụ: Anh Tuấn và chị Hoa kết hôn được 6 năm và có một đứa con, nhưng
không đăng ký kết hôn. Đến năm 2014 con của anh chị đã được 5 tuổi, anh chị muốn
làm giấy khai sinh cho con để cho con đi học mẫu giáo. Mặc dù biết không có giấy
đăng ký kết hôn vẫn làm giấy khai sinh đươc nhưng anh chị không muốn làm giấy
khai sinh cho con ngoài giá thú nên đã làm Giấy đăng ký kết hôn giả để đăng ký khai
sinh cho con. Hành vi của anh chị theo quy định nêu trên thì bị phạt tiền từ 3.000.000

23


đồng đến 5.000.000 đồng và Giấy hai sinh của con anh chị sẽ bị cơ quan có thẩm
quyền hủy bỏ và buộc phải đăng ký khai sinh theo đúng quy định của pháp luật.
2.1.2. Hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn và môi giới kết hôn
Hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn và môi giới kết hôn bao gồm các
hành vi sau:


Khoản 1 Điều 28 Nghị định 110/2013/ NĐ-CP.

24


Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp cho cá nhân là nhằm chứng minh
tình trạng hôn nhân của đương sự trong thời điểm hiện tại để sử dụng vào việc đăng ký
kết hôn hoặc thực hiện mục đích khác. Nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân phải
được ghi rõ: đương sự hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai; đối với người đã có
vợ/chồng nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã chết thì cũng phải ghi rõ điều đó. Đối với
những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau, mà Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi xác
nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì
yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian
trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan. Hành vi cam
đoan không đúng về tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn sẽ bị phạt từ
1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng theo quy định tại diểm c khoản 2 Điều 28 Nghị
định 110/NĐ-CP.
Ví dụ: Anh Hùng đã có vợ rồi, chưa làm thủ tục ly hôn nhưng anh và vợ mỗi
người ở một nơi. Nay anh chuẩn bị kết hôn với người vợ mới, đăng ký kết hôn ở quê
với người vợ mới. Anh Hùng khai tình trạng hôn nhân mình là độc thân và thực hiện
kết hôn với người vợ mới. Hành vi của anh Hùng theo quy định nêu trên có thể bị phạt
tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Thứ năm, làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký kết hôn.
Cùng với sự phát triển của xã hội hiện nay, hiện tượng làm giấy tờ giả ngày
càng gia tăng, tình trạng làm giấy tờ giả để kết hôn cũng theo đó cũng đã, đang diễn ra
ngày càng tinh vi, phức tạp. Việc làm giả giấy tờ để đăng ký kết hôn tùy từng trường
hợp vi phạm có thể bị xử phạt hành chính theo Khoản 3, Điều 28, Nghị định Số
110/2013/NĐ-CP với quy định như sau: “Hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết
hôn và môi giới kết hôn thì phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status