TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA: 2011 - 2015
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
THỰC TRẠNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiên:
VÕ HOÀNG YẾN
NGUYỄN VĂN ĐẤU
Bộ môn: Luật Thương mại
MSSV: 5118688
Lớp: HG1165A1
CẦN THƠ, 11/ 2014
NHẬN XÉT CỦA HÔI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
..............................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
1.1.3. Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến đời sống cộng đồng………………….6
1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường không khí bằng pháp luật …………………12
1.3. Khái quát chung về pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt
Nam………………………………………………………………………………….14
1.3.1. Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường không khí………………………..14
1.3.2. Vai trò của pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam…………14
1.3.2.1. Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi tác
động vào môi trường không khí………………………………………………………15
1.3.2.2. Pháp luật quy định các chế tài để buộc con người phải thực hiện đầy đủ
các đòi hỏi của pháp luật khi tác động vào môi trường không khí …………………...17
1.3.2.3. Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức bảo vệ
môi trường không khí…………………………………………………………………19
1.3.2.4. Pháp luật tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các
quan hệ hợp tác quốc tế vì bảo vệ môi trường không khí……………………………..20
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG
KHÍ
2.1. Những quy định của pháp luật về quy chuẩn và tiêu chuẩn môi trường không khí ở
Việt Nam hiện nay…………………………………………………………………..23
2.1.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về quy chuẩn môi trường không
khí…………………………………………………………………………………...23
2.1.1.1. Khái quát chung về quy chuẩn môi trường không khí…………………....23
2.1.1.2. Một số quy chuẩn môi trường không khí cụ thể theo pháp luật Việt
Nam…………………………………………………………………………………24
GVHD: Võ Hoàng Yến
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí – Thực trạng tại thành phố Hồ Chí Minh
khí ở Việt Nam ………………………………………………………………….......54
3.2.1. Hoàn thiện các quy định về thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước
trong bảo vệ môi trường không khí…………………………………………………55
3.2.2. Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của các tổ chức ,cá nhân trong bảo vệ
môi trường không khí……………………………………………….........................58
KẾT LUẬN.................................................................................................................60
GVHD: Võ Hoàng Yến
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí – Thực trạng tại thành phố Hồ Chí Minh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt tại các đô thị không
còn là vấn đề riêng lẻ của một quốc gia hay một khu vực mà nó đã trở thành vấn đề
toàn cầu. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới trong
thời gian qua đã có những tác động lớn đến môi trường, và đã làm cho môi trường
sống của con người bị thay đổi và ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Những năm gần đây
nhân loại đã phải quan tâm nhiều đến vấn đề ô nhiễm môi trường không khí đó là: Sự
biến đổi của khí hậu – nóng lên toàn cầu, sự suy giảm tầng ôzôn và mưa axít.
Ở Việt Nam ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối
với môi trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề. Một vấn đề nóng bỏng, gây bức
xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường không
khí do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra. Vấn đề này ngày
càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại,
phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai. Công nghiệp hóa càng mạnh, đô thị
hóa càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp
Trong phạm vi của luận văn này, người viết chỉ dừng lại ở việc phân tích nội
dung các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam hiên
nay, tìm hiểu thực trạng về việc áp dụng các quy định này trên thực tiễn trong thời
gian qua ở thành phố Hồ Chí Minh.
3. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này với mục tiêu tìm hiểu và phân tích các quy định
pháp luật về bảo vệ môi trường không khí. Trên cơ sở đó người viết đặt ra một số
yêu cầu hoàn thiện và đưa ra một số giải pháp cơ bản cho việc hoàn thiện các quy
định pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thưc hiện đề tài này người viết chủ yếu sử dụng các phương pháp như so
sách, đối chiếu, phân tích luật viết, phương pháp quy nạp và phương pháp thống kê
số liệu thực tế.
5. Bố cục đề tài
Luận văn bao gồm: Lời nói đầu, tài liệu tham khảo, kết luận và ba chương.
Chương 1: Những vấn đề chung về môi trường không khí và pháp luật về bảo
vệ môi trường không khí.
Chương 2: Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp bảo vệ môi trường không khí ở thành phố
Hồ Chí Minh.
GVHD: Võ Hoàng Yến
2
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí – Thực trạng tại thành phố Hồ Chí Minh
1
2
Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005.
Trường Đại học luật Hà Nội, giáo trình luật môi trường, NXB Công an nhân dân, Hà Nội-2003, trang 235.
GVHD: Võ Hoàng Yến
3
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí – Thực trạng tại thành phố Hồ Chí Minh
môi trường 2005 thì ô nhiễm không khí được hiểu là sự biến đổi của các thành phần
môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con
người, sinh vật.3
1.1.2. Các nguyên nhân gây ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí do nhiều nguyên nhân có cả từ tự nhiên và do con người
tác động vào nhưng chủ yếu ô nhiễm không khí là do con người gây ra trong quá
trình sinh hoạt và sản xuất. Các nguyên nhân do tự nhiên như do hoạt động của núi
lửa, do cháy rừng, do bão cát, ô nhiễm đai dương, ô nhiễm do phân hủy các chất hữu
cơ trong tự nhiên. Các nguồn ô nhiễm không khí do con người gây ra như sau:
Ô nhiễm do sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Ví dụ các nhà
máy sản xuất hóa chất, sản xuất giấy, luyện kim loại, nhà máy nhiệt điện (sử
dụng các nhiên liệu than, dầu …).
Ô nhiễm do giao thông: khí thải xe cộ, tàu thuyền, máy bay.
Sinh hoạt: Nấu nướng phục vụ sinh hoạt hàng này của con người (gia đình,
công sở…).
Cùng đi lên với sự phát triển của con người, sự phát triển của xã hội thì ô
nhiễm không khí ngày càng chứng tỏ đó là một vũ khí hủy hoại mạnh đến môi
trường sống của chúng ta. Như một quy luật tất yếu của tự nhiên, khi con người đối
xử không tốt với tự nhiên thì tự nhiên cũng có những đáp trả không tốt đẹp gì. Chúng
ta làm cho môi trường không khí bị ô nhiễm nặng nề, thì lập tức chính môi trường
không khí đó lại tác động ngược lại, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí xuất hiện
cách đây rất lâu, hơn 300 trăm năm trước nhà khoa học Jonh Evalyn chuyên về bút kí
và ghi chép khoa học đã minh họa với độ chính xác cao về tác động của ô nhiễm môi
trường không khí do đốt cháy nhiên liệu. Ô nhiễm không khí do các nguồn từ đun
nấu tới khí thải xe hơi đã trở thành vấn đề sức khỏe môi trường tồi tệ nhất của thế
giới, góp phần vào con số gây sốc 7 triệu người chết trong năm 2012, Tổ chức Y tế
Thế giới cho biết mới đây. Theo thông tin từ AFP ngày 26/3/2014, tính chung trên
toàn cầu cứ 8 người chết thì có một là do ô nhiễm không khí trong năm 2012. Những
thủ phạm gây chết nhiều nhất liên quan đến ô nhiễm là bệnh tim, đột qụy, bệnh phổi
và ung thư phổi. Ngoài ra nó còn để lại những hậu quả lâu dài như khuyết tật bẩm
sinh và suy giảm chức năng tâm thần do chất lượng không khí kém. Số tử vong bao
gồm 4,3 triệu người chết do ô nhiễm không khí trong nhà, chủ yếu do đun nấu bằng
bếp than, củi. Tác động của ô nhiễm không khí ngoài trời ước tính là 3,7 triệu, với
nguồn gây ô nhiễm từ đốt than tới động cơ Điêzen4. Con người càng ngày càng nhận
thấy rõ ràng là sự ô nhiễm môi truờng không khí gây thiệt hại rất lớn đến kinh tế và
ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng, đã đến lúc thế giới ngồi lại bàn cách giải
quyết vấn đề môi trường, hội nghị Stockhom tháng 6/1972 Hội nghị Liên hợp quốc
về biến đổi khí hậu ở Copenhagen, Đan Mạch tháng 12/2009 và gần đây nhất là hội
nghị thượng đỉnh trái đất 2012 chứng tỏ thế giới rất quan tâm đên vấn đề ô nhiễm
môi trường ,đặt biệt là ô nhiễm không khí. Trong lịch sử, hàng loạt thảm họa khủng
khiếp về môi trường đã xảy ra với con người, điểm qua một số thảm họa như
- Luân Đôn: Năm 1873, đợt sương mù lớn do một đợt khói than khổng lồ tạo
thành đã làm cho 2600 người dân thành phố thiệt mạng vì mắc bệnh viêm khí quản.
Tiếp đó vào các năm 1880 và 1892 lại có hơn 1000 người bị khói than dày đặc như
4
cộng đã phải đóng cửa ở Têhêran - Iran và 1600 người đã nhập viện do sương mù đã
xâm nhập vào bộ lọc khói của xe hơi. 30-31 tháng 10 năm 1948, Donora – PA 20
người chết, 600 người phải nhập viện, hàng ngàn người chịu ảnh hưởng. Thảm họa
lớn nhất trong lịch sử loài người thảm họa Bhopal là một thảm họa công nghiệp xảy
ra tại nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu sở hữu và điều hành bởi Union Carbide (UCIL)
ở Bhopal, Madhya Pradesh, Ấn Độ ngày 3 tháng 12 năm 1984. Khoản 12 giờ trưa,
nhà máy rò rỉ ra khí Methyl isocyanate (MIC) và các khí độc khác, gây ra phơi
nhiễm trên 500,000 người. Những đánh giá về số lượng người chết có sự không
thống nhất. Đánh giá chính thức ban đầu về số người chết là 2,259 và chính quyền
bang Madhya Pradesh đã xác nhận tổng số 3737 cái chết liên quan đến vụ rò rỉ khí
ga. Các cơ quan chính quyền khác ước tính khoảng 15,000 người chết. Một số tổ
chức đưa ra con số khoảng 8000 đến 10,000 người chết trong 72 giờ đầu và 25,000
người chết vì các căn bệnh liên quan đến khí ga rò rỉ.6
5
Sưong mù ở Luân Đôn, Thư viện điện tư khoa học Quảng Trị, Hệ thống thông tin khoa học,
/>uy cập ngày 16/9/2014].
6
Bách khoa toàn thư tự do, thảm họa Bhopal,
[truy cập ngày 18/8/2014].
GVHD: Võ Hoàng Yến
6
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí – Thực trạng tại thành phố Hồ Chí Minh
dâng cao của mực nước biển. Mười năm trở lại đây được xem là những năm nóng
nhất theo chuỗi quan trắc từ năm 1850. Sự nóng lên của Trái đất, băng tan đã dẫn
đến mực nước biển dâng cao. Nếu khoảng thời gian 1962 - 2003, lượng nước biển
trung bình toàn cầu tăng 1,8mm/năm, thì từ 1993 - 2003 mức tăng là 3,1mm/năm.
Tổng cộng, trong 100 năm qua, mực nước biển đã tăng 0,31m. Theo quan sát từ vệ
7
Thuỳ Linh, Báo điện tử Vnexpress, Bắc Kinh báo động về ô nhiễm không khí, [truy cập ngày 18/8/2014].
GVHD: Võ Hoàng Yến
7
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí – Thực trạng tại thành phố Hồ Chí Minh
tinh, diện tích các lớp băng ở Bắc cực, Nam cực, băng ở Greenland và một số núi
băng ở Trung Quốc đang dần bị thu hẹp. Chính sự tan chảy của các lớp băng cùng
với sự nóng lên của khí hậu các đại dương toàn cầu (tới độ sâu 3.000m) đã góp phần
làm cho mực nước biển dâng cao. Dự báo đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình
sẽ tăng lên khoảng từ 2,0 - 4,50C và mực nước biển toàn cầu sẽ tăng từ 0,18m 0,59m. Việt Nam là 1 trong 4 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của sự biến đổi khí
hậu và dâng cao của nước biển. Theo thống kê, số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến
Việt Nam giảm rõ rệt trong vòng 2 thập kỷ qua. Từ 29 đợt mỗi năm (từ 1971 - 1980)
xuống còn 15 - 16 đợt mỗi năm từ 1994 - 2007. Số cơn bão trên biển Đông ảnh
hưởng đến nước ta cũng ngày càng ít đi nhưng ngược lại số cơn bão mạnh có chiều
hướng tăng lên, mùa bão kết thúc muộn, quỹ đạo của bão trở nên dị thường và số cơn
bão ảnh hưởng đến khu vực Nam Trung bộ, Nam bộ ngày càng tăng. Bên cạnh đó, số
ngày mưa phùn ở miền Bắc giảm một nửa (từ 30 ngày/năm trong thập kỷ 1961 1970 xuống còn 15 ngày/năm trong thập kỷ 1991 - 2000). Lượng mưa biến đổi
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí – Thực trạng tại thành phố Hồ Chí Minh
đất nhờ sự ngăn cản của tầng Ôzône trở nên yếu hơn tới 350 tỉ lần so với trên tầng
khí quyển. Hầu hết tia UV-A chiếu được tới bề mặt trái đất, nhưng may mắn là tia
sáng này ít gây hại cho sinh vật trên trái đất. Nếu không có sự cản trở bức xạ của
tầng Ôzône, con người có thể dễ dàng bị mắc ung thư da, bệnh đục thủy tinh thể...
Đồng thời, bức xạ UV-B cũng gây tác động xấu đến đa dạng sinh học do làm giảm
số lượng sinh vật phù du trong các đại dương dẫn đến giảm số lượng các loài cá, ảnh
hưởng đến sự phát triển của các loài thực vật trên trái đất… gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến chuỗi sinh thái và sự cân bằng sinh thái.10
Một trong những hậu quả của ô nhiễm không khí là mưa axit. Mưa axít là hiện
tượng mưa mà trong nước mưa có độ pH dưới 5,6 được tạo ra bởi lượng khí thải Lưu
Huỳnh Điôxit và Ôxyđê Nitơ từ các quá trình phát triển sản xuất con người tiêu thụ
nhiều than đá, dầu mỏ và các nhiên liệu tự nhiên khác. Hầu hết tất cả, mưa axit ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe con người. Nó có thể làm hại chúng ta thông qua không khí
và ô nhiễm đất. Mưa axit dẫn đến sự hình thành các hợp chất độc hại bằng cách phản
ứng với các hợp chất hóa học tự nhiên. Một khi các hợp chất độc hại được hình
thành, họ có thể thấm vào nước uống, và cũng thâm nhập vào chuỗi thực phẩm. Thực
phẩm bị ô nhiễm này có thể gây tổn hại các dây thần kinh ở trẻ em, hoặc dẫn đến tổn
thương não nghiêm trọng, thậm chí tử vong. Cguác nhà khoa học nghi ngờ rằng
Nhôm, một trong những kim loại bị ảnh hưởng bởi mưa axit, có liên quan đến bệnh
Alzheimer. Lượng khí thải của Nitơ oxit và các vấn đề nguyên nhân Sulfur dioxide
như kích thích cổ họng, mũi và mắt, đau đầu, hen suyễn và ho khan. Khói mù quang
hóa là hiện tượng ô nhiễm không khí rất nguy hiểm khác. Bình thường, các loại khí
thải, bụi mù được khuếch tán lên không trung nên người ta không nhìn thấy khói, bụi
hoặc nếu có thì cũng với mật độ ít hơn. Nhưng khi khí độc, khí thải ô nhiễm, khói,
bụi mù không thoát lên cao mà tập trung ở dưới mặt đất gây nên hiện tượng “khó mù
nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi
trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều
hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng. Của cải
quý nhất mà xã hội để lại cho con cháu không chỉ là những thứ được làm ra mà còn
là giữ gìn môi trường sống trong lành, cân bằng giữa sự phát triển và môi truờng
sống. Nhiệm vụ quan trong và cấp bách là bảo vệ môi truờng không khí, một trong
những hình thức hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường không khí là bằng pháp
luật. Trong thời gian qua, pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở nước ta từng
bước được xây dựng và hoàn thiện góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh các quan
hệ xã hội liên quan trực tiếp tới lĩnh vực môi trường không khí. Thực tiễn đã cho
thấy vị trí, vai trò của pháp luật đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường. Là công cụ
đảm bảo thực hiện cho các biện pháp bảo vệ môi trường không khí. Tuy nhiên, hiện
tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường không khí vẫn diễn ra phổ biến với
tính chất và mức độ khác nhau; môi trường không khí ở nhiều nơi tiếp tục bị xuống
cấp đến mức báo động. Tính đặt thù của pháp luật có ý nghĩa rất lớn, là công cụ
mạnh mẽ để bảo vệ môi truờng, nó điều chỉnh các hành vi tác động đến môi truờng.
Pháp luật bao gồm một hệ thống các quy phạm pháp luật là những quy tắc mang tính
xử xự mang tính bắt buộc chung nhằm điều chỉnh hành vi con người khi tác động
vào môi truờng không khí và nó được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế của
nhà nước. Sự cưỡng chế của pháp luật không phải đơn thuần nhằm mục đích trừng trị
mà trước hết là răn đe, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, giáo dục người
vi phạm. Tính chất cưỡng chế của pháp luật không chỉ là răng đe, ngăn chặn, trừng
trị, mà còn là sự giáo dục sâu sắc đối với các chủ thể pháp luật. Bản thân quy phạm
pháp luật là chuẩn mực để con người rèn luyện ý thức công dân, hình thành ý thức
pháp luật, tạo ra cho mỗi công dân một khả năng tư duy pháp lý, tránh được những
ngẫu nhiên, tùy tiện, coi thường pháp luật Nhà nước. Do đó, bảo vệ môi trường
không khí bằng pháp luật vô cùng quan trọng.
GVHD: Võ Hoàng Yến
10
không thể lợi dụng các pháp đó để thực hiên hành vi phạm pháp luật bởi pháp luật
được sử dụng để tác động trực tiếp tới hành vi gây ô nhiễm môi trường không khí,
cũng như khuyến khích họ thực hiện các hành vi có lợi cho môi trường không khí.
1.3. Khái quát chung về pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam
1.3.1. Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường không khí
Bảo vệ môi trường bằng pháp luật là một định hướng cơ bản của hoạt động
bảo vệ môi trường ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên, dù đã có luật cũng như chính sách về
bảo vệ môi trường, nhưng việc thực thi ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và tiến
GVHD: Võ Hoàng Yến
11
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí – Thực trạng tại thành phố Hồ Chí Minh
hành khá muộn so với các nước khác. Luật Bảo vệ môi trường là một lĩnh vực pháp
luật tương đối mới trong hệ thống pháp luật Việt Nam mà còn cả hệ thống pháp luật
của các nước đang phát triển. Các nước đua nhau phát triển kinh tế bằng mọi giá, hủy
hoại môi trường sống miễn sao kinh tế tăng trưởng mà bỏ qua việc vô cùng quan
trọng là bảo vệ môi trường trong đó có môi trường không khí, đến lúc môi trường ô
nhiễm báo động thì pháp luật bảo vệ môi trường mới được các nước cấp bách đặt ra.
Pháp luật về bảo vệ môi trường Việt Nam đang dần hoàn thiện.
Là một bộ phận của pháp luật bảo vệ môi trường, nên ta có thể dựa vào khái
niệm pháp luật bảo vệ môi trường để suy ra định nghĩa về pháp luật bảo vệ môi
trường không khí như sau: “pháp luật về bảo vệ môi trường không khí là tổng hợp
các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh
giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể sử dụng hoặc tác động đến môi trường
không khí hoặc các quan hệ giữa các chủ thể và môi trường không khí trên cơ sở kết
đủ các điều kiện sống, trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm
giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm trong bảo vệ và cải thiện cho các thế
hệ hôm nay và mai sau”.
Từ giác độ thực tế ,có thể liệt kê các quan hệ xã hội mà các quy phạm pháp
luật bảo vệ môi trường không khí, bao gồm:
Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác sử dụng hoặc tác động tới
môi trường không khí.
Nhóm quan hệ hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước về môi trường
không khí.
Nhóm quan hệ về các biện pháp khắc phục suy thoái, ô nhiễm, phòng chống
sự cố môi trường không khí.
Nhóm quan hệ giải quyết tranh chấp môi trường không khí, xử lý vi phạm
pháp luật môi trường không khí.
Nhóm quan hệ về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không
khí.
Quyền con người được sống trong môi trường trong lành là nguyên tắc trụ cột,
là quyền tự nhiên của con người, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, liên quan trực
tiếp đến chất lượng cuộc sống. Đó là quyền con người được sống trong một môi
trường với chất lượng cho phép, cuộc sống được đảm bảo về mặt vệ sinh môi trường,
được hài hòa với tự nhiên. Hay nói cách khác, là quyền được sống trong một vùng
không bị ô nhiễm, không bị suy thoái môi trường. Để đảm bảo được quyền đó của
mình thì mỗi cá nhân, tổ chức phải biết bảo vệ môi trường sống bằng những hành
động văn minh bằng cách tuân thủ những quy tắc xử sự mà pháp luật đặt ra.
Các quy phạm pháp luật được áp dụng đối với những người thuộc đối tượng
được các quy phạm pháp luật đó điều chỉnh. Quy định là bộ phận của quy phạm pháp
luật nêu lên cách xử sự hay quy tắc xử sự cho chủ thể (các tổ chức, cá nhân) ở vào
điều kiện, hoàn cảnh đã nêu trong phần giả định của quy phạm. Đây là bộ phận trực
tiếp thể hiện ý chí, mong muốn của Nhà nước, là mệnh lệnh của Nhà nước đối với
các chủ thể, nó chỉ rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia vào quan
hệ xã hội do quy phạm điều chỉnh. Vì vậy, bộ phận quy định của quy phạm pháp luật
trong tiêu chuẩn thải khí không quy định tổng lượng thải mà áp dụng đồng đều nồng
độ tối đa cho phép các chất độc hại như hiện nay là rất bất hợp lý. Tình trạng đó sẽ
gây ra sự bất bình đẳng giữa các cơ sở lớn và các cơ sở nhỏ, đồng thời cũng có thể
dẫn đến tình trạng xử lý khí thải mang tính chất đối phó, giả tạo. Thông qua hệ thống
tiêu chuẩn môi trường không khí quy tắc xử xự mà pháp luật quy định chính là trị số
tối thiểu và trị số tối đa nồng độ cho phép của các chất gây ô nhiễm môi trường
không khí.
Pháp luật sẽ góp phần rất lớn trong việc hình thành ý thức tôn trọng và chấp
hành những quy phạm chung, giúp con người có những hành vi ứng xử văn minh với
môi trường, đặt biệt là môi trường không khí phù hợp với chiều hướng phát triển tiến
bộ của thời đại. Pháp luật không loại trừ một ai và không phân biệt đối xử với bất kỳ
ai. Đứng trước pháp luật thì mọi công dân đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau.
GVHD: Võ Hoàng Yến
14
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí – Thực trạng tại thành phố Hồ Chí Minh
Pháp luật là công cụ hữu hiệu để quản lý môi trường không khí, đẩy lùi các hành vi
xấu ảnh hưởng xấu đến môi trường không khí.
1.3.2.2. Pháp luật quy định các chế tài để buộc con người phải thực hiện đầy
đủ các đòi hỏi của pháp luật khi tác động vào môi trường không khí
Cưỡng chế nhà nước gồm nhiều nhóm biện pháp cưỡng chế khác nhau như:
Pháp luật quy định các chế tài để bảo vệ môi trường không khí bao gồm các chế tài
dân sự, hành chính và tăng cường áp dụng các biện pháp hình sự đối với các vi phạm
pháp luật về môi trường không khí, các chủ thể phải gánh chịu những chế tài này khi
15
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí – Thực trạng tại thành phố Hồ Chí Minh
đối với chúng ta, là trách nhiệm của các cơ quan tổ chức cá nhân và toàn xã hội. Bảo
vệ môi trường lấy phòng ngừa là chính, kết hợp với khắc phục giảm thiểu ô nhiễm.
Bên cạnh đó có những chủ thể chỉ vì lợi ích trước mắt của mình mà gây ô nhiễm môi
trường không khí. Do vậy việc thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường không khí là
việc làm sống còn, thường xuyên, tạo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội gắn
với bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bền vững. Vì vậy pháp luật cần có các chế
tài đủ mạnh để những hành vi gây ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi
trường không khí bị xử lý nghiêm để những hành vi gây ô nhiễm môi trường không
khí không còn tái diễn, góp phần phục hồi môi trường không khí trong lành.
Thông qua việc quy định các chế tài này, pháp luật đã thể hiện vai trò to lớn
trong sự nghiệp bảo vệ môi trường không khí. Bảo vệ môi trường không khí cần một
hành lang pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh
vực môi trường không khí tiến hành các hoạt động của mình để răn đe các chủ thể vi
phạm môi trường tránh để họ tiếp tục vi phạm pháp luật môi trường, tạo cho một ý
thức bảo về môi trường nói chung và môi trường không khí nói riêng góp phần quan
trọng vào việc bảo vệ chất lượng môi trường không khí, hạn chế những tác động tiêu
cực đến môi trường từ các hoạt động phát triển; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
trong dân chúng; nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với vấn đề môi
trường; tạo ra những định hướng ban đầu cho việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế
với bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững.
1.3.2.3. Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức
bảo vệ môi trường
Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài
của một hệ thống nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và
tình trạng tồn tại của nó. Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống
đang xem xét là một tập hợp con. Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần
phải có tính tương tác với hệ thống đó. Môi truờng là tổng thể nhiều thành phần khác
nhau có mối quan hệ với nhau, trong đó có môi trường không khí, môi trường không
khí chỉ được bảo vệ khi tính đến sự bền vững, bảo vệ các yếu tố, thành phần khác.
Bởi vậy bảo vệ môi trường không khí phải kết hợp nhiều cơ quan chuyên môn lại với
nhau với các cơ quan chuyên ngành, pháp luật ở đây đóng vai trò then chốt quy định
quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước.
Tranh chấp môi trường nổi lên như một hiện tượng bức bách của đời sống xã
hội, nó có thể phát sinh giữa cá nhân và tổ chức với nhau, hoặc giữa cá nhân, tổ chức
với cơ quan quản lý nhà nước. Các tranh chấp này cần giải quyết kịp thời không sẽ
để lại những hậu quả to lớn cho môi trường không khí. Thông qua pháp luật nhà
nước quy định một cách chặt chẽ về cơ chế giải quyết tranh chấp, xung đột về môi
trường không khí thông qua việc quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp cho
từng cơ quan quản lý nhà nước về môi trường không khí, Khi có tranh chấp môi
trường xảy ra sẽ giải quyết thuận tiện, êm đẹp, đảm bảo lợi ích cho từng bên, ngăn
chặn các hành vi xấu đến môi trường và có ý thức giáo dục sâu sắc.
1.3.2.4. Pháp luật tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện
các quan hệ hợp tác quốc tế vì bảo vệ môi trường không khí
Bảo vệ môi trường ngày nay không còn là vấn đề của riêng mỗi quốc gia mà
nó đã trở thành vấn đề có tính quốc tế bởi chính tính toàn cầu của ô nhiễm môi
trường. Ô nhiễm môi trường xuyên biên giới bao gồm năm vấn đề:
GVHD: Võ Hoàng Yến
17
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
nhiễm khói mù xuyên biên giới. Đến nay, đã có 9 nước thành viên ASEAN, gồm
Brunei Darussalam, Campuchia, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Malaixia,
Myanma, Singapo, Thái Lan, Việt Nam và Philipin đã phê chuẩn hiệp định này.12
12
Tổng cục môi trường, Ô nhiễm khói mù xuyên biên giới thách thức đối với ASEAN và giải pháp ngăn chặn,
/>
GVHD: Võ Hoàng Yến
18
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí – Thực trạng tại thành phố Hồ Chí Minh
Từ những phân tích trên ta thấy biện pháp pháp luật có vai trò vô cùng quan
trọng đối với hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt nam, Luật Bảo vệ môi trường được
ban hành ngày 27/12/1992, ngay sau hội nghị quốc tế về môi trường ở Rio de Janero
tại Brazil năm 1992 đã thể hiện sự cam kết của Chính phủ Việt Nam triển khai ngay
chương trình nghị sự 21 của Liên hợp quốc. Trên cơ sở pháp lý đó, Nhà nước ta đã
ban hành một hệ thống văn bản pháp quy về bảo vệ các yếu tố của môi trường, trong
đó có môi trường không khí. Điều này đã thể hiện nhận thức rõ và đầy đủ về vai trò
và tầm quan trọng của pháp luật trong bảo vệ môi trờng không khí ở Việt Nam.
%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-ASEAN-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1png%C4%83n-ch%E1%BA%B7n.aspx[truy cập ngày 24/8/2014].
GVHD: Võ Hoàng Yến
chuẩn mực liên quan đến việc thiết lập một cách thức ứng xử bắt buộc chung đối với
môi trường không khí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Quy chuẩn môi
trường không khí được xem là nền tảng của cho hoạt động bảo vệ môi trường không
khí.
Quy chuẩn môi trường không khí do từng quốc gia xây dựng trên cơ sở các
điều kiện tự nhiên - xã hội ở quốc gia mình. Các cơ sở này dựa vào điều kiện tự
13
Khoản 2 Điều 3 Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006.
GVHD: Võ Hoàng Yến
20
SVTH: Nguyễn Văn Đấu
Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí – Thực trạng tại thành phố Hồ Chí Minh
nhiên như cây xanh che phủ, độ phì nhiêu của đất,.. hoặc có các điều kiên về trình độ
khoa học kỹ thuật, tốc độ phát triển kinh tế,… nên việc quy định về quy chuẩn môi
trường không khí cũng khác nhau. Quy chuẩn môi trường không khí thường mang
tính chất đặt thù.
2.1.1.2. Một số quy chuẩn môi trường không khí cụ thể theo pháp luật Việt
Nam
Pháp luật Việt Nam hiện nay có 41 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi
trường,trong đó 10 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến môi trường không khí
14
21
SVTH: Nguyễn Văn Đấu