TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TRẦN THỊ KIM THO
MSSV: 6116154
TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN TRONG KINH THI
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn
Cán bộ hướng dẫn: TẠ ĐỨC TÚ
Cần Thơ, năm 2014
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài.................................................................................................. 2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .................................................................................. 3
3. Mục đích nghiên cứu........................................................................................... 6
4. Phạm vi nghiên cứu............................................................................................. 6
5. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................... 7
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................... 8
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG ................................................... 9
1.1. Khái quát về Kinh Thi ...................................................................................... 9
1.1.1. Giới thiệu chung và tên gọi Kinh Thi ........................................................ 9
3.1. Thể thơ ........................................................................................................... 84
3.2. Ba thủ pháp nghệ thuật nổi bật nhất trong Kinh Thi với đề tài tình yêu và hôn
nhân. ...................................................................................................................... 87
3.2.1. Phú ........................................................................................................... 87
3.2.2. Tỷ ............................................................................................................. 91
3.2.3. Hứng ........................................................................................................ 95
3.3. Kết cấu dân ca nổi bật trong Kinh Thi với đề tài tình yêu và hôn nhân......... 98
3.4. Ngôn ngữ trong Kinh Thi với đề tài tình yêu và hôn nhân .......................... 104
Tiểu kết .......................................................................................................... 108
PHẦN KẾT LUẬN...................................................................................... 109
PHẦN MỞ ĐẦU
1
1. Lí do chọn đề tài
Là một quốc gia rộng lớn với hơn năm mươi lăm dân tộc anh em và năm nghìn
năm lịch sử, Trung Quốc đã tích lũy cho mình một kho tàng văn hóa với hình thức vô
cùng đa dạng, nội dung đậm đà, sâu sắc và có sức sống mãnh liệt cùng với thời gian.
Vùng đất này đã cho ra đời không ít những tác phẩm cổ điển có sức ảnh hưởng không
chỉ trong vùng mà còn lan tỏa ra khắp các nước trong khu vực và thế giới. Vì thế, việc
tìm hiểu văn học Trung Quốc là một công việc cần thiết để nhiều người hiểu rõ hơn về
nền văn học của quốc gia này. Qua đó, nhiều nhà nghiên cứu có những nhận định lại vị
thế của nó trên trường quốc tế.
Khi tìm hiểu về văn học Trung Quốc, chúng ta không thể nào bỏ qua Kinh Thi –
bộ tổng tập thơ ca cổ nhất của đất nước này. Khổng Tử nói: “bất học Thi, vô dĩ ngôn”
lĩnh vực nào trong đời sống tinh thần và xã hội Trung Quốc cổ đại người nghiên cứu
đều không thể bỏ qua. Sở dĩ nói như thế vì Kinh Thi là bức tranh muôn màu, muôn vẻ,
vẽ lên toàn cảnh về đời sống tinh thần lẫn vật chất của con người Trung Hoa thời
thượng cổ. Trong Kinh Thi, cái quý nhất chính là tình cảm chân thật, trong sáng của
nhân dân lao động gửi gắm vào từng ý nhạc, lời thơ. Đến với Kinh Thi là đến với sự
phong phú, đa dạng của tâm hồn, đến với một vườn hoa thơ ca ngọt ngào hương sắc.
Kinh Thi là tiếng nói tâm tình ngọt ngào của nhân dân Trung Hoa thời cổ đại.
Có nhiều học giả nghiên cứu về Kinh Thi như:
Trong Bài giảng văn học Trung Quốc của Lương Duy Thứ, ông đã tổng hợp
nhiều tác phẩm lớn, tiêu biểu, có ít nhiều liên quan đến văn học Việt Nam ở cả bốn bộ
phận: văn học cổ đại: Kinh Thi, Sở từ, Sử ký,…, văn học trung đại: Thơ Đường (chủ
yếu học thơ Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị), tiểu thuyết Minh, Thanh (Tam quốc, Tây
Du, Hồng Lâu Mộng, Liêu trai chí dị),…,văn học cận đại: thơ văn Lương Khải Siêu,
Lỗ Tấn, Tào Ngu,…, văn học hiện đại: Triệu Thụ Lý, Đinh Linh, Quỳnh Giao, Kim
Dung,…
Trong bài giảng của mình, ông đặc biệt chú ý và giới thiệu nhiều về Kinh Thi ở
cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
Trong Văn học Trung Quốc, hai tác giả Nguyễn Khắc Phi và Lương Duy Thứ
cũng điểm sơ qua Kinh Thi trong phần tổng kết văn học Trung Quốc cổ trung đại. Kinh
Thi được nhắc đến như một nền móng khá vững chắc cho nền văn học hiện thực của
Trung Quốc.
3
Trong Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ xưa của I.S. Lisevich do Trần Đình
Sử dịch, Kinh Thi được đề cập đến thông qua các thủ pháp nghệ thuật như: phú, tỉ và
hứng.
Trong Thơ văn cổ Trung Hoa mảnh đất quen mà lạ, Nguyễn Khắc Phi đã
nhắc đến Kinh Thi với một số bài ca dao về tình yêu và hôn nhân, nhưng những bài ca
dao này chỉ được liệt kê ra chứ chưa được phân tích và làm sáng tỏ về nội dung cũng
sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ như: điệp ngữ, song thanh, điệp vận,...Quyển
sách này nói về Kinh Thi như một sự thành công về nghệ thuật, còn nội dung thì chưa
được đề cập đến.
Trong Giáo trình cổ văn (tập một) của Đặng Đức Siêu biên soạn, Kinh Thi
được nhắc đến là một tuyển tập thơ ca ra đời sớm nhất ở Trung Quốc, ông cũng chọn
lựa một số tác phẩm tiêu biểu, có giá trị cao về nội dung và nghệ thuật đưa vào giáo
trình với một vài lời nhận xét khái quát cho từng bài thơ.
Trên trang web lichsuvn.net có bài viết về Tình yêu trong thời đại Kinh Thi.
Bài viết đã giới thiệu hoàn cảnh lịch sử, xã hội của đất nước Trung Hoa thời thượng cổ
chi phối tình yêu trong Kinh Thi và cũng dẫn ra một số thiên trong Kinh Thi tiêu biểu
cho tình yêu đôi lứa được nhiều người biết đến nhưng chưa đi sâu vào phân tích.
Trên trang web thivien.net có bài Giới thiệu Kinh Thi của tác giả Bửu Cầm.
Bài viết đã giới thiệu về nguồn gốc, nội dung, địa vực thời đại, tác giả và văn chương
trong Kinh Thi, tuy chưa nghiên cứu sâu nhưng cũng đã khái quát được những vấn đề
cần nắm bắt trong quyển thi ca cổ này.
Trên trang web motsach.info có bài được sưu tầm về Kinh Thi, thi phẩm được
nghiên cứu về một số khía cạnh như nguồn gốc, phân loại, hình thức, nội dung, trích
dẫn một vài bài tiêu biểu và đặt biệt là có bàn đến sự ảnh hưởng của Kinh Thi với thơ
văn Trung Quốc và Việt Nam ở giai đoạn sau nó.
Trên trang web Thế giới của tôi có đăng bài tiểu luận viết về đề tài Tình yêu
nam nữ trong Kinh Thi của sinh viên Nguyễn Minh Sang. Tiểu luận cơ bản trình bày
được các vấn đề cần bàn đến trong đề tài. Tuy nhiên, mức độ phân tích, đánh giá chủ
yếu mang tính khái quát, chưa đi sâu vào phân tích và chưa làm rõ vấn đề.
Mặc dù số lượng bài viết, bài nghiên cứu đã nghiên cứu về Kinh Thi tương đối
nhiều, tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa tìm ra được một công trình nghiên cứu nào chuyên
5
sâu về Kinh Thi với đề tài tình yêu và hôn nhân. Nếu có thì nội dung chỉ nói sơ lược,
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết đã tiến hành tiếp cận tìm đọc tài liệu,
nghiên cứu, tham khảo các tài liệu có liên quan trên sách, trên các phương tiện truyền
thông,… chú ý chọn lọc và đánh dấu các bài thơ, ca dao trong Kinh Thi liên quan đến
đề tài. Sau đó, người viết dùng các phương pháp: phương pháp thống kê, tổng hợp,
phương pháp hệ thống để phân tích, đánh giá, làm rõ vấn đề. Đặc biệt, thơ văn cổ
Trung Quốc thường cô đọng, hàm súc, ý tại ngôn ngoại nên người viết chú trọng
nghiên cứu về phần dịch nghĩa và phần chú thích, cốt để thấy được nội dung, còn phần
dịch thơ chỉ để lấy vần cho dễ nhớ.
Nghiên cứu Kinh Thi không chỉ dựa vào văn bản mà còn dựa vào đời sống sinh
hoạt của người dân, đặc biệt là đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Trung Hoa
thời thượng cổ. Vì thế, người viết còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành
cộng với sự hiểu biết của bản thân về lịch sử, xã hội Trung Quốc thời cổ đại để đi vào
tìm hiểu đề tài: “Tình yêu và hôn nhân trong Kinh Thi”.
7
PHẦN NỘI DUNG
8
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái quát về Kinh Thi
1.1.1. Giới thiệu chung và tên gọi Kinh Thi
1.1.1.1. Giới thiệu chung về Kinh Thi
kỷ XI trước công nguyên) đến giữa Xuân Thu (thế kỷ VI trước công nguyên).
Chế độ xã hội trong thời kỳ hình thành Kinh Thi là chế độ nô lệ (thực ra là cuối
nô lệ, đầu phong kiến), đây là giai đoạn áp bức bóc lột diễn ra kiểu nô lệ, lễ giáo
phong kiến còn chưa ăn sâu vào đời sống xã hội như giai đoạn sau này.
1.1.3. Vấn đề biên soạn Kinh Thi
Có ba thuyết về vấn đề biên soạn Kinh Thi:
Thuyết thứ nhất cho rằng Kinh Thi do Khổng Tử biên soạn. Sách Sử ký 史記
(thiên Khổng tử thế gia 孔子世家) có viết: ban đầu, Kinh Thi có tới hơn ba nghìn thiên
(bài), Khổng Tử soạn lại thành ba trăm bài để dạy học trò của mình. Thuyết này chưa
thuyết phục, bởi vì trước Khổng Tử đã có quyển Kinh Thi ba trăm lẻ năm bài, Khổng
Tử chỉ làm công việc san định và giải thích chứ không làm công việc biên soạn Kinh
Thi. Tuy nhiên, công lao của ông trong việc định hình Kinh Thi từ thơ ca dân gian
thành một tác phẩm kinh điển là không hề nhỏ. Trong sách Luận Ngữ 論語 có chép lời
của Khổng Tử: “Ta từ Vệ trở về Lỗ, mới chỉnh lí Nhã Chính, Nhã Tụng cho thứ nào ra
thứ ấy”. Khổng Tử đã sử dụng Kinh Thi như một chuẩn mực đạo lý để giáo dục học
trò của mình. Hàng ngày, ông thường bàn bạc, thảo luận với họ về các vấn đề của Kinh
Thi.
Thuyết thứ hai thì cho rằng, phần lớn những bài thơ, ca dao trong Kinh Thi là
do các quan “thái thi” (chọn thơ) đời Chu tuyển chọn để dâng lên vua. Trong sách Lễ
ký có chép: “Thiên tử cứ năm năm đi tuần thú một lần. Tháng hai năm ấy đi tuần thú
đến núi Đại Tông ở phía đông, thắp hương nến tế vọng núi sông. Thăm chư hầu, hỏi
về các bậc cao tuổi và đến gặp. Truyền mệnh cho quan Thái sư đến trình thơ để xem
xét nề nếp của dân chúng. Mệnh cho quan coi chợ trình giá cả để xem xét sự thích,
ghét trong dân, ghi chép nết hay, nết xấu phổ biến. Mệnh cho quan Điển lễ khảo sát
thời tiết, tháng để định ngày trước sau. Xem xét luật lệ, chế độ, y phục, chỉnh lại cho
10
đồng bộ”. Việc thu thập thơ ca đã được nhà Chu tiến hành một cách nghiêm túc, có
quan đặc trách theo quy chế nhà nước: Thái sư. Vị quan này có nhiệm vụ quản lí mạng
(thuộc Lộc minh chi thập 鹿鳴之什), Bạch hoa
白華, Hoa thử 華黍,
Do
canh 由庚, Sùng khâu 崇丘, Do nghi 由儀 (thuộc Bạch hoa chi thập 白華之什). Theo
một số nhà nghiên cứu, sáu bài này là nhạc ca, tên bài thì còn, nhưng điệu nhạc đã mất,
vì vậy không chép vào Kinh Thi được.
Với ba trăm lẻ năm bài còn lại trong Kinh Thi, có nhiều tiêu chí để phân chia
kết cấu như sau:
Theo thời kì lịch sử:
Thơ thời kì đầu Tây Chu (từ Vũ vương đến Hiếu vương, từ năm 1066 đến năm
869 trước công nguyên) bao gồm toàn bộ Chu tụng, một bộ phận nhỏ Đại nhã và một
ít bài của Phong.
Thơ thời kì cuối Tây Chu (từ Di vương đến lúc Bình vương thiên đô về Đông,
từ năm 869 đến năm 770 trước công nguyên) bao gồm đại bộ phận trong Đại nhã và
Tiểu nhã (chỉ trừ một số bài cá biệt như “Đô nhân sĩ”) cùng một số ít bài trong Phong.
Thơ Đông Chu (từ Bình vương dời đô về Đông đến cuối Xuân thu, từ năm 770
đến năm 475 trước công nguyên) ngoài Thương tụng và Lỗ tụng ra thì còn lại đều là
Phong.
Theo nhạc điệu:
Phong: còn gọi là Quốc phong, có một trăm sáu mươi thiên, chia làm mười lăm
quyển, gồm có:
Chính Phong: Chu nam và Thiệu nam.
Biến phong: Bội phong, Dung phong, Vệ phong, Vương phong, Trịnh
phong, Tề phong, Ngụy phong, Đường phong, Tần phong, Cối phong, Tào phong, Bân
phong.
Đây là những bài thơ, ca dao, dân ca của mười lăm nước chư hầu, là tác phẩm
tiêu biểu của miền bắc Trung Quốc (thuộc các tỉnh Sơn Đông, Thiểm Tây, Hà Bắc, Hà
lệ.
Trong thời đại của Kinh Thi, nhân dân luôn sống trong cảnh cơ cực với thân
phận là những nô lệ. Họ phải làm việc cật lực, quanh năm, suốt tháng để nuôi bọn chủ
nô ăn sung mặc sướng. Là một bài ca tám chương, mỗi chương miêu tả một mùa làm
ăn, “Thất nguyệt” (tháng bảy) trong Bân Phong mang dáng dấp của một bài “nông gia
13
lịch”. Đó không chỉ là một bài ca miêu tả về tập quán làm ăn mà còn là một bức tranh
muôn màu muôn vẻ về cuộc sống thống khổ của nhân dân lao động sống dưới ách bóc
lột nặng nề thời bấy giờ. Họ phải làm đủ thứ công việc, từ cày ruộng, dệt vải, săn bắn
đến làm nhà, đục băng, nấu rượu cho bọn thống trị. Trong khi đó, họ luôn phải sống
trong cảnh đói rét, thê lương.
Mở đầu “Thất nguyệt”, tác giả đã lo lắng cho những ngày giá rét, lạnh buốt da
khi sắp đến tháng mười một, tháng mười hai:
七月 1
Thất nguyệt 1
一之日觱發,
Nhất chi nhật tất phế (phát),
二之日栗烈;
Nhị chi nhật lật lệ (liệt).
無衣無褐,
Vô y vô hệ (hạt)
Tháng bảy 3
Bắt đầu tháng tám thì vừa kéo gai.
Huyền và vàng nhuộm ngay tức khắc
Nhuộm đỏ thì trông rất tươi xinh,
May quần công tử nước mình.
14
Cho dù công việc kéo lụa, dệt vải đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Thế nhưng, họ
vẫn phải đi săn bắn, lột da thú cho công tử làm áo để giữ ấm, chống khí lạnh:
七月 4
Thất nguyệt 4
一之日于貉,
Nhất chi nhật vu hạc
取彼狐貍,
Thủ bỉ hồ ly
為公子裘。
Vi công tử kỳ (cầu).
Tháng bảy 4
Tháng mười một săn loài chồn dữ
Bắt sạch cho hết thứ cáo này.
Áo da công tử vội may.
穹窒熏鼠,
Khung truất huân thử.
塞向墐戶。
Tắc hướng cận hộ.
嗟我婦子,
Ta ngã phụ tủ (tử)
曰為改歲,
Viết vi cải tuế.
入此室處。
Nhập thử thất xử.
15
Tháng bảy 5
Dế tháng mười chung giữa gầm sàng.
Để xông khói chuột, bít hang.
Bít song hướng bắc để ngăn gió vào.
Dặn vợ con ta mau ghi nhớ
Rằng: Tháng mười sẽ trở tân niên,
Hãy vào nhà ấy ở liền.
Đời sống của con người trong kiếp nô lệ luôn chịu sự quan sát, quản lý của bọn
Sống dưới chế độ ấy, những con người mang thân phận nô lệ không có một
chút quyền lợi nào, ngay cả thân thể họ cũng chẳng thuộc về họ:
七月 2
Thất nguyệt 2
春日載陽,
Xuân nhật tái dương.
有鳴倉庚。
Hữu minh thương cang (canh).
女執懿筐,
Nữ chấp ý khuông,
遵彼微行,
Tuân bỉ vi hàng (hành).
爰求柔桑。
Viên cầu nhu tang.
16
春日遲遲,
động từ đàn ông đến đàn bà đều phải làm đủ thứ công việc với không khí căng thẳng,
mệt mỏi vì luôn có người giám sát:
“Tháng giêng nông cụ sửa mau
Tháng hai cất bước cày sâu ngoài đồng…
Bắt đầu tháng tám thì vừa kéo gai…
Tháng chín dựng kho nơi vườn cũ…
Tháng chín trai gái mau đi lặt…
Tháng mười sang quét tước nông trang…
Nếp thì thu gặt tháng mười cho xong…
Tháng mười một săn loài chồn dữ…
Tháng chạp đục lấy nhiều nước đá…
17
Tháng giêng đem giấu cả hầm sâu…”
Những con người này sống dưới chế độ nộ lệ, thân phận họ luôn bị xem
thường, rẻ rúng. Họ bị bọn chủ nô xem như những công cụ để sản xuất ra những sản
phẩm phục vụ cho đời sống của giới quý tộc,… Thế nhưng, bên cạnh những lời than
thở kia, ta lại thấy ở họ có cái làm ta cảm phục. Đó chính là tinh thần vươn lên trước
mọi khổ cực, bất công, ngang trái để hướng đến và chăm lo cho một tương lai tươi
sáng hơn, sung túc hơn. Ở “Thất nguyệt”, nếu năm chương đầu là lời than thở thì ba
chương cuối mang hơi hướng của sự lạc quan, tin tưởng vào bậc Thiên tử, tin tưởng
vào một ngày mai tươi sáng:
七月 6
Thất nguyệt 6
為此春酒,
Vi thử xuân tửu,
Thử tắc trùng lực (lục).
禾麻菽麥。
Hoà ma thúc cức (mạch).
嗟我農夫,
Ta ngã nông phu.
我稼既同,
Ngã giá ký đồng.
上入執宮功
Thượng nhập chấp cung công.
Tháng bảy 7
Tháng chín dựng kho nơi vườn cũ,
Tháng mười thì đem trữ lúa vào.
Nếp, gạo chín trước chín sau,
Lúa gai đậu mạch dồi dào đầy kho.
Ôi! Những kể nông phu ta ấy,
Lúa đã gom vào đấy vừa xong.
Vào thành làm việc trong cung.
Có thể nói, tám chương trong “Thất nguyệt” đã phát thảo nên những nét chính
trong bức tranh toàn cảnh của nhân dân lao động Trung Hoa thời bấy giờ: có cảnh làm
việc vất vả, cực nhọc,… cũng có cảnh được ăn uống, vui chơi,…Bên cạnh đó, bài thơ
集于苞桑。
Tập vu bao tang.
王事靡盬,
Vương sự mỹ cổ,
不能蓺稻粱。
Bất năng nghệ đạo lương.
父母何嘗?
Phụ mẫu hà thường ?
悠悠蒼天,
Du du thương thiên,
曷其有常。
Hạt kỳ hữu thường ?
Cánh chim bảo 3
Kết thành hàng nghe bay chim bảo,
Trên bụi dâu cùng đậu lại đầy.
Việc vua hoàn hảo lo ngay.
Cấy trồng dé mạch nào ai rảnh gì.
Ôi cha mẹ lấy chi ăn hỡi?
Trời xanh kia diệu vợi mà cao.
Kê tê (thê) vu thì,
日之夕矣,
Nhật chi tịch hĩ,
羊牛下來。
Dương ngưu hạ ly (lai).
君子于役,
Quân tử vu dịch,
如之何勿思?
Như chi hà vật ti (tư).
Chàng đi làm 1
Bấy lâu chàng tách ra đi,
Trở về chẳng rõ hạn kỳ nào hay.
Bây giờ chàng tới đâu đây?
Gà vừa lên ổ cả bầy yên nơi.
Ngày đà bảng lảng tối rồi,
Bò dê lần lượt nối đuôi về chuồng.
Bấy lâu chàng tách đi luôn.
Làm sao em chẳng nhớ buồn vì ai?
hay chỉ là biết chàng chẳng đói khát cũng đã an tâm:
君子于役 2