Vai trò của khoa học kỹ thuật công nghệ với nền kinh tế Việt Nam - Pdf 30

1. Định nghĩa tri thức, khoa học, công nghệ
a) Tri thức:
•Tri thức là các thông tin, các tài liệu, các cơ sở lý luận, các kỹ năng
khác nhau, đạt được bởi một tổ chức hay một cá nhân thông qua các trải
nghiệm thực tế hay thông qua sự giáo dục đào tạo; các hiểu biết về lý thuyết
hay thực tế về một đối tượng, một vấn đề, có thể lý giải được về nó; là những
gì đã biết, đã được hiểu biết trong một lĩnh vực cụ thể hay toàn bộ, trong tổng
thể; là các cơ sở, các thông tin, tài liệu, các hiểu biết hoặc những thứ tương tự
có được bằng kinh nghiệm thực tế hoặc do những tình huống, hoàn cảnh cụ
thể. Những tranh cãi về mặt triết học nhìn chung bắt đầu với phát biểu của
Plato: tri thức như là "justified true belief". Tuy nhiên không có một định
nghĩa chính xác nào về tri thức hiện nay được mọi người chấp nhận, có thể
bao quát được toàn bộ, vẫn còn nhiều học thuyết, các lý luận khác nhau về tri
thức

•Tri thức giành được thông qua các quá trình nhận thức phức tạp: quá
trình tri giác quá trình học tập, tiếp thu, quá trình giao tiếp quá trình tranh
luận, quá trình lý luận hay kết hợp các quá trình này

•Tri thức có 2 dạng tồn tại chính là tri thức ẩn và tri thức hiện
• Tri thức hiện là những tri thức được giải thích và mã hóa dưới dạng
văn bản, tài liệu, âm thanh, phim, ảnh,… thông qua ngôn ngữ có lời hoặc
không lời, nguyên tắc hệ thống, chương trình máy tính, chuẩn mực hay các
phương tiện khác. Đây là những tri thức đã được thể hiện ra ngoài và dễ dàng
chuyển giao, thường được tiếp nhận qua hệ thống giáo dục và đào tạo chính
quy
•Tri thức ẩn là những tri thức thu được từ sự trải nghiệm thực tế, dạng tri
thức này thường ẩn trong mỗi cá nhân và rất khó “mã hóa” và chuyển giao,
1
thường bao gồm: niềm tin, giá trị, kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng... VD:
Trong bóng đá, các cầu thủ chuyên nghiệp có khả năng cảm nhận bóng rất tốt.

khoa học và kỹ nghệ . Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết
các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình
tiêu chuẩn . Việc tiêu chuẩn hóa như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ.
Khái niệm về kỹ thuật Kỹ thuật được hiểu là bao gồm toàn bộ những phương
tiện lao động và nhưng phương pháp tạo ra cơ sở vật chất.
Công nghệ (có nguồn gốc từ technologia, hay τεχνολογια, trong tiếng
Hy lạp ; techne có nghĩa là thủ công và logia có nghĩa là "châm ngôn") là một
thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người. Tuỳ vào
từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu:
•công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề;
•các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến
trình để giải quyết một vấn đề;
•Các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau
d) Mối quan hệ giữa khoa học, kỹ nghệ và công nghệ:
Khoa học nghiên cứu các sự kiện tự nhiên. Kỹ nghệ là ứng dụng của các
kiến thức khoa học để phát triển sản phẩm. Công nghệ là việc sử dụng các sản
phẩm đã kỹ nghệ hóa.
Ví dụ: Chuyển động của các điện tử (êlêctrôn) sinh ra dòng điện, đây là
một yếu tố hay khái niệm trong khoa học vật lý. Khi dòng điện truyền qua
một chất bán dẫn như silic (Si) hay gecmani (Ge) thì cơ chế này được biết
3
như là điện tử học. Việc sản xuất các thiết bị điện tử sử dụng các khái niệm
của điện tử học được hiểu như là kỹ nghệ điện tử. Máy tính được phát triển sử
dụng công nghệ điện tử. Việc sử dụng máy tính để lưu trữ thông tin số hóa
cũng như việc biến đổi và gửi các thông tin này từ một điểm đến một điểm
khác bằng các thiết bị liên lạc viễn thông một cách an toàn là công nghệ thông
tin.
Thuật ngữ công nghệ vì vậy thông thường được đặc trưng bởi các phát
minh và cải tiến sử dụng các nguyên lý và quy trình đã được khoa học phát
hiện ra gần đây nhất. Tuy nhiên, thậm chí cả phát minh cổ nhất như bánh xe

tia rơnghen và hiện tượng phóng xạ, sự phân chia của nguyên tử, bản chất hạt
sóng của ánh sáng, khởi thảo thuyết lượng tử và thuyết tương đối học, tìm ra
những định luật và định lí mới về toán học, lí học, hoá học Với những phát
minh lớn về lí thuyết hạt nhân, về sóng điện từ, trường điện từ, hiện tượng
phóng xạ…, vật lí học đã góp phần quan trọng trong việc sản xuất ra những
công cụ mới, vật liệu mới, nguồn năng lượng nguyên tử và những phương
tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc hết sức hiện đại.
Cuộc cách mạng trong sinh vật học đã dẫn đến cuộc “cách mạng xanh”
trong nông nghiệp và sự ra đời của Phỏng sinh học và công nghệ sinh học,
bao gồm công nghệ sinh hoá, y và dược sinh hoá, công nghệ sinh vật chế biến
thực phẩm, công nghệ sinh học chống ô nhiễm và bảo vệ môi trường.
Đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện nay là
cuộc cách mạng khoa học và cách mạng kỹ thuật gắn bó chặt chẽ với nhau,
5
hầu như tất cả những khuynh hướng chủ yếu của khoa học cơ bản hiện nay
đều gắn liền với lĩnh vực này hay lĩnh vực khác của kỹ thuật và sản xuất như
khoa vật lí hạt nhân và năng lượng nguyên tử, môn điều khiển học và tự động
học, môn phỏng sinh học v.v…
Thứ hai, các nhà khoa học đã có những phát minh lớn về những công cụ
sản xuất mới, trong đó có ý nghĩa to lớn nhất là sự ra đời của máy tính, máy
tự động và hệ thống máy tự động.
Con người thông minh nhất trong 1 phút cũng chỉ giải được một số phép
tính, nhưng ngày nay, với máy tính hệ hiện đại nhất, con người có thể giải
được hàng chục triệu phép tính trong một giây. Máy tính làm thơ, m
b) Tác động trực tiếp của các cuộc cách mạng khoa học công nghệ tới
nền kinh tế thế giới
Mọi nền kinh tế đều có các lĩnh vực sản xuất, lưu thông và tiêu dùng.
Các lĩnh vực đó hợp thành một hệ thống thống nhất, có sự tác động qua lại,
trong đó lĩnh vực sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất. Do đó, đánh giá trình
độ phát triển của một nền kinh tế, trước hết phải căn cứ vào trình độ phát triển

tế công nghiệp công xưởng - sau này nói gọn là kinh tế công nghiệp - là công
cụ sản xuất cơ khí hay thường gọi là máy móc.
Từ khi ra đời cho đến khoảng giữa thế kỷ XX, sau gần 200 năm, công
cụ cơ khí không ngừng được cải tiến và hoàn thiện, được nâng lên trình độ tự
động dựa trên các thành tựu chủ yếu của vật lý học cổ điển. Việc điều khiển
nhiều khâu trong công cụ cơ khí đã được tự động hóa ở mức thấp đưa vào
những cơ cấu kỹ thuật cơ - điện vĩ mô. Sự tự động hoá này được gọi là tự
7
động hoá cứng vì nó kém tính linh hoạt và khó thực hiện trong toàn bộ một
đây chuyền sản xuất. Hơn nữa, khi một dây chuyền đã được thiết kế cho việc
sản xuất một loại sản phẩm nào đó, nếu muốn thay đổi kích cỡ, mẫu mã, kiểu
dáng ... thì rất khó khăn, tốn kém và mất nhiều thời gian. Vì vậy, việc tự động
hoá này tuy có đem lại sự tăng năng suất lao động, nhưng chưa đưa. đến một
cuộc cách mạng trong sản xuất công nghiệp và do đó, nó chỉ được coi là bộ
phận phát triển của cơ khí hóa. Đây được coi là cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật lần thứ nhất và những thành tựu nổi bật nó mang lại là:
Năm 1733 John Kay đã phát minh ra "thoi bay". Phát minh này đã làm
người thợ dệt không phải lao thoi bằng tay và năng suất lao động lại tăng gấp
đôi.
Năm 1765 James Hagreaves đã chế được chiếc xa kéo sợi kéo được 8
cọc sợi một lúc. Ông lấy tên con mình là Jenny để đặt cho máy đó.
Năm 1769, Richard Arkrwight đã cải tiến việc kéo sợi không phải bằng
tay mà bằng súc vật, sau này còn được kéo bằng sức nước.
Năm 1785, phát minh quan trọng trong ngành dệt là máy dệt vải của linh
mục Edmund Cartwright. Máy này đã tăng năng suất dệt lên tới 40 lần.
Phát minh trong ngành dệt cũng tác động sang các ngành khác. Lúc bấy giờ,
các nhà máy dệt đều phải đặt gần sông để lợi dụng sức nước chảy, điều đó bất
tiện rất nhiều mặt. Năm 1784, James Watt phụ tá thí nghiệm của trường Đại
học Glasgow (Scotland) đã phát minh ra máy hơi nước. Nhờ phát minh này,
nhà máy dệt có thể đặt bất cứ nơi nào. Không những thế phát minh này còn có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status