Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đề án quản trị kinh doanh
tổng hợp
Mục Lục
Đề Mục Nội Dung Số Trang
Lời Nói Đầu………………………………………………………………4
Chương I : khái quát những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng
và hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam…………………………5
I. khái niệm xuất khẩu………………………………………………………5
II. Nội dung hoạt động xuất khẩu…………………………………………..5
1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu…………………………………….6
1.1. Phân tích tình hình ở nước có thể nhập hàng…………………….6
1.2. Nghiên cứu nhu cầu thị trường ………………………………..6
1.3. Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh …………………………………6
1.4. Nghiên cứu giá cả hàng hoá…………………………………….6
2. Xây dựng kế hoạch kinh doanh xuất khẩu…………………………..6
3.Tổ chức thực hiện và đánh giá các hợp đồng xuất khẩu……………7
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
III. Ngành thủ công mỹ……………………………………………………8
1. Vị trí và vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với nền
kinh tế……………………………………………………………………8
2.Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ…8
2.1. Đặc điểm mặt hàng……………………………………….8
2.2. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu…………………………8
2.3. các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ………………………………………………………………..8
Đề tài : Một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng thủ
công mỹ nghệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Xuất khẩu là một không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế
của mỗi quốc gia. nhận thức được điều đó, năm 1986 thực hiện đường lối
đổi mới, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra định hướng “ Kinh tế
đối ngoại là trọng điểm, xuất khẩu là một trong ba chương trình kinh tế chủ
đạo của đất nước ” . Hơn 15 năm đổi mới, nhà nước đã ban hành nhiều chủ
trương chính sách nhằm khuyến khích xuất khẩu, đặc biệt là những lĩnh vực
phát huy được lợi thế của nước nông nghiệp như nước ta. Nền kinh tế nước
ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế giới,
với phương châm “ đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá mối quan hệ kinh
tế” thông qua con đường xuất khẩu để nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả
của sự phát triển. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu thường phức tạp hơn
nhiều so với kinh doanh trên thị trường nội địa , do quy mô thị trường rộng
lớn khó kiểm soát, không cập nhật được thông tin kịp thời, đồng thời sự
khác nhau về văn hóa phong tục và luật pháp cũng gây không ít khó khăn.
Kinh doanh trên th ị trường quốc tế, doanh nghiệp phải chịu cả sự cạnh tranh
gay gắt của các đối thủ. vì vậy, chúng ta cần hoạch định chiến lược, định
hướng về xuất khẩu là phải lấy nhu cầu thị trường thế giới làm mục tiêu cho
nền sản xuất trong nước sao cho thích ứng với đòi hỏi của thế giới và đặt
nền kinh tế quốc gia trong lợi thế so sánh của quốc gia.
Hiện nay thủ công mỹ nghệ là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu quan
trọng đem về cho đất nước nhiều ngoại lớn nhất. Đây là mặt hàng có truyền
thống lâu đời, mang đậm văn hoá dân tộc. Nó được xuất khẩu khá sớm so
với các mặt hàng khác, đã đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu của
cả nước, đồng thời có một vai trò quan trọng trong giải quyết một số vấn đề
kinh tế xã hội tại nông thôn như làm tăng thu nhập cho người lao động, xoá
Và nó còn là cơ sở để thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển.
xuất khẩu là hoạt động kinh doanh ở phạm vi quốc tế, nó không phải là hành
vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một
nền thương mại có tổ chức, nhằm đẩy nhanh sản xuất hàng hoá phát triển,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao đời sống nhân
dân.
Việt Nam là nước đang phát triển, nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hâu. Nhưng
nước ta ẩn chứa nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động dồi dào, ngược lại
những nhân tố như vốn, kỹ thuật, trình độ quản lý lại thiếu. thực chất hướng
vào xuất khẩu để tranh thủ vốn, kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài kết hợp
nguồn lao động và tài nguyên sẵn có nhằm mục đích đưa nền kinh tế Việt
Nam tăng trưởng, bắt kịp các nứoc phát triển trong khu vực và thế giới
II. Nội dung hoạt động xuất khẩu
3. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
1.1. Phân tích tình hình ở nước có thể nhập hàng
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đây là bước nghiên cứu quan trọng trước khi doanh nghiệp xuất khẩu
muốn đi sâu vào nghiên cứu nhà nhập khẩu ở nước đó. Trước hết cần phải
nghiên cứu xem diện tích nước nhập khẩu là bao nhiêu, dân số như thế nào,
chế độ chính trị xã hội, tài nguyên kinh tế của nước đó như thế nào, tốc độ
phát triển kinh tế, tình hình tài chính, tiền tệ, chính sách nhập khẩu ra sao…
1.2. Nghiên cứu nhu cầu thị trường
Doanh nghiệp xuất khẩu cần nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng
của người tiêu dùng từ đó mới có thể lựa chọn mặt hàng phù hợp để xuất
khẩu, phải nghiên cứu kĩ thêm nhu cầu đó về mặt hàng gì lớn nhất? Có
thường xuyên hay không, đó có phải là nhu cầu tiềm năng không?
1.3. Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh
Doanh nghiệp cần phải xem xét kĩ có bao nhiêu doanh nghiệp khác cung
cấp hàng hoá giống doanh nghiệp của mình vào thị trường đó, thị phần của
- bước 3 : đặt hàng
- bước 4 : hoàn giá ( mặc cả về giá hoặc điều kiện giao dich)
- bước 5 : chấp nhận điều kiện của chào hàng mà phía kia đưa ra
- bước 6 : xác nhận lại mọi thoả thuận với đối phương
III. Ngành thủ công mỹ
1. Vị trí và vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với nền
kinh tế
Xuất khẩu là một tất yếu khách quan và có vai trò quan trọng đối với các
quốc gia. Tuy không phải là mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn như gạo, thuỷ hải
sản, than đá, dệt may … nhưng hàng thủ công mỹ nghệ góp phần không nhỏ
vào nâng cao nền kinh tế đất nước.
Ở Việt Nam, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đã có từ rất lâu, cùng với sự
giao lưu văn hoá, mở rộng kinh tế giữa các nước trên thế giới, hàng thủ công
mỹ nghệ việt nam đã có mặt trên rất nhiều thị trường các nước Đông Nam
Á, Đông Á, Châu Âu, Mỹ và Nam Mỹ. và dần dần khẳng định được chỗ
đứng của mình trên thị trường quốc tế.
Xuất khẩu hàng mỹ nghệ lại mang về cho đất nước thực thu ngoại tệ có
một tỷ trọng rất cao trong kim ngạch xuất khẩu của mình. So với một số mặt
hàng khác như may mặc, gỗ và giày da do nguyên liệu đều phải nhập khẩu
từ nước ngoài giá trị gia tăng của các ngành này chủ yếu là chi phí gia công
và khấu hao máy móc thiết bị, cho nên giá trị thực thu ngoại tệ mang về cho
đất nước chỉ chiếm một tỷ trọng từ 5-20% trong tổng giá trị kim ngạch nhập
khẩu. Theo tính toán, hàng TCMN sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu
sẵn có trong nước, nguyên phụ liệu nhập ước tính chỉ chiếm từ 3 – 3,5% giá
trị xuất khẩu. như năm 1999 ( nếu không kể đồ gỗ xuất khẩu ) kim ngạch là
171 triệu USD, năm 2000 đạt 237 triệu ÚSD, năm 2001 đạt 237 triệu USD,
năm 2003 đạt 320 triệu USD. Theo dự báo của các chuyên gia thì kim ngạch
xuất khẩu mặt hàng này sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu về các sản phẩm thủ
công mỹ nghệ trên thế giới có xu hướng tăng trong những năm tới
7
xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm 1,5% kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng
này của Mỹ, 1,7% của Nhật Bản và 5,4% của EU ( báo điện tử
làocai.com.vn ) Tuy những năm qua, mặt hàng này luôn có mức tăng trưởng
khá cao, bình quân khoảng 20%/năm, lọt vào top 10 mặt hàng có mức tăng
trưởng xuất khẩu cao của cả nước, song ta cần phải áp dụng các biện pháp
hữu hiệu nhằm đẩy mạnh mặt hàng này hơn nữa. Thống kê cho thấy, hiện cả
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nước có trên 1.400 làng nghề thủ công mỹ nghệ, tạo việc làm cho khoảng
70.000 lao động, sản xuất trên 300 chủng loại hàng với bốn nhóm chính là:
mây, tre, cói, lá, thảm; gốm sứ; thêu, ren, dệt; sản phẩm đá và kim loại quý.
Mặc dù tiềm năng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam là rất lớn,
nhưng tính bền vững chưa cao. Do quy mô sản xuất nhỏ nên các doanh
nghiệp sản xuất khó đáp ứng được những đơn đặt hàng lớn của nước ngoài,
chưa tạo dựng được sự tin cậy đối với bạn hàng trong những hợp đồng lớn.
Điều này dễ thấy khi bạn hàng tìm đến các đối tác khác mạnh hơn về quy
mô, vốn, công nghệ… Ngoài ra, một trong những nguyên nhân làm giảm
tính cạnh tranh của hàng này là các doanh nghiệp đầu tư quá ít cho nghiên
cứu thị trường, nhất là thị trường dành cho tạo mẫu và thiết kế. Hệ quả là rất
nhiều hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam không có những công cụ rõ rệt và
chưa hướng vào một thị trường cụ thể để chiếm lĩnh nó. Đơn cử với thị
trường Nhật Bản là thị trường chiếm đến gần 30% lượng hàng thủ công mỹ
nghệ xuất khẩu của Việt Nam, nhưng do ít thay đổi về mẫu mã, nên sức hấp
dẫn của măt hàng vào thị trường này giảm đi nhiều. , họ không muốn mua
hàng của Việt Nam mà chuyển sang thị trường Trung Quốc, Philippines …
Các chuyên gia đến từ nước này khuyến cáo, các doanh nghiệp, cơ sở sản
xuất hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam cần phải chuyên nghiệp hơn nếu
muốn thâm nhập sâu vào những thị trường khó tính.
2.3. các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
- Mặt hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng nguồn nguyên liệu chính là nguyên
Bên cạnh đó, khó khăn về vay vốn ưu đãi đã được Chính phủ “khai thông”
qua Quyết định 02/2001/QĐ-TTg ngày 2/1/2001 về chính sách hỗ trợ đầu tư
từ Quỹ hỗ trợ phát triển đối với các dự án sản xuất, chế biến hàng xuấtkhẩu
và sản xuất nông nghiệp. Một khuyến khích rất cụ thể nữa đã được áp dụng
là chính sách thưởng xuất khẩu cho doanh nghiệp theo 5 tiêu chuẩn: có mặt
hàng mới, thị trường mới, chất lượng cao, đạt quy mô về kim ngạch và tốc
độ tăng trưởng xuất khẩu theo quy định. Có thể nói, các cơ chế, chính sách
mới thông thoáng đã tạo điều kiện thuận lợi, tiếp sức cho doanh nghiệp đẩy
mạnh xuất khẩu
- nhu cầu thị trường : nhìn chung những năm gần đây thị trường thủ công
mỹ nghệ có chiều hướng phát triển tốt, có nhiều chủng loại hàng hoá mới và
mở rộng thị trường theo hướng đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ thị
trường với các nước trên thế giới .Tuy nhiên, trong xuất khẩu những loại
hàng hoá này, chúng ta phải đương đầu với một số đối thủ cạnh tranh có
nhiều tiềm năng và kinh nghiệm như Trung Quốc, Indonesia, Philippines,
Thái Lan… Để nâng cao sức cạnh tranh, cần phải tìm hiểu, nghiên cứu, học
hỏi kinh nghiệm, thủ pháp kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh và các chính
sách giải pháp liên quan của từng nước. Đồng thời, với chất liệu và kỹ xảo
riêng, phải sáng tạo ra được những mẫu hàng hoá đáp ứng nhu cầu, thị hiếu
của từng thị trường
- đối thủ cạnh tranh : Hiện tại hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam phải
cạnh tranh gay gắt với hàng thủ công mỹ nghệ của Trung Quốc, Thái Lan,
Singapore … Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì hàng thủ
công mỹ nghệ của Việt Nam có nhiều lợi thế hơn nhờ độ tinh xảo và khéo
léo thể hiện trên từng đường nét sản phẩm. Hơn nữa nhiều mặt hàng của ta
vượt trội về chất lượng cũng như mẫu mã. Song để nâng cao sức cạnh tranh
cần có những sản phẩm đặc trưng, đa dạng hơn về mẫu mã, kiểu dáng. Bên
cạnh việc phát huy những lợi thế của những sản phẩm làm bằng tay có độ
10