ảnh hưởng của phân đạm đến năng suất giống lúa om6976 vụ hè thu năm 2012 tại xã tân ninh, huyện tân thạnh, tỉnh long an - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN BẢO GIANG

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN ĐẠM ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA OM6976 VỤ HÈ THU NĂM 2012
TẠI XÃ TÂN NINH, HUYỆN TÂN THẠNH,
TỈNH LONG AN

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC

Cần Thơ, 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC

Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN ĐẠM ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA OM6976 VỤ HÈ THU NĂM 2012
TẠI XÃ TÂN NINH, HUYỆN TÂN THẠNH,
TỈNH LONG AN

Giáo viên hướng dẫn:
Gs.Ts. Nguyễn Bảo Vệ

ThS. Trần Thị Bích Vân

i


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
------ O  ------

Hội đồng khoa học chấm luận văn tốt nghiệp với đề tài:

“ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN ĐẠM ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA OM6976 VỤ HÈ THU NĂM 2012
TẠI XÃ TÂN NINH, HUYỆN TÂN THẠNH,
TỈNH LONG AN”

Do sinh viên NGUYỄN BẢO GIANG thực hiện và bảo vệ trước hội đồng.
Ý kiến hội đồng:
…………………………………………………………………………………………
……..…..……………………………………………………………………………….
……………..………………………………………………………………….……….
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức: ……………
Cần Thơ, ngày……tháng….. năm 2013
Thành viên Hội đồng

DUYỆT KHOA
Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

ii


iv


QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: Nguyễn Bảo Giang
Ngày sinh: 12/ 01/ 1992
Nơi sinh: Mỏ Cày Nam, Bến Tre
Dân tộc: Kinh
Chổ ở hiện nay: Ấp Thạnh Tây, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 01693015165
E-mail:
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Năm 2003 tốt nghiệp tiểu học.
Năm 2007 tốt nghiệp trung học cơ sở.
Năm 2010 tốt nghiệp trung học phổ thông.
Năm 2010-2013 là sinh viên ngành Nông học khóa 36, Trường Đại học Cần Thơ.

v


NGUYỄN BẢO GIANG, 2012 “ Ảnh hưởng của phân đạm đến năng suất giống
lúa OM6976 vụ Hè Thu năm 2012 tại xã Tân Ninh, huyện Tân Thạnh, tỉnh
Long An”. Luận văn tốt nghiệp Đại học, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng,
trường Đại học Cần Thơ. Cán bộ hướng dẫn: Gs.Ts. Nguyễn Bảo Vệ và ThS. Trần
Thị Bích Vân.

TÓM LƯỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của phân đạm đến năng suất giống lúa OM6976 vụ Hè

1.1.1. Nguồn gốc cây lúa ............................................................................................. 2
1.1.2. Phân loại cây lúa theo đặc tính thực vật. ............................................................ 2
1.2. ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CỦA CÂY LÚA ........................................................... 3
1.2.1. Điều kiện khí tượng thủy văn ............................................................................. 3
1.2.2. Các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa ................................................................ 4
1.3. VAI TRÒ CỦA PHÂN BÓN TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP .................. 6
1.3.1 Tác dụng tăng năng suất cây trồng ...................................................................... 6
1.3.2 Phân bón ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.................................................... 7
1.3.3 Bón phân là một biện pháp cải tạo môi trường giữ vững độ phì nhiêu của đất ..... 7
1.4. VAI TRÒ CỦA PHÂN ĐẠM ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CÂY LÚA .......................... 8
1.5. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG PHÂN BÓN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG .. 8
1.6. CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT .................................................................. 10
1.6.1. Số bông/m2 ...................................................................................................... 10
1.6.2. Số hạt/bông ...................................................................................................... 11
1.6.3. Tỷ lệ hạt chắc .................................................................................................. 12
1.6.4. Trọng lượng 1000 hạt ...................................................................................... 13
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ................................................ 14
2.1. PHƯƠNG TIỆN ................................................................................................. 14
2.1.1. Thời gian và địa điểm ...................................................................................... 14
vii


2.1.2. Phương tiện ..................................................................................................... 14
2.2. PHƯƠNG PHÁP ................................................................................................ 14
2.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm ......................................................................... 14
2.2.2. Biện pháp canh tác ........................................................................................... 15
2.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi ........................................................................................ 15
2.2.4. Đánh giá chỉ tiêu về các thành phần năng suất ................................................. 16
2.2.5. Đánh giá chỉ tiêu về năng suất. ........................................................................ 17
2.2.6. Đánh giá khả năng phản ứng với một số sâu bệnh hại ...................................... 17

TRANG

2.1

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

12

3.1

Chiều cao của giống lúa OM6976 vụ Hè Thu năm 2012

20

3.2

Số chồi của giống lúa OM6976 vụ Hè Thu năm 2012

21

3.3

Thành phần năng suất của giống lúa OM6976 vụ Hè Thu
2012

22

Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của giống lúa
OM6976 vụ Hè Thu 2012


trong đất (Hoàng Minh Châu, 1988). Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của phân đạm đến
năng suất giống lúa OM6976 vụ Hè Thu năm 2012 tại xã Tân Ninh, huyện Tân
Thạnh, tỉnh Long An” được thực hiện nhằm tìm ra liều lượng phân đạm thích hợp
làm tăng năng suất lúa góp phần gia tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng lúa.

1


CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI CÂY LÚA
1.1.1 Nguồn gốc cây lúa
Lúa là cây trồng xưa nhất vì thế thời gian và địa điểm phát sinh của nó có lẽ
không bao giờ được hiểu biết đầy đủ (Nguyễn Văn Hiển, 2000). Về nguồn gốc cây
lúa, đã có nhiều tác giả đề cập tới nhưng cho tới nay vẫn chưa có những dữ liệu
chắc chắn và thống nhất. Có một điều là lịch sử của cây lúa đã có từ lâu và gắn liền
lịch sử phát triển nhân loại của nhân dân các nước châu Á (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
Nguyễn Đình Giao và ctv. (1997) cho rằng, về nguồn gốc xuất xứ của cây lúa
cũng có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng cây lúa được hình thành đầu
tiên ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Nam Trung Quốc, Việt Nam. Một
số tác giả cho rằng cây lúa có nguồn gốc từ Ấn Độ (Watt, 1908, Vavilop, 1926).
Một số tác giả khác coi Nam Trung Quốc là vùng xuất hiện cây lúa đầu tiên
(Candolle, 1885, Rosbevits, 1930). Lại có một số người cho rằng cây lúa có nguồn
gốc ở Việt Nam, Campuchia(Chevaliev, 1937; Komarov, 1938; Erughin, 1950)
cũng có ý kiến cho rằng quê hương của cây lúa là vùng đầm lầy Đông Nam Á.
Nhưng căn cứ vào những tài liệu lịch sử, di tích khảo cổ, đặc điểm sinh thái
học của cây lúa trồng và sự hiện diện rộng rãi của cây lúa hoang trong khu vực,
nhiều người đồng ý rằng nguồn gốc cây lúa ở vùng đầm lầy Đông Nam Á, rồi từ đó
lan đi các nơi. Thêm vào đó, sự kiện thực tế là cây lúa và nghề trồng lúa đã có từ rất
lâu ở khu vực này, lịch sử và đời sống của các dân tộc Đông Nam Á lại gắn liền với

giai đoạn sinh trưởng, thời gian bị ảnh hưởng và tình trạng sinh lý của cây lúa
(Nguyễn Ngọc Đệ, 1998). Nhiệt độ thích hợp cho cây lúa là 260C–280C, ở ĐBSCL
người ta có thể trồng lúa quanh năm và trồng được nhiều vụ một năm, vẫn có khả
năng cho năng suất cao miễn là đủ nước tưới. Yếu tố quyết định ở đây là đất đai và
chế độ nước.
 Ánh sáng
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng
và phát triển của cây lúa trên hai phương diện cường độ ánh sáng và độ dài chiếu
sáng trong ngày. Cây lúa chỉ sử dụng được khoảng 65% năng lượng ánh sáng mặt
trời chiếu tới ruộng lúa. Trong điều kiện bình thường, lượng bức xạ từ 250–300
Kcal/cm2/ngày thì cây lúa sinh trưởng tốt.
Giai đoạn lúa non: nếu thiếu ánh sáng cây lúa sẽ ốm yếu, màu lá từ xanh nhạt
chuyển sang vàng, lúa không nở bụi được.
Thời kì phân hóa đòng: thiếu ánh sáng thì bông lúa sẽ ngắn, ít hạt và hạt nhỏ,
hạt thoái hóa nhiều, dễ bị sâu bệnh phá hại.
Thời kì lúa trổ: thiếu ánh sáng sự thụ phấn và thụ tinh bị trở ngại làm tăng số
hạt lép, giảm số hạt chắc và hạt phát triển không đầy đủ.
Giai đoạn lúa chín: nếu ruộng lúa khô nước, nhiệt độ không khí cao, ánh
sáng mạnh thì cây lúa chín nhanh và tập trung hơn, ngược lại thời gian chín sẽ kéo
dài.

3


 Lượng mưa
Lượng mưa là một trong những yếu tố khí hậu có tính chất quyết định đến
việc hình thành các vùng trồng lúa và các vụ trồng lúa trong năm. Ở Đồng bằng
sông Cửu Long lượng mưa trung bình hằng năm từ 1200–2000 mm, nhưng phân
phối không đều gây ngập úng giữa mùa mưa ở nhiều nơi, mùa khô lại không đủ
nước tưới. Ngay trong mùa mưa đôi khi lại có một khoảng thời gian nắng hạn kéo



giai đoạn tăng trưởng ngắn và thời điểm phân hóa đòng có thể xảy ra trước hay
ngay sau khi cây lúa đạt chồi tối đa.
Thông thường số chồi hình thành bông thấp hơn so với số chồi tối đa và ổn
định khoảng 10 ngày trước khi đạt chồi tối đa. Các chồi sau đó thường tự rụi khi
không cho bông do chồi nhỏ, yếu không đủ cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với
các chồi khác, gọi là chồi vô hiệu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009). Trong canh tác người
ta hạn chế đến mức thấp nhất việc sinh sản ra số chồi vô hiệu này bằng cách cho lúa
nở bụi càng sớm càng tốt và khống chế sự mọc thêm chồi từ khoảng 7 ngày trước
khi phân hóa đòng trở đi để tập trung dinh dưỡng cho các chồi hữu hiệu.
 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông. Giai
đoạn này kéo dài khoảng 27–35 ngày, trung bình là 30 ngày và giống lúa dài ngày
hay ngắn ngày thường không khác biệt nhau nhiều. Lúc này, số chồi vô hiệu giảm
nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng. Đòng lúa hình
thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra bẹ của lá cờ (lúa trổ
bông). Trong suốt thời gian này, nếu dinh dưỡng đầy đủ, mực nước thích hợp, ánh
sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều
hơn và vỏ trấu sẽ đạt được kính thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng
trọng lượng hạt sau này.
 Giai đoạn chín
Giai đoạn chín bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch. Giai đoạn này trung
bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, nếu
đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian
này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại. Giai đoạn này cây lúa trải qua
các thời kì sau:
- Thời kì ngậm sữa: các chất dinh dưỡng trong thân lá và sản phẩm quang
hợp được chuyển vào hạt. Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt là do quang hợp ở
giai đoạn sau khi trổ. Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh trưởng, phát

khác cộng lại như thời vụ trồng, làm đất, luân canh, giống và tưới tiêu,… (Nguyễn
Thị Quý Mùi, 1995; Hoàng Minh Châu, 1998).Theo Bùi Đình Dinh (1996), từ năm
1990 trở lại đây, bình quân sản lượng lương thực bội thu tăng lên nhờ phân bón
hằng năm là 35%. Nguyễn Quý Mùi (1995), bón phân không cân đối là nguyên
nhân làm giảm hiệu lực phân bón 20 – 30%, nhóm không đúng cách làm giảm 5 –
10%. Ngoài ra, phân bón còn có một tác dụng phụ có lợi là bổ sung cải thiện độ phì
của đất, làm cho mức thu hoạch ổn định hơn, tăng sức đề kháng cho cây trồng
chống chịu được một số bệnh và những tác động của môi trường (Hoàng Minh
Châu, 1998).
1.3.1 Tác dụng tăng năng suất cây trồng
Theo Nguyễn Thanh Hùng (1978), phân bón là cơ sở để tăng năng suất vì bất
cứ một loại cây trồng nào, dù có khả năng cho năng suất cao đến đâu chăng nữa
cũng thiếu các dưỡng chất cần thiết tức là thiếu phân bón thì không đạt được năng
suất cao. Vũ Hữu Yêm (1995), cho rằng để tăng năng suất thì nước là quan trọng
nhất rồi đến phân bón, có phân bón thì giống mới phát huy được hết tiềm năng năng
suất của mình. Trong mấy thập kỉ qua, năng suất cây trồng đã không ngừng tăng lên,
ngoài vai trò giống thì phân bón cũng đóng vai trò quyết định. Những đồng ruộng
được bón đủ phân và có biện pháp chăm sóc đồng ruộng thì cho hiệu quả cao hơn
6


ruộng không bón phân hoặc bón ít phân. Theo tổng kết trên phạm vi toàn thế giới,
Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO, 1989) đưa ra nhận xét: “mỗi tấn dinh
dưỡng sản xuất được 10 tấn ngũ cốc”, nhận xét này khẳng định vai trò hàng đầu của
phân bón đối với việc sản xuất lương thực của thế giới. Theo Nguyễn Thị Thúy và
ctv. (1997), ngay thập kỉ 70, ở những nước đang phát triển, 50% sản lượng nông
nghiệp tăng lên là nhờ sử dụng phân bón. Điều này chứng tỏ năng suất cây trồng
tăng lên nhờ biện pháp bón phân hiệu quả. Hiệu quả của biện pháp bón phân gần
như bằng tất cả các biện pháp khác cộng lại.
1.3.2 Phân bón ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

Hằng năm, hàm lượng chất dinh dưỡng mất đi (qua cây trồng, bị rửa trôi,
trực di,…) lớn. Khi ta bón phân hóa học sẽ giúp đất duy trì độ màu mỡ, cải tạo và
bồi dưỡng đất và đảm bảo được năng suất nhất định. Ngoài việc tạo ra năng suất và
tăng sản lượng cây trồng phân hóa học còn có tác dụng cung cấp nhanh các yếu tố
cần thiết cho đất, làm đất giảm chua nhanh.

1.4 VAI TRÒ CỦA PHÂN ĐẠM ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CÂY LÚA
Đạm là thành phần chủ yếu cấu tạo nên cơ thể thực vật, đạm được rễ hút từ
đất lên, kết hợp với glucide hình thành trong quá trình quang hợp tạo thành acid
amin, các acid amin kết hợp tạo thành protide (Togari, 1968). Đạm là chất tạo thành
hình cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và các diệp lục tố làm cho lá xanh
tốt, gia tăng chiều cao cây, số chồi và kích thước lá, thân (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
Khác với các loại cây trồng cạn, cây lúa có thể hấp thu và sử dụng cả hai
dạng đạm nitrat và amonium, mà chủ yếu là dạng đạm amonium, nhất là trong giai
đoạn sinh sản ban đầu. Cây lúa hút và sử dụng đạm amonium nhanh hơn nitrate
(Nguyễn Ngọc Đệ, 1998). Ở giai đoạn sinh sản ban đầu đạm được tích lũy chủ yếu
trong thân lá, khi lúa trổ 48 – 71% đạm được đưa lên bông. Nếu thiếu đạm cây lùn
hẳn lại, tán lá nhỏ, nở bụi ít, chồi nhỏ, mau già cỏi, lá vàng, quang hợp kém, cây
không phát triển được (Bùi Huy Đáp, 1957; Võ Tòng Xuân, 1986; Nguyễn Ngọc Đệ,
2009).
Trong cây, đạm dễ dàng chuyển vị từ lá già sang lá non, từ mô trưởng thành
sang mô mới thành lập nên hiện tượng thiếu đạm thường xảy ra ờ các lá già sao đó
chuyển dần lên các lá non (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2010). Giai đoạn
sinh sản nếu thiếu đạm cây lúa sẽ thành lập bông ngắn, ít hạt, hạt nhỏ và nhiều hạt
bị thoái hóa. Thừa đạm cây trồng sinh trưởng nhanh, lá phát triển mạnh. Lá cây thừa
đạm do cây trồng không đồng hóa kịp các mô bảo vệ nên thân lá non mềm tạo điều
kiện cho sâu bệnh phát triển mạnh. Cây lúa phát triển nhanh quá mức nên mô non
mềm, dễ ngã, tán lá rậm rạp, lượng đạm tự do trong cây cao nên cây dễ nhiễm bệnh
làm giảm năng suất rất lớn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009). Khác với cây trồng cạn, cây
lúa trong điều kiện ngập mặn thì chỉ hấp thu đạm dạng NH4+ (Nguyễn Ngọc Đệ,

Theo một khảo sát khác, phần lớn nông dân bón đạm ở mức trung bình (80–120
kgN/ha). Nhưng cũng có nông hộ bón đến 200 kgN/ha, thậm chí có nơi bón đến 359
kgN/ha. Qua kết quả điều tra ở Đồng bằng sông Cửu Long, mức phân đạm bón thấp
nhất là 46 kgN/ha. Ở vùng có năng suất cao, mức phân đạm bón cho lúa Đông Xuân
thấp nhất cũng đạt 92 kgN/ha (Vũ Cao Thái, 1994). Theo kết quả đã nghiên cứu ở
vùng đất phèn ở Hòa An, Phụng Hiệp, Hậu Giang thì hàm lượng phân đạm bón là
40 kgN/ha đạt năng suất 3,5 tấn/ha đối với giống lúa IR66 (Nguyễn Hùng Cường,
1991). Theo Nguyễn Hữu Thanh (1990) cũng trên giống lúa này thì công thức bón
100 N–60 P2O5–00 K2O kg/ha cho năng suất cao nhất 3,72 tấn/ha và đạt 476
bông/m2.
Theo Đường Hồng Dật (2002) lượng phân bón khuyến cáo cho vùng đất phù
sa sông Cửu Long vụ Đông Xuân 100-120 N : 20-30 P2O5 : 30 K2O, vụ Hè Thu là
90-120 N : 30-40 P2O5. Đối với đất phèn vụ Đông Xuân bón 80-90 N : 30-40 P2O5,
vụ Hè Thu lượng phân bón từ 80-90 N : 40-50 P2O5. Để đảm bảo hiệu lực của các
loại phân bón cần bón đúng loại phân, bón đúng lúc cho lúa, bón đúng cách, bón
đúng đối tượng (tùy đặc tính của từng giống lúa), bón cân đối giữa các loại phân và
cần chú ý đến thời tiết. Cũng trên đất phù sa sông và đất phù sa nhiễm mặn Võ Thị
Gương và ctv. (1996) khuyến cáo sử dụng 100-120 kgN/ha.
9


1.6 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) thì năng suất được hình thành và chịu ảnh
hưởng của bốn yếu tố gọi là bốn thành phần năng suất: số bông trên đơn vị diện tích,
số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng 1000 hạt. Năng suất lúa được tính
theo công thức:
w
Y=Nxnx

1

có ảnh hưởng thuận với năng suất lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
10


Theo Nguyễn Đình Giao và ctv. (1997) thì số bông/m2 là yếu tố đóng góp
nhiều nhất vào năng suất lúa. Số bông có thể đóng góp 74% năng suất, trong khi đó
số hạt và trọng lượng của hạt đóng góp 26%. Khi xem xét mối quan hệ nguồn và
sức chứa thì số bông/m2 ảnh hưởng đến năng suất kinh tế với hệ số tương quan rất
cao r = 0,91 (Phạm Văn Chương, 2002).
Khi phân tích tương quan hệ số Path năng suất và thành phần năng suất cho
thấy số bông/m2 gia tăng khi lượng phân đạm tăng. Tuy nhiên, trong điều kiện làm
tăng số bông/m2 ở mức vừa phải, nếu tăng mật độ lên quá cao sẽ gây hiện tượng lốp,
đổ, sâu bệnh dễ bộc phát và số hạt trên bông sẽ ít đi rõ rệt (Yosida, 1981).
Nói chung, đối với các giống lúa ngắn ngày, thấp cây, nở bụi ít, đất xấu,
nhiều nắng nên bón nhiều phân đạm để tăng số bông trên đơn vị diện tích. Ngược
lại, trên đất giàu hữu cơ, thời tiết tốtvà giữ nước thích hợp thì lúa nở bụi khỏe có thể
bón ít phân đạm hơn. Các giống lúa cải thiện thấp cây có số bông/m2 trung bình
phải đạt 500 – 600 bông đối với lúa sạ hoặc 350 – 450 bông đối với lúa cấy mới có
được năng suất cao (Phạm Sĩ Tân, 2008). Tóm lại, số bông/m2 là một thành phần
năng suất góp phần quan trọng trong việc tạo nên năng suất và chịu ảnh hưởng của
mật độ gieo sạ. Số chồi hữu hiệu là yếu tố trực tiếp quyết định đến số bông/m2.
1.6.2 Số hạt/bông
Số hạt/bông cũng là yếu tố quan trọng cấu thành năng suất. Số hạt/bông chủ
yếu do yếu tố di truyền của giống quy định. Tuy nhiên nó cũng chịu tác động của
các yếu tố ngoại cảnh do ảnh hưởng đến quá trình phân hóa hoa. Số hạt/bông phụ thuộc
vào số gié, số hoa phân hóa cũng như số gié, số hoa thoái hóa. Số hạt/bông = Số hoa phân
hóa – Số hoa thoái hóa (Nguyễn Thị Nga, 2011).
Số hạt trên bông được quyết định từ lúc tượng cổ bông đến 5 ngày trước khi trổ,
nhưng quan trọng nhất là thời kỳ phân hóa hoa và giảm nhiễm tích cực. Ở giai đoạn này,
số hạt trên bông có ảnh hưởng thuận đối với năng suất lúa do ảnh hưởng đến số hoa được

và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, dinh dưỡng đầy đủ thì tỷ lệ hạt chắc sẽ cao và ngược
lại. Muốn có năng suất cao tỷ lệ hạt chắc phải trên 80% (Nguyễn Xuân Trường, 2004).
Nguyên nhân hạt lép là do quá trình thụ phấn thụ tinh không thuận lợi, khi ra hoa
gặp rét hoặc nóng quá, ẩm độ không khí quá thấp hoặc quá cao, làm cho hạt phấn mất khả
năng nảy mầm hoặc trước đó nhị và nhụy phát triển không hoàn toàn, tế bào mẹ hạt phấn
bị hại... (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997).Khi xét mối quan hệ nguồn và sức chứa, số hạt
chắc trên bông ảnh hưởng đến năng suất thực tế (Phạm Văn Chương, 2002). Kết quả phân
tích hệ số tương quan Path năng suất và thành phần năng suất cho thấy khi gia tăng mật độ
gieo sạ thì số hạt chắc/bông giảm và làm giảm tỷ lệ hạt chắc (Trần Thị Ngọc Huân và ctv..,
1999).
Nguyễn Thành Hối (2003) cho rằng, lúa Hè Thu xuống giống muộn sẽ gặp bất lợi
nhiều về điều kiện thời tiết lúc lúa trổ, do lúc này mưa dầm nên vũ lượng cao, mưa kéo dài
và đặc biệt là trời hay mưa vào buổi sáng nên bông lúa khó thụ phấn, thụ tinh và hạt bị lép
nhiều. Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, như nhiệt độ thấp và cao vào giai đoạn
phân bào giảm nhiễm và trổ gié hoa có thể gây ra bất thụ. Các điều kiện thời tiết không
thuận lợi lúc chín có thể ức chế sự sinh trưởng trực tiếp của vài gié hoa, cho ra những gié
hoa lép (Bùi Huy Đáp, 1980).
Tỷ lệ hạt chắc ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như phân bón, nhiệt độ, mưa gió và hạn
hán. Đối với mỗi giống có yêu cầu về lượng phân bón nhất định. Nhiệt độ trên 200C nếu
duy trì liên tục từ lúc lúa làm đòng đến trổ bông hoặc nhiệt độ cao trên 350C sau khi lúa
trổ xong đều làm giảm tỷ lệ hạt chắc. Gió, mưa và bão làm ảnh hưởng đến quá trình thụ
12


phấn, thụ tinh và gây đỗ ngã làm ảnh hưởng đến tỷ lệ hạt chắc. Ngoài ra, hạn hán làm thiếu
nước tưới của một số vùng cũng làm giảm tỷ lệ hạt chắc nhất là khi cây lúa vừa trổ xong
và bắt đầu ngậm sữa (Lê Hữu Toàn, 2009). Tỷ lệ hạt chắc là kết quả của quá trình thụ phấn
và thụ tinh trong môi trường. Và thành phần này chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố môi
trường vào khoảng thời gian trước, trong và sau trổ.
1.6.4 Trọng lượng 1000 hạt

13


CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: thí nghiệm được tiến hành trong vụ Hè Thu năm 2012 (từ tháng
04/2012 đến tháng 07/2012).
Địa điểm: thí nghiệm được thực hiện tại xã Tân Ninh, huyện Tân Thạnh, tỉnh
Long An.
2.1.2 Phương tiện
Giống lúa: OM6976, thời gian sinh trưởng 95-100 ngày, gạo dài, trong, mềm
cơm, chịu phèn nhẹ. Chiều cao cây 95-100 cm. Năng suất vụ Đông Xuân 7-9 tấn/ha,
vụ Hè Thu 5-6 tấn/ha. Ít đỗ ngã, chống chịu rầy nâu, bệnh đạo ôn, bệnh vàng lùnlùn xoắn lá tốt.
Dụng cụ: khung chỉ tiêu 0,25m2 (0,5m x 0,5m), máy đo độ ẩm hạt, cân phân
tích, thước đo, túi chứa mẫu lúa.
Phân bón: Urea (46% N), Super Lân (16% P2O5), DAP (18-46-0), KCl (60%
K2O)
Thuốc BVTV: TILT SUPER 300EC, ACTARA 25WG, NATIVO 750WG,
HEXAVIL 99C,…
2.2 PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3
nghiệm thức và 3 lần lặp lại. Diện tích mỗi lần lặp lại là 20m2. Trong mỗi nghiệm
thức được đặt 3 khung tre có diện tích 0,25m2 một cách ngẫu nhiên.
Nghiệm thức 1: bón 110kgN/ha (theo nông dân)
Nghiệm thức 2: giảm 25%, bón 83 kgN/ha
Nghiệm thức 3: giảm 50%, bón 55 kgN/ha


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status