trường từ vựng màu sắc trong ca từ trịnh công sơn - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
--------------

NGUYỄN MINH MẪN
Mssv: 6116189

TRƢỜNG TỪ VỰNG MÀU SẮC TRONG CA TỪ
TRỊNH CÔNG SƠN
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn

Cán bộ hƣớng dẫn: NGUYỄN THỊ THU THỦY

Cần Thơ, 2014
1


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
--------------

NGUYỄN MINH MẪN
Mssv: 6116189

TRƢỜNG TỪ VỰNG MÀU SẮC TRONG CA TỪ
TRỊNH CÔNG SƠN
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn

PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1.

Trƣờng từ vựng và trƣờng từ vựng màu sắc
1.1.1. Trường từ vựng
1.1.1.1. Về từ vựng
1.1.1.2. Về trường từ vựng
1.1.2. Phân loại trường từ vựng
1.1.2.1. Trường từ vựng trực tuyến
1.1.2.1.1. Trường biểu vật
1.1.2.1.2.Trường biểu niệm
1.1.2.2. Trường từ vựng tuyến tính
1.1.2.3. Trường từ vựng liên tưởng
1.1.3. Khái niệm trường từ vựng màu sắc
3


1.1.4. Phân loại trường từ vựng màu sắc
1.2.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và ca từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn
1.2.1. Nhạc sĩ, thi sĩ Trịnh Công Sơn
1.2.1.1. Đôi nét về cuộc đời Trịnh Công Sơn
1.2.1.2. Đôi nét về sự nghiệp sáng tác
1.2.1.3. Những ca khúc tiêu biểu làm nên tên tuổi nhạc Trịnh
1.2.2. Vài nét về ca từ Trịnh Công Sơn

CHƢƠNG 2:

phần xác. Một lối thơ rất Trịnh Công Sơn, và một cảm xúc cũng rất Trịnh Công Sơn.
Tác giả Nguyễn Thị Minh Châu viết: “Trịnh Công Sơn ông là ai? Giới văn nghệ sĩ
thân ái gọi ông là: Người ca thơ (Văn Cao), Người tình lãng du của nhiều thế hệ (Hoàng
Phủ Ngọc Tường), Thiền sư du ca (Đỗ Minh Tuấn), Ông hoàng tình ca (Nguyễn Trọng
Tạo), Thi sĩ của âm nhạc, hay Nhạc sĩ của thi ca…. Còn ông trả lời theo cách riêng của
mình: Tôi chỉ là tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về
những giấc mơ đời hư ảo…”[16; Tr.136] Chẳng phải vô cớ nhiều nhà thơ đã gọi Trịnh
Công Sơn là thi sĩ. Ca từ trong nhiều bài hát của ông là những vẫn thơ đẹp mĩ miều.
Trịnh Công Sơn sinh ra và lớn lên ở giai đoạn có nhiều biến động lớn trong lịch sữ
dân tộc và nhân loại. Là tầng lớp tri thức trẻ chịu nhiều sự tác động của các nền văn hóa
phƣơng Tây đặc biệt là Pháp. Là lớp ngƣời có những nhìn nhận khá sâu sắc về hoàn cảnh
dân tộc hiện thời. Những luận đề trên là lý do hoàn toàn hợp lý, giải thích cho những suy tƣ,
trăn trở về con ngƣời trong sáng tác của Trịnh Công Sơn. Là nền móng ban đầu tạo nên
những bứt phá trong nhận thức của chàng nhạc sĩ trẻ tài hoa Trịnh Công Sơn, đem đến cho
5


đời những ca khúc phản chiến đậm tính nhân văn, những bản tình ca đậm chất triết lý cuộc
đời.
Vào thời điểm đầu thế kỉ XX, đã có những tên tuổi lớn, phủ bóng khắp làng nhạc
Việt nhƣ Phạm Duy, Văn Cao, Đặng Thế Sơn,… Nhƣng Trịnh Công Sơn xuất hiện và đã
tìm cho mình đƣợc chỗ đứng trong lòng khán giả trong cũng nhƣ ngoài nƣớc. Nét mới, đặc
sắc của nhạc Trịnh Công Sơn không sang trọng nhƣ nhạc Văn Cao, không đa dạng nhƣ
Phạm Duy mà là một bức tranh siêu thực, đầy chiêm nghiệm về thân phận và tình yêu. Nhạc
Trịnh Công Sơn là “một cuộc hôn phối kì diệu” giữa dấu nhạc và ca từ. Phần ca từ hay đến
não nùng khi hát lên nhƣng không phải lúc nào cũng có thể hiểu hết những chữ trong ấy,
mỗi chữ, mỗi từ, mỗi câu đều có những giá trị đặc biệt mà khi kết hợp chúng lại với nhau,
chất thơ, ý thơ lại toát lên một nét đẹp đặc thù của Trịnh Công Sơn, bảng lảng, mơ hồ, khó
định nhƣng chắc chắn ai cũng nhận thấy là đẹp, là mê hoặc. Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát
từng nói: “ Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra”. Nhƣng sao lại mƣợt mà đến

nhận của thế hệ trẻ đối với những sáng tác đáng giá của Trịnh Công Sơn và tìm chút sự
đồng điệu từ bạn đọc.

2. Lịch sử vấn đề
Nhắc đến từ vựng ngữ nghĩa học chúng ta không thể bỏ qua công lao của hai nhà
ngôn ngữ học lừng lẫy ngƣời Đức J. Trier và L. Weisgerber, hai nhà tiên phong đƣa ra
nhƣng định nghĩa ban đầu về trƣờng từ vựng. Tiếp đó còn phải kể đến những cái tên có
đóng góp cho trƣờng từ vựng ngữ nghĩa nhƣ, G. Ipsen, J. Trier. Những đóng góp của các
nhà ngôn ngữ học này đã làm cho sự xuất hiện của trƣờng từ vựng vào những năm 20-30
của thế kỉ XX trở nên phong phú và đa dạng hơn về hƣớng tiếp cận.
Ở Việt Nam, ngƣời có những công trình tiếp thu, hƣởng ứng đầu tiên nhất, có lẽ phải
kể đến giáo sƣ Đỗ Hữu Châu với “Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa” ra
đời năm 1973. Ở những công trình sau đó của mình, Đỗ Hữu Châu đi vào phân loại trƣờng
từ vựng trong tiếng Việt. Theo đó các khái niệm, trường biểu vật, trường biểu niệm, trường
tuyến tính, và trường liên tưởng lần lƣợt ra đời. Các công trình của Đỗ Hữu Châu là những
bƣớc đệm, tạo đà cho việc nghiên cứu trƣờng từ vựng ở Việt Nam phát triển, đồng thời

7


cũng mang vai trò tiên phong, đúng hƣớng để các nghiên cứu khác học hỏi, lấy đó làm tài
liệu nghiên cứu.
Tiếp sau đó có những công trình tiếp thu khác nhƣ Từ vựng học tiếng Việt của
Nguyễn Thiện Giáp, Ngữ nghĩa học của Lê Quang Thiêm và một số công trình khác.
Bên cạnh đó còn có sự xuất hiện của một số luận án, đề tài về trƣờng từ vựng nhƣ:
Luận án Phó Tiến Sĩ Trường từ vựng bộ phận cơ thể người, bảo vệ năm 1988 của
Nguyễn Đức Tồn.
Luận án Phó Tiến Sĩ Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật ra đời năm
1996 của Nguyễn Thúy Khanh.
Luận văn Thạc sĩ Cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ thuộc trường “thực vật. Do Đinh Thị

(Ngôn ngữ số 7- 2000).
Bên cạnh đó còn có, “Màu xanh trong thơ Nguyễn Bính”, Nguyễn Thị Thành Thắng
(Ngôn ngữ số 11-2001).
Trên Ngôn ngữ và Đời sống số 8 năm 2006, Hà Thị Thu Hoài viết “Từ chỉ màu sắc
để miêu tả thiên nhiên trong tác phẩm Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài”.
Đinh Trí Dũng- Lê Thu Giang nghiên cứu từ chỉ màu sắc trong thơ Thế Lữ qua bài
viết “Thế Lữ - người vẽ tranh ngôn từ thi ca” trên Ngôn ngữ và Đời sống (số 8- 2007).
Các công trình trên hầu hết đều dùng lý thuyết trƣờng từ nhƣ là cơ sở để tập hợp,
nghiên cứu về một phạm vi ngôn ngữ trong một lĩnh vực nhất định. Dùng từ vựng màu sắc
nhƣ một đối tƣợng cụ thể để hiện thực hóa lý thuyết. Riêng Trường từ vựng màu sắc trong
ca từ Trinh Công Sơn chƣa từng thấy xuất hiện.

9


Kể từ sau 1975 đã có những bài viết về ca khúc Trịnh Công Sơn ở trong và ngoài
nƣớc. Đầu tiên phải kể đến đề tài cao học của một cô gái ngƣời Nhật Yoshii Michiko, với
tựa đề đƣợc dịch Những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn hoàn thành năm 1990 tại
Paris, Pháp. Đây là một trong những nghiên cứu bài bản, khoa học gần nhƣ đầu tiên về sáng
tác của Trịnh Công Sơn, từ số lƣợng bài hát, các dòng nhạc mà ông sáng tác, đến hoàn cảnh
ra đời của từng bài. Những nhận định đầy cảm xúc nhƣng cũng không kém phần khoa học,
rất đáng trân trọng.
Ở Việt Nam, có dấu ấn hơn cả phải kể đến hai quyển tập hợp những bài viết về ông
ngay sau khi nhạc sĩ qua đời không lâu.
Đó là Trịnh Công Sơn (1939 – 2001) – Cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội họa và suy tưởng
của Trịnh Cung và Nguyễn Quốc Thái. Quyển này hai tác giả tập hợp nhiều bài viết của
những bạn bè, thân nhân, những bài văn, thơ, một số tác phẩm hội họa của cố nhạc sĩ, rất
đáng trân trọng, song có phần chƣa đi sâu vào những ca khúc, ca từ…mà chủ yếu quan tâm
đến những thông tin riêng, những hình ảnh về cố nhạc sĩ.
Quyển thứ hai cần phải kể đến là tuyển tập Một cõi Trịnh Công Sơn của các tác giả

trọng về tác giả, bày tỏ tình cảm với Trịnh Công Sơn. Sau đó là quyển Trịnh Công Sơn, Bob
DyLan như trăng và nguyệt của tác giả nƣớc ngoài Jonh C.Schafer xuất bản 2012. Đây là
một tài liệu hoàn toàn mới, với những cái nhìn so sánh độc đáo về điểm gặp gỡ kì diệu giữa
hai con ngƣời, hai nhạc sĩ lừng danh của hai châu lục, Bob Dylan và Trịnh Công Sơn. Tác
giả có những am hiểu khá đầy đủ về ngôn ngữ, về tôn giáo, về phƣơng Đông học và văn hóa
tín ngƣỡng… nên có những phân tích rất chi tiết, chỉ ra những điểm gặp gỡ cũng nhƣ những
điểm nổi bật riêng của hai nhạc sĩ tài năng.
Còn có khá nhiều bài viết, luận văn đại học, nghiên cứu ít quy mô hơn đƣợc in rải rác
trên các tạp chí cũng nói khá nhiều về Trịnh Công Sơn. Rõ ràng Trịnh Công Sơn đã và đang
là vấn đề nghiên cứu đƣợc rất nhiều ngƣời quan tâm, tìm hiểu.

11


3. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu
Trịnh Công Sơn nói “Hội họa và âm nhạc là hai người bạn đồng hành trong nghệ
thuật... Trong âm thanh có màu sắc và ngược lại, trong màu sắc có âm thanh... Khi bạn
nghe một bản nhạc, bạn đắm chìm vào bản nhạc ấy và trong khối lượng âm thanh kia bỗng
mở ra cho bạn một không gian đầy màu sắc, lung linh, óng ả mà có thể để bạn chưa bao giờ
nhìn thấy...”.[20] Ý kiến trên của Trịnh Công Sơn cho ta thấy sự gắn kết giữa màu sắc và
âm nhạc của ông.
Khi nghiên cứu đề tài : Trường từ vựng màu sắc trong ca từ Trịnh Công Sơn ngƣời
viết xác định những mục đích, yêu cầu sau:
Bằng những kiến về ngôn ngữ và văn chƣơng có đƣợc sau 4 năm đại học, ngƣời viết
muốn tìm hiểu về lý thuyết trƣờng tự vựng ngữ nghĩa qua đó tìm hiểu từ vựng màu sắc
trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn, giá trị của chúng trong việc khắc họa những cung bậc
cảm xúc, tình yêu, những thân phận con ngƣời trong các ca khúc của cố nhạc sĩ và những
nét đặc sắc trong ngôn ngữ của ông. Muốn làm đƣợc nhƣ thế, ngƣời viết phải nắm vững
kiến thức về trƣờng từ vựng, tập hợp đƣợc các ca khúc của Trịnh Công Sơn, thống kê một
cách trung thực từ vựng màu sắc đã đƣợc sử dụng, khảo sát chúng trên trục tuyến tính, chỉ

tƣởng, phân tích giá trị ngữ nghĩa của chúng.
Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu: ở phƣơng pháp này, ngƣời viết bằng kiến thức có
đƣợc, dựa trên những điểm giống và khác nhau để so sanh đối chiếu, tìm ra những đặc sắc
của ca từ Trịnh Công Sơn.
Phƣơng pháp tổng hợp: sau khi phân tích, ngƣời viết dùng phƣơng pháp này để đúc
kết những đặc trƣng, giá trị chung của trƣờng từ vựng màu sắc trong ca từ Trịnh Công Sơn.
Bên cạnh các phƣơng pháp trên ngƣời viết cũng sử dụng một số phƣơng pháp khác
nhƣ phƣơng pháp xã hội học, phƣơng pháp tiểu sử. Trong quá trình thực hiện đề tài, ngƣời
viết ý thức đƣợc rằng không có phƣơng pháp nào là tuyệt đối vì vậy trong quá trình vận
dụng ngƣời viết đã kết hợp các thế mạnh của mỗi phƣơng pháp để góp phần hoàn thiện đề
tài.

13


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Về Trƣờng từ vựng và trƣờng từ vựng màu sắc
1.1.1. Trường từ vựng
1.1.1.1. Từ và từ vựng
Nói đến từ vựng ta không thể không nhắc đến từ. Từ theo một cách hiểu nôm na, là
đơn vị nhỏ nhất để tạo câu, hay cũng có thể nói từ là một đơn vị để tạo nên các biểu thức
trong ngôn ngữ, nhƣ cụm từ, câu, cú…
Theo Đỗ Hữu Châu “Các hình vị kết hợp với nhau thành những đơn vị có nghĩa lớn
hơn. Những đơn vị này trực tiếp kết hợp với nhau tạo thành các câu nói. Truyền thống ngôn
ngữ học gọi đơn vị thứ ba này là từ.”[4; 5] Ông còn nhấn mạnh những đặc điểm của từ, về
hình thức ngữ âm và nghĩa, về tính cố định, sẳng có, về tính thực tại và hiển nhiên của
chúng. Bên cạnh đó Đỗ Hữu Châu còn định nghĩa từ trong tiếng Việt “Từ của tiếng Việt là
một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, tất cả

láy đôi ví dụ: xanh xanh, dịu dàng, mơ màng,… ; từ láy ba ví dụ: dửng dừng dưng, sạch
sành xanh, tất tần tật,… ; từ láy tư ví dụ: quần quần áo áo, bù lu bu loa, trùng trùng điệp
điệp, khập kha khập khiểng,…..
Còn theo Nguyễn Thiện Giáp “Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng và của ngôn ngữ nói
chung.”[7; Tr.16]. Ông nhấn mạnh chức năng định danh của từ “Chức năng cơ bản của từ
là chức năng định danh… . Vốn là đơn vị định danh từ có thể biến thành yếu tố có chức
năng tương tự như hình vị hoặc có thể đảm nhiệm chức năng thông báo vốn là đặc trưng
của câu.”[7; Tr.17].

15


Bên cạnh đó phải kể đến nhận định của Nguyễn Văn Tu “Từ là đơn vị cơ bản chủ
yếu có khả năng vận dụng độc lập mang nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp. Chúng ta gọi từ là
đơn vị trung tâm, vì từ có đầy đủ những tiêu chuẩn của đơn vị ngôn ngữ cơ bản và là đơn vị
ngôn ngữ quan trọng nhất.”[16; Tr.35].
Trong ngôn ngữ đồng thời cũng có những đơn vị khác cũng có chức năng tƣơng tự
nhƣ từ nhƣng, có cấu tạo không thể đồng nhất với từ, đó là các cụm từ cố định, các cụm từ
này đƣợc giới Việt ngữ học gọi là thành ngữ, quán ngữ, hay phƣơng ngôn… .
Cụ thể hơn Đỗ Hữu Châu viết “ Đối chiếu với từ phức và cụm từ tự do, có thể nói:
ngữ cố định là các cụm từ ( ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa của cụm từ, cấu tạo là cấu tạo
của cụm từ), nhưng đã cố định hóa, cho nên cũng có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có
tính xã hội như từ.”[4; Tr.36]. Chúng ta hiểu nghĩa của cụm từ cố định nhƣ hiểu một cụm từ
chính phụ thông thƣờng, nhƣng hình thức của chúng đã đƣợc cố định hóa, khi sử dụng phải
dùng đúng nhƣ nó đã có. Vì đã cố định hóa nên bản thân cụm mang tính thành ngữ rất cao
và có khi trở thành thành ngữ. Một số ví dụ nhƣ: giàu bà cố, đi guốc trong bụng, chối bây
bẫy, hết nước hết cái…..
Nguyễn Thiện Giáp cũng giải thích rất rõ ràng về cụm từ cố định, cụ thể nhƣ sau:
“Những cụm từ cố định không phải do người ta tùy tiện tạo ra mà đã hình thành trong lịch
sử. Chúng là những đơn vị có sẵn như những từ trong ngôn ngữ. Những từ trong cụm từ cố

tộc. Tuy nhiên, khái niệm và nghĩa của từ không hoàn toàn đồng nhất. Chính vì vậy, việc
tập hợp các khái niệm để lập thành các trƣờng từ vựng của trƣờng phái J. Trier còn nhiều
điều bất hợp lý.
Khuynh hƣớng 2: Khuynh hƣớng này gồm nhiều quan niệm dựa vào các tiêu chí
ngôn ngữ học.
Hướng dựa vào ngữ pháp của từ: Theo khuynh hƣớng này, Muller và Porrig tập hợp
các từ có đặc điểm ngữ pháp giống nhau, nghĩa là có khả năng kết hợp giống nhau với các
từ khác để thành lập trƣờng từ vựng - cú pháp.
Ví dụ:
17


Trong tiếng Anh, trƣờng từ vựng - cú pháp gồm các từ có khả năng kết hợp ở
phía trƣớc với: the hoặc a, an, hoặc this, that...
Trong tiếng Việt, trƣờng từ vựng - cú pháp các từ có khả năng kết hợp ở phía
trƣớc với: rất, hơi, khá, khí và ở phía sau với lắm, quá ..
Hướng dựa vào hình thái và chứa năng của từ: Dựa vào tiêu chí này, Ipsen đã thành
lập trường từ vựng - ngữ pháp. Đây là tập hợp các từ có cùng căn tố, có cùng trƣờng cấu tạo
từ:
Measure

Measured

Measurable

Measurement

Measuredness

Measureless

sự đồng nhất nào đấy về nghĩa.”[3; Tr.127].
Bên cạnh đó trong quyển Dẫn luận ngôn ngữ học xuất bản 2009 của Vũ Đức
Nghiệu và Nguyễn Văn Hiệp định nghĩa: “Trường ngữ nghĩa (còn được gọi là trường từ
vựng) là những tiểu hệ thống, những tổ chức của từ vựng, gồm những từ ngữ có quan hệ về
nghĩa với nhau một cách có hệ thống.”
Nói tóm lại, trƣờng từ vựng (trƣờng nghĩa) là tập hợp các đơn vị từ vựng có quan hệ
với nhau dựa trên một tiêu chí nào đó về nghĩa.

1.1.2. Phân loại trường từ vựng
Việc phân loại trƣờng từ vựng có nhiều ý kiến, theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu có
thể dựa vào các mối quan hệ ngang, dọc và liên tƣởng trong ngôn ngữ để tiến hành phân
loại trƣờng từ vựng.

1.1.2.1. Trường từ vựng trực tuyến
Trƣờng từ vựng trực tuyến hay trƣờng nghĩa dọc là tập hợp các đơn vị từ vựng hoặc
tƣơng đƣơng từ có dặc điểm cùng chỉ về một phạm vi sự vật hiện tƣợng nào đó hoặc có cấu
trúc biểu niệm giống nhau. Theo đó ta có hai trƣờng tƣơng ứng: trƣờng biểu vật và trƣờng
biểu niệm.

1.1.2.1.1. Trường biểu vật
Nghĩa biểu vật là một trong những thành phần ý nghĩa từ vựng của từ, tập hợp những
từ có điểm chung nhất nào đó về nghĩa biểu vật sẽ tạo thành trƣờng biểu vật. Đỗ Hữu Châu

19


viết “Các từ cùng chỉ những sự vật thuộc một phạm vi sự vật nào đó lập thành một trường
biểu vật.”[3; Tr.127]
Ví dụ trường từ vựng về con người nói chung ta có thể có:
+

Tƣơng tự nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm cũng là một trong những thành phần nghĩa
từ vựng của từ. Căn cứ để tập hợp các từ về một trƣờng biểu niệm là nét nghĩa chung hay
cấu trúc biểu niệm khái quát. Cũng nhƣ các trƣờng biểu vật, do hiện tƣợng nhiều nghĩa của
từ nên có những từ có thể đi vào nhiều trƣờng biểu niệm khác nhau và trƣờng biểu niệm lớn
có thể chia thành các trƣờng biểu niệm nhỏ hơn. Mật độ các từ trong mỗi trƣờng nhỏ là khác
nhau. Và các từ trong các trƣờng này cũng có thể giao thoa với nhau.
Ví dụ:

20


- Trƣờng biểu niệm có nét nghĩa chung về vật thể nhân tạo (dùng để phục vụ sinh
hoạt):
+ Đối tƣợng dùng để đặt: bàn, ghế, giường,....
+ Đồ dùng để chứa đựng: tủ, chai, lọ, bình,...
+ Đồ dùng để mặc: áo, quần, giày, dép, nón,...
- Trƣờng biểu niệm có nét nghĩa chung về tính chất tốt hay xấu (có tác động tích
cực hay tiêu cực đến đối tƣợng khác): hiền lành, tốt bụng, hung bạo, tàn bạo,...
- Trƣờng biểu niệm hoạt động tác động đến sự vật X, làm cho X có tình trạng:
* Y động hay tĩnh:
+ Động hay tĩnh tại chỗ một cách cơ giới: rung, lay, lắc,..
+ Y dời chỗ hay dừng lại: đẩy, xô, ném, lao, giật, bẩy, quay,..
+ X là thiết bị cơ khí: khởi động, tắt (máy), nổ (nổ máy),...
+ X là trang thái sinh lí hay tâm lí: Thức, đánh thức, kích thích,...
-

Trƣờng biểu niệm làm cho X có những biến đổi trong trạng thái Y, trạng
thái nằm trong bản thân X:

+ Tăng hay giảm về kích thƣớc: co, giãn, mở, đóng, xẹp, phình, tăng trọng, giảm,...

Có rất nhiều từ có thể đi với một từ tố gốc, tuy nhiên mức độ khắng khít của những
từ đó với từ tố gốc không giống nhau. Sự khác nhau ấy tùy vào mức độ thƣờng xuyên sử
dụng hay sự chấp nhận của cộng đồng. Mô ̣t số nhà ngôn ngƣ̃ ho ̣c go ̣i nó là tin
́ h mòn của
ngôn ngƣ̃ . Khi lố i mòn ấ y bi ̣phá vỡ , sẽ có vô số điều thú vị xảy ra , đă ̣c biê ̣t là với các tác
phẩ m văn chƣơng .
Cùng với trƣờng trực tuyến, trƣờng tuyến tính góp phần phát hiện ra tính hệ thống,
quan hệ ngữ nghĩa giữa các đơn vị từ vựng.
22


1.1.2.3. Trường từ vựng liên tưởng
Một loại trƣờng từ khác với trƣờng trực tuyến và trƣờng tuyến tính là trƣờng từ vựng
liên tƣởng. Nhƣ đã đƣợc định danh, trƣờng từ liên tƣởng đƣợc thành lập dựa trên mối quan
hệ liên tƣởng, liên hội trong nhận thức con ngƣời về thế giới khả hữu xoay quanh một từ
trung tâm làm cốt lõi . Ch.Bally một nhà ngôn ngữ học ngƣời Pháp đã đƣa ra khái niệm
trƣờng từ này.
Hiểu đơn giản về trƣờng từ vựng liên tƣởng, khi một từ tố đƣợc đƣa ra, dựa trên năng
lực liên hội và vốn hiểu biết của từng ngƣời, từ tố ấy sẽ gợi ra một loạt những từ tố khác có
mối quan hệ với từ tố ban đầu, từ tố gốc về một hay một vài phƣơng diện nào đó kể cả trong
ngôn ngữ học và cả thế giới khách quan.
Trƣờng từ vựng liên tƣởng trƣớc hết là tập hợp những từ tố cùng nằm trong các
trƣờng trực tuyến, tuyến tính và một số từ tố khác có mối quan hệ nào đó với từ tố gốc kể cả
các mối quan hệ ngoài ngôn ngữ nhƣ, dân tộc, thời đại và cả sự liên hội cá nhân… Sức
mạnh của trƣờng này hay độ nông sâu về ngữ nghĩa phụ thuộc vào khả năng liên hội cũng
nhƣ vốn từ của từng cá nhân riêng biệt.
Do sự phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố ngoại ngôn ngữ ( văn hóa, xã hội…) nên
trƣờng từ vựng liên tƣởng của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ, từng dân tộc, kể cả từng
cá nhân là hoàn toàn khác nhau và có khi đối nghịch với nhau.
Đỗ Hữu Châu định nghĩa “ Khi từ ngữ của cả dân tộc hay của một người có sức gợi

đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Chúng là thƣ́ tƣ ̣ ng ắn dầ n của bƣớc sóng và nh ạt dần về
mƣ́c sáng. Về cơ bản đen và trắ ng không phải là màu , màu đen hay màu trắng thực chấ t là
tổ hơ ̣p tấ t cả các màu với sắ c đô ̣ khác nhau . Hiểu mô ̣t cách đơn giản , trắ ng hoặc đen là s ắc
độ giảm tối đa hoặc tăng tối đa của các màu khi phố i la ̣i .
Các màu sắc từ lâu trong nhận thức con ngƣời không chỉ mang nghĩa màu sắc đơn
thuần mà còn mang nhiều ý nghĩa tƣợng trƣng khác nhau. Bên cạnh đó trong các nền văn
hoa khác nhau, các màu cũng mang những ý nghĩa khác nhau. Ví dụ nhƣ:
Màu xanh lá là màu chung của tự nhiên đại diện cho thiên nhiên và hệ sinh thái biểu
tƣợng cho sự phát triển, tái sinh, và khả năng sinh sản. Trong các nền văn hóa khác nhau
màu xanh lá cũng mang những ý nghĩa khác nhau. Màu xanh lá cây là màu của may mắn
trong hầu hết văn hoá phƣơng Tây, nó cũng là màu của thiên đƣờng trong triều nhà Minh.
Xanh lá cũng là màu thánh thiện của Hồi Giáo và tại Ireland nó cũng là màu may mắn. Bên
cạnh những ý nghĩa tốt lành màu xanh lá cũng mang những ý nghĩa tiêu cực tại một số quốc
gia nhƣ Tại Israel, màu xanh lá cây có thể mang ý nghĩa là có tin xấu.
Màu hồng là màu thƣờng đƣợc gắn vói nữ giới. Nói tới màu hồng, ngƣời ta sẽ nghĩ
ngay tới màu của tình yêu, sự lãng mạn, quan tâm, màu của hạnh phúc và những gì tốt đẹp
nhất. Hồng là sự kết hợp của màu đỏ và trắng. Màu hồng mang năng lƣợng nhiệt tình của
24


màu đỏ và sự sâu sắc của màu trắng. Đó là niềm đam mê và sức mạnh của màu đỏ đƣợc làm
dịu lại bằng độ tinh khiết, cởi mở và nhẹ nhàng của màu trắng. Tại một số quốc gia màu
hồng lại mang nhiều nghĩa khác. Đơn cƣ nhƣ tại Bỉ, màu hồng lại là màu dành cho bé trai.
Nhƣng hầu hết trong các nền văn hóa màu hồng mang nghĩa hạnh phúc.
Màu vàng trong thế giới tự nhiên, màu vàng là màu của hoa hƣớng dƣơng, lòng đỏ
trứng và ong. Trong thế giới con ngƣời, màu vàng biểu tƣợng cho vua chúa, cho sự chiến
thắng – huy chƣơng vàng, cúp vàng. Màu vàng cũng là màu của sự hạnh phúc, lạc quan,
giác ngộ, sáng tạo và ánh nắng mùa xuân. Tuy vậy đằng sau ý nghĩa tích cực của màu vàng,
nó cũng đi kèm với ý nghĩa của sự ích kỷ, hèn nhát, phản bội. Và trong vấn đề sức khoẻ
màu vàng có nghĩa là bệnh lý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status