BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ MỸ LIÊN
ẨN DỤ TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƠN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
văn hoàn thành các chuyên ngành trong chương trình cao học;
Xin chân thành cảm ơn Phòng Sau Đại học, Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh, với tư cách là đơn vị đào tạo và tổ chức để luận văn
được bảo vệ;
Xin khắc ghi sự động viên tinh thần của tất cả bạn bè và người thân trong thời gian
học tập, tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu của tác giả luận văn.
MỤC LỤC
4TLỜI TRI ÂN4T 3
4TMỤC LỤC4T 4
4TMỞ ĐẦU4T 6
4T0.1.Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu4T 6
4T0.2.Lịch sử nghiên cứu4T 7
4T0.3. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu4T 10
4T0.4. Phương pháp nghiên cứu4T 10
4T0.5. Ý nghĩa của đề tài4T 11
4T0.6. Cấu trúc của luận văn4T 12
4TChương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT4T 13
4T1.1 Vấn đề về ngôn ngữ học tri nhận4T 13
4T1.1.1.Thế nào là Ngôn ngữ học tri nhận?4T 13
4T1.1.2. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận4T 15
4T1.2Ẩn dụ tri nhận4T 16
4T1.2.1. Khái niệm ẩn dụ tri nhận4T 16
4T1.2.2. Đặc điểm của ẩn dụ ý niệm4T 19
4T1.2.3. Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ tri nhận4T 23
4T1.2.3.1. Ý niệm, phạm trù4T 23
4T1.2.3.2. Khung/ miền/ lĩnh vực4T 24
4T1.2.3.3. Điển dạng4T 24
4T1.2.4. Các loại ẩn dụ tri nhận cơ bản4T 25
4T1.2.4.1. Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors)4T 25
4T1.2.4.2. Ẩn dụ bản thể (Ontological metaphor)4T 25
ngôn ngữ mới có thể tìm thấy cái “độ sâu” ấy. Với lí do đó, có thể nói, cách tiếp cận theo
hướng ngôn ngữ học tri nhận là công cụ hiệu quả để khám phá cái “chiều sâu tư duy” trong
phần lời ca của nhạc Trịnh. Và hơn hết, với ẩn dụ tri nhận, người ta có thể đi vào bản chất
năng động tiêu biểu nhất của thế giới ẩn dụ. Ở đó, ẩn dụ được mở rộng về mặt biểu đạt các
hình tượng làm cho cấu trúc ngôn ngữ luôn được mở rộng theo chiều kích năng động của tư
duy chứ không bị khuôn cứng trong các mô hình. Vì vậy, ẩn dụ tri nhận, như đã nói là một
công cụ hữu hiệu để đi vào cái vũ trụ bí ẩn, cái thế giới tinh thần mờ khuất để khám phá nơi
đó “cái nhìn thế giới” vừa gần gũi, vừa xa lạ của Trịnh Công Sơn so với cái nền tri nhận
chung của dân tộc, của nhân loại. Đó là lí do mà luận văn triển khai đề tài “Ẩn dụ trong ca
từ Trịnh Công Sơn dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận” với hi vọng được góp thêm một
phần nhỏ vào việc tìm hiểu về cái nhìn, sự phân tích và giải thích của người nghệ sĩ này về
cuộc đời, về thế giới bằng một công cụ mới của khoa học ngôn ngữ –ẩn dụ tri nhận.
Triển khai đề tài “Ẩn dụ trong ca từ Trịnh Công Sơn dưới góc nhìn ngôn ngữ học
tri nhận”, luận văn nhằm mục đích chính là vận dụng những lí thuyết về ẩn dụ tri nhận để
tìm hiểu những ý niệm về tình yêu và cuộc đời trong ca từ Trịnh Công Sơn, từ đó đưa ra
những nhận định về đặc điểm ngôn ngữ và tư duy của Trịnh Công Sơn thông qua ca từ của
ông.
0.2.Lịch sử nghiên cứu
Đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về Trịnh Công Sơn. Một số bài viết
chủ yếu chỉ đề cập đến con người, cuộc đời, gia đình của Trịnh Công Sơn; một số bài viết
khác là những công trình nghiên cứu ca từ Trịnh Công Sơn theo hướng văn học, ngôn ngữ
học, âm nhạc. Có những bài là lời nhận xét chung chung và có những bài trở là những công
trình nghiên cứu rất sâu. Dù là bàn đến Trịnh Công Sơn ở khía cạnh nào, phương diện nào
vào thời điểm nào, đa phần các bài viết về ông thể hiện thái độ ca ngợi, thán phục về tài năng
và nhân cách của người nhạc sĩ này. Với tư cách là một con người,mà mỗi người là một hạt
bụi giữa nhân gian thì Trịnh Công Sơn được người đời ví như “cát bụi lộng lẫy”. Trong quan
hệ với gia đình, ông là người con hiếu thảo, người anh có trách nhiệm. Trong quan hệ với
bạn bè, ông là người bạn chân thành. Trong quan hệ với xã hội, với nghệ thuật và với cuộc
đời này, ông là ân nhân, đã mang đến những tác phẩm âm nhạc bất hủ ca ngợi con người, ca
ngợi cuộc sống, kêu gọi con người sống cho đẹp, cho hay; kêu gọi mọi người hãy đến với
chân Dã Tràng cũng là công trình nghiên cứu công phu về con người, cuộc đời của Trịnh
Công Sơn …
Ngoài ra còn có các bài viết trên các trang web, bài báo, tạp chí của nhiều người
bàn về Trịnh Công Sơn và ca khúc của ông. Trước năm 1975 có thể kể đến là các bài viết
của Lê Trương trong Phong trào da vàng ca (Trước 1975), của Tạ Tỵ trong Trịnh Công
Sơn (Trước 1975), của Tô Thùy Yên trong Huyền thoại về con người (Trước 1975). Đặc
biệt, từ sau ngày Trịnh Công Sơn mất, số lượng các bài viết tăng lên rất nhiều, đa số là mang
nội dung ca ngợi tài năng và con người của Trịnh Công Sơn, chẳng hạn, Hà Vũ Trọng có bài
Chiêm ngắm đóa hoa vô thường in trên Tạp chí Hợp Lưu, Hoa kỳ năm 2001, Trần Hữu
Thục có bài Một cái nhìn về ca từ Trịnh Công Sơn trên Tạp chí Văn học California, Hoa Kỳ
năm 2001. Ngoài ra còn có những bài viết, bài phát biểu của nhạc sĩ Thanh Tùng, nhạc sĩ
Nguyễn Văn Hiên, Ca sĩ Khánh Ly….trên các phương tiện thông tin.
Riêng dưới góc độ ngôn ngữ học, mà đặc biệt là tính ẩn dụ trừu tượng mang đến sự
hấp dẫn trong ca từ Trịnh Công Sơn đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu một
cách sâu sắc, công phu. Trước hết, có thể kể đến là nhận xét của Hoàng Tá Thích :
“Ngoài hình ảnh phong phú, ca từ Trịnh Công Sơn còn mang nhiều tính ẩn dụ đôi khi làm
người nghe khó hiểu, mà chính tác giả cũng không thể nào giải thích một cách đơn giản
những suy nghĩ của mình đã chuyển tải sang ngôn ngữ âm nhạc (Tương tự như một họa sĩ vẽ
tranh trừu tượng đôi khi cũng khó thể giải thích những ý tưởng rất… trừu tượng của mình
thể hiện trên tác phẩm hội họa)”[29, tr.3]
Hay như đánh giá của tác giả Bùi Vĩnh Phúc trong một cuộc phỏng vấn :
“Ca từ của Trịnh Công Sơn đã làm mới ngôn ngữ Việt Nam và đưa ra những hình
ảnh đẹp một cách rất bi thiết pha trộn với nét kỳ ảo. Tất cả những điều đó tạo nên một thế
giới riêng biệt, một thế giới chưa bị làm mòn đi bởi sự nhàm chán, sự lặp lại. Và điều ấy tạo
nên sự thu hút.” [http://www.tcs-home.org]
Còn Trịnh Chu thì khẳng định:
“Ở Nguyễn Du, tiếng Việt chỉ đẹp bởi sự chính xác, mang tính triết lý cao, và xem
ra cái “mỹ” ở đây chỉ là cái “mỹ” của hiện thực. Còn cái “đẹp” của Trịnh Công Sơn lại là
cái “đẹp” bảng lãng, sương khói của siêu thực, ấn tượng, bởi vì ông có khả năng tạo nên độ
bóng của ngôn từ. Sự vật nào được Trịnh Công Sơn đụng đến cũng bớt thật đi, và được
Để thực hiện mục đích của đề tài, luận văn hướng vào đối tượng, nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí thuyết của đề tài;
- Điều tra, phân tích nguồn ngữ liệu theo hướng ẩn dụ tri nhận phục vụ cho mục
đích nghiên cứu;
- Hình thành các quan hệ so sánh, đối chiếu để làm rõ bản chất của vấn đề
nghiên cứu.
Nói đến nhạc Trịnh Công Sơn, người ta thường nhắc đến ba mảng đề tài là: tình
yêu, cuộc đời và thân phận con người. Đến với đề tài này, luận văn chỉ giới hạn vấn đề
nghiên cứu ở hai mảng : vấn đề tình yêu và cuộc đời trong ca từ Trịnh Công Sơn.
Về phạm vi nguồn ngữ liệu chính, đã có những con số khác nhau về số lượng ca
khúc của Trịnh Công Sơn, luận văn tiến hành khảo sát 243 ca khúc mới được công bố trên
trang
4TUhttp://www.tcs-home.Org.vnU4T
0.4. Phương pháp nghiên cứu
0. 4. 1. Phương pháp thống kê và phân loại
Luận văn thống kê các lời của bài ca dựa trên các nguồn tài liệu tham khảo đã nêu
theo hướng nghiên cứu của đề tài. Sau khi thống kê, luận văn tiến hành phân loại theo vấn đề
cũng như phân loại các ý niệm trong ca từ đã sưu tầm được. Kết quả thống kê là cơ sở thực
tiễn để phân tích và trở thành cứ liệu khoa học có tính xác thực, thuyết phục và minh chứng
cho các lập luận của đề tài.
0.4.2. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Các phương pháp này được luận văn sử dụng trong quá trình khảo sát các từ ngữ,
câu văn trong toàn bộ các ca khúc theo hướng tri nhận phục vụ cho mục đích của đề tài.
Phương pháp phân tích được sử dụng để phân tích các nhân tố tác động đến việc hình thành
ý niệm trong ca từ Trịnh Công Sơn: hoàn cảnh xã hội, tâm lí và tư duy của người sáng tác.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát vấn đề, từ đó có thể rút ra những nhận
định, những mô hình ý niệm hóa có căn cứ dựa trên cứ liệu khoa học thực tế. Việc kết hợp
các phương pháp này giúp xử lí các vấn đề tốt hơn, toàn diện hơn. Đây có thể xem là phương
pháp chủ đạo để thực hiện đề tài.
0.4.3. Phương pháp miêu tả
vấn đề liên qua đến ngôn ngữ học tri nhận và ẩn dụ tri nhận như: thế nào là ngôn ngữ học tri
nhận, khái niệm ẩn dụ tri nhận, phân loại ẩn dụ tri nhận và những khái niệm liên quan đến ẩn
dụ tri nhận…
Chương hai: Ẩn dụ ý niệm về cuộc đời trong ca từ Trịnh Công Sơn.
Trong chương hai, luận văn trình bày những ý niệm về cuộc đời trong ca từ Trịnh
Công Sơn: cuộc đời là cuộc hành trình, cuộc đời là vật thể, cuộc đời là con người, cuộc đời
là cõi tạm.
Chương ba: Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn
Trong chương ba, luận văn trình bày những ý niệm về tình yêu trong ca từ Trịnh
Công Sơn: tình yêu là vật thể, tình yêu là con người, tình yêu là cuộc hành trình, tình yêu là
hư vô, tình yêu là sự chuyển động của các mùa trong năm.
Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Vấn đề về ngôn ngữ học tri nhận
1.1.1.Thế nào là Ngôn ngữ học tri nhận?
Tri nhận (cognition) là tất cả những quá trình tiếp nhận, cải biến và lưu trữ dữ liệu
trong trí nhớ con người dưới dạng những biểu tượng tinh thần (mental representation). Nó
cũng được coi như là cách xử lý thông tin dưới dạng những ký hiệu, cải biến nó từ dạng này
sang dạng khác. Hoạt động tri nhận (cognitive activity) là hoạt động tư duy dẫn đến việc
thông hiểu một nội dung nào đó.
Vậy ngôn ngữ học tri nhận là gì?
Thời gian xuất hiện của ngôn ngữ học tri nhận thường được tính từ năm 1989 sau
quyết định thành lập Hội ngôn ngữ học tri nhận tại Đức. Vậy là tính đến nay, ngôn ngữ học
tri nhận có tuổi đời chỉ mới trên 20 năm. Nghiên cứu ngôn ngữ học dưới góc độ tri nhận có
ngôn ngữ học (như ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học nhân học, ngôn ngữ học tâm lí…).
Ngôn ngữ học tri nhận, cũng như các khuynh hướng khoa học tri nhận khác có mục
tiêu chung là nghiên cứu việc thực hiện các quá trình lĩnh hội, xử lí và cải biến các tri thức
vốn quyết định bản chất của trí não con người. Điều này đồng nghĩa với việc nghiên cứu
ngôn ngữ theo hướng tri nhận không còn là nghiên cứu ngôn ngữ trong hệ thống ngôn ngữ,
nghiên cứu mối quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ như ngôn ngữ học phi tri nhận nói đến mà
ngôn ngữ ở đây được đặt trong mối quan hệ với khả năng tri nhận của con người, tức là liên
quan đến thông tin, tri thức, ý niệm -
những vấn đề phải xuất phát từ sự tri giác, từ kinh
nghiệm của con người. Hơn thế nữa, nghiên cứu ngôn ngữ từ góc độ tri nhận, chúng ta phải
chú ý đến sự khác nhau về “cái nhìn thế giới” hay cách tri nhận về thế giới được thể hiện
bằng những biểu thức ngôn ngữ của các dân tộc nói tiếng khác nhau. Ý nghĩa của ngôn ngữ
không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm
được hình thành trong quá trình con người và thế giới tương tác với nhau và từ tri thức và hệ
thống niềm tin của con người. Như vậy, sự tri giác,vốn kinh nghiệm và cái cách mỗi con
người, mỗi dân tộc nhìn nhận về thế giới khách quan- tài liệu của sự nhận thức - là cơ sở để
ngôn ngữ học tri nhận nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ. Vì thế, với ngôn ngữ học tri
nhận, mọi biểu hiện của tri thức ngôn ngữ được nghiên cứu không còn đóng kín trong hệ
thống ngôn ngữ mà là vấn đề tìm hiểu cơ chế phổ quát của ngôn ngữ tiềm ẩn trong trí não
của con người.
1.1.2. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận
Trong công trình “Ngôn ngữ học tri nhận, từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn
tiếng Việt”, Lý Toàn Thắng đã xác định đối tượng của ngôn ngữ học tri nhận:
“Đối tượng cụ thể của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ trong tư cách là một
trong những khả năng tri nhận và một trong những cấu trúc tri nhận của con người (cùng
với tri giác, tư duy, kí ức, hành động)”. (28, tr.45).
Ngôn ngữ học tri nhận nghiên cứu ngôn ngữ như những dạng thức tương tự khác
trong bộ máy tri nhận và hoạt động tri nhận của con người như : tri giác, học tập, kí ức, tư
duy…Có nghĩa là, ngôn ngữ dưới góc độ tri nhận phải được nghiên cứu như một thuộc tính
hai mặt: vừa là một hệ thống ký hiệu đóng vai trò quan trọng trong sự biểu hiện (mã hóa) và
đến không chỉ là vấn đề của ngôn ngữ mà còn là vấn đề của tư duy. Từ đây, ẩn dụ trở thành
một trong các bộ phận quan trọng của lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận.
Trước khi thuật ngữ ẩn dụ tri nhận xuất hiện với đầy đủ những đặc trưng bản chất của nó,
nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã đặt ẩn dụ trong mối quan hệ với tư duy và cho rằng ẩn dụ
là một quĩ tích của những suy nghĩ chứ không phải của ngôn ngữ. Vậy là với cách tiếp cận
này, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ẩn dụ từ trong lí thuyết ngôn ngữ học cổ điển, được coi là
một vấn đề chỉ thuộc về ngôn ngữ sang một ngoại vi mới thuộc vấn đề của tư duy trong
thuyết ẩn dụ hiện đại.
Tiếp thu những thành tựu của các nhà ngôn ngữ học đi trước, Lakoff và Johnson
đã phát triển những tư tưởng mới về ẩn dụ thành lí thuyết ẩn dụ tri nhận và được trình bày
trong công trình “Metaphor we live by”(1980). Lakoff và Johnson (1980) cho rằng: “hệ
thống ý niệm đời thường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của những điều chúng ta suy
nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ”. Chúng ta không chỉ dùng các ẩn dụ được quy ước
hóa và từ vựng hoá và nhất là những ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) một cách thuần tuý
ngôn ngữ học mà sự thực là chúng ta chỉ suy nghĩ hay ý niệm hoá phạm trù “ĐÍCH” thông
qua phạm trù “NGUỒN
”. Như vậy, từ chỗ lối nói ẩn dụ được cho là không chỉ trong ngôn
ngữ thông tục hàng ngày và ngôn ngữ hằng ngày không có ẩn dụ đã bị phủ nhận mà thay
vào đó là một quan điểm mới về phạm vi hoạt động của ẩn dụ. Và chỗ của ẩn dụ không hề là
ở trong ngôn ngữ mà là ở trong cái cách chúng ta khái quát hóa một hiện tượng tinh thần này
bằng một hiện tượng tinh thần khác. Lí thuyết chung của ẩn dụ nằm trong những đặc điểm
của sự xác lập khái quát có tính liên tưởng. Trong quá trình đó, những khái niệm trừu tượng
hàng ngày như thời gian, trạng thái, nguyên nhân, kết quả hoặc mục đích đều trở nên có
tính ẩn dụ. Hệ quả là ẩn dụ (tức là khái quát có tính liên tưởng) chính là tâm điểm tuyệt đối
của ngữ nghĩa học trong ngôn ngữ thông tục tự nhiên, và việc nghiên cứu ẩn dụ văn học là
một sự mở rộng của việc nghiên cứu ẩn dụ trong ngôn ngữ hàng ngày. Phép ẩn dụ được dùng
đến hàng ngày (trong ngôn ngữ thường nhật) là một hệ thống khổng lồ gồm vô số những
khái quát liên tưởng, và hệ thống này được sử dụng trong ẩn dụ văn học. Nhờ những kết quả
thực chứng này, chữ ẩn dụ được dùng theo một cách khác trong những nghiên cứu về ẩn dụ
hiện thời. chữ ẩn dụ lúc này có nghĩa là một khái quát có tính liên tưởng trong hệ thống khái
Bản thân thuật ngữ ẩn dụ ý niệm bao hàm rằng ẩn dụ nằm ngay ở tư duy của con
người và biểu hiện lên bề mặt ngôn ngữ. Tư duy và sau đó là ngôn ngữ về cơ bản là các quá
trình ẩn dụ gắn liền với kinh nghiệm cá nhân về các nền văn hóa. Một số lí thuyết thỏa đáng
về hệ thống ý niệm của con người là phải giải thích được các ý niệm: (1) căn cứ vào đâu, (2)
cấu trúc như thế nào, (3) có quan hệ với nhau như thế nào, và (4) được định nghĩa như thế
nào. Chẳng hạn, cái tạo nên một mệnh đề ẩn dụ “TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH”
không phải là các từ hay cụm từ cụ thể. Đó là một sự đồ chiếu xuyên suốt các phạm vi ý
niệm, từ phạm vi nguồn của cuộc hành trình cho tới phạm vi đích của tình yêu. Ẩn dụ không
phải chỉ là vấn đề của ngôn ngữ mà còn là của tư duy và lí luận. Ngôn ngữ chỉ là thứ yếu, đồ
chiếu mới chính là quan yếu vì nó chi phối việc sử dụng ngôn ngữ vùng nguồn và các cấu
trúc suy ra về các khái niệm vùng đích. Đồ chiếu (đồ họa) mang tính chất quy ước, là một
phần của hệ thống ý niệm của chúng ta. Nhờ vào việc “đồ họa” mà chúng ta có thể ý niệm
hóa cái trừu tượng thành cái cụ thể. Nhờ đó cái trừu tượng trở nên rõ ràng dễ nắm bắt. Vì thế
mà một khái niệm trừu tượng như tình yêu đã có thể được hình dung đầy đủ cả về hình thái
và bản chất của nó bằng cuộc hành trình.
Như vậy, chỗ của ẩn dụ không hề là ở trong ngôn ngữ mà là ở trong cái cách chúng
ta khái quát hóa một hiện tượng tinh thần này bằng một hiện tượng tinh thần khác. Lí thuyết
chung của ẩn dụ nằm trong những đặc điểm của sự xác lập khái quát có tính liên tưởng.
Trong quá trình đó, chúng ta phải dựa vào những kinh nghiệm của mình về những con
người, những sự vật và hiện tượng cụ thể thường nhật để ý niệm hóa các phạm trù trừu
tượng. Vì thế, hầu hết ý niệm của con người được định hình và hiểu được chỉ trong khung ý
niệm có được qua trải nghiệm của con người trong một nền văn hóa cụ thể. Hay nói cách
khác là bản chất của ẩn dụ tri nhận có tính nghiệm thân. Vì vậy khi nghiên cứu ẩn dụ tri nhận
trong một sáng tác nghệ thuật bằng ngôn từ của một người nào đó, chúng ta phải quan tâm
đến những trải nghiệm của họ trước cuộc đời rộng lớn này bên cạnh những gì họ đã tiếp thu
được từ nền văn hóa của không gian mà họ đã và đang sống.
1.2.2. Đặc điểm của ẩn dụ ý niệm
Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ. Đó là
phép sử dụng từ ngữ ở nghĩa chuyển dựa trên cơ sở tương đồng giữa một thuộc tính nào đó
của cái dùng để nói và cái muốn nói. Nói cách khác, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi giữa hai
những ý niệm trừu tượng trong khi đó ẩn dụ ngôn từ chỉ là những từ ngữ thể hiện các ý niệm
mà thôi. Cho nên, khác với cách hiểu trong văn học truyền thống và trong tu từ học, theo
thuyết này, ẩn dụ không chỉ được hiểu đơn thuần là loại cấu trúc " so sánh gồm có một vế"
hay là "so sánh ngầm" mà chúng được hiểu như một cách thức tri nhận thế giới thông qua
cách biểu đạt của tư duy lô gích được định hình trong ý thức của mỗi cộng đồng ngôn ngữ
nhất định
. Chẳng hạn, từ cơ sở thực tế là con người và đa số các loài động vật đều trong tư
thế nằm khi ngủ và đứng thẳng khi thức nên xuất hiện ý niệm “Ý THỨC HƯỚNG LÊN, VÔ
THỨC HƯỚNG XUỐNG”.Theo đó, ẩn dụ cơ bản là ý niệm được thể hiện chứ không phải là
ngôn ngữ thể hiện. Ẩn dụ ý niệm là các ánh xạ có tính chất hệ thống giữa hai miền ý niệm:
miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được ánh xạ hay phóng chiếu (đồ họa) vào miền
đích, một phạm trù trải nghiệm khác. Như vậy, ẩn dụ không còn là vấn đề ngôn ngữ mà cơ
bản là vấn đề tư tưởng và nhận thức. Cách nhìn ẩn dụ theo quan điểm này hoàn toàn khác với
quan điểm cho rằng ẩn dụ chỉ là biểu hiện với thuộc tính ngôn ngữ, nghĩa là ngôn từ và vì thế
mỗi từ ngữ riêng biệt phải có một ẩn dụ riêng biệt. Còn với ẩn dụ tri nhận, những từ ngữ ẩn
dụ được con người sử dụng còn mang tính hệ thống, bởi vì các ý niệm về ẩn dụ đều mang
tính hệ thống. Đến đây, chúng ta lại thấy một hệ luận nữa là các ẩn dụ ngôn từ gắn chặt với
các ẩn dụ ý niệm một cách hệ thống. Hay nói một cách khác là mỗi ẩn dụ ý niệm bao hàm và
chi phối một hệ thống các ẩn dụ ngôn từ. Ngoài ra, các ẩn dụ ý niệm cũng liên quan với nhau
theo một hệ thống để tạo thành một cấu trúc tôn ti trong hệ thống, nhờ đó ẩn dụ tri nhận sẽ
giúp con người hiểu sâu sắc hơn các tầng bậc ngôn ngữ cũng như chính bản thân mình.
Lakoff và Jonhson trong công trình “Metaphors we live by” đã khái quát các đặc
điểm cơ bản của ẩn dụ dưới góc nhìn tri nhận như sau:
Thứ nhất, ẩn dụ chủ yếu thuộc về lĩnh vực tư duy và hành động và chỉ phát sinh
trên lĩnh vực ngôn ngữ;
Thứ hai, ẩn dụ có thể đặt cơ sở trên sự tương đồng dù trong nhiều trường hợp
những tương đồng này dựa trên cơ sở các ẩn dụ thông thường mà không có cơ sở từ những
điểm tương đồng. Các điểm tương đồng có cơ sở là các ẩn dụ thông thường thì lại có thật
trong văn hóa của chúng ta vì các ẩn dụ thông thường đã phần nào định nghĩa những gì
chúng ta cho là có thật. Ẩn dụ có thể dựa trên các điểm tương đồng rời rạc, chúng ta vẫn
đến trừu tượng để hiểu được cái thế giới ít cụ thể hơn.
Khi đề cập đến các miền, thường dùng chữ in hoa để hàm ý rằng ẩn dụ ý niệm vốn
là thể loại tư duy, không nhất thiết phải biểu đạt trong một ngôn ngữ. Còn các biểu ngữ ẩn dụ
thì được viết bằng chữ thường để hàm ý rằng ẩn dụ ý niệm trong một ngôn ngữ được biểu
đạt thông qua biểu ngữ ẩn dụ.
Ẩn dụ ý niệm là hiểu một miền thông qua một miền khác. Hiểu các miền có nghĩa
là hiểu những tương ứng tồn tại giữa hai miền. Những tương ứng này được xem là các ánh
xạ. Các ánh xạ là tri thức tiền giả định ẩn tàng bên dưới, được dùng khi nói về những miền
khác. Chúng ta có thể hình dung cấu trúc hai miền như sau:
TARGET SOURSE
DOMAIN DOMAIN
Miền đích A B Miền nguồn
(Thường là đối tượng (Thường là đối tượng
trừu tượng) cụ thể)
( a’ ) a
( b’) b
( c’) c
………. …………
Trong đó, các ý niệm ở miền A có thể được thể hiện đầy đủ, tương ứng với những ý
niệm ở miền B (nếu là ẩn dụ cấu trúc) hoặc không được thể hiện đầy đủ (nếu là các loại ẩn
dụ khác). Sơ đồ trên dựa vào quan niệm của Lakoff và Johnson về sự hình thành của hai
miền nguồn và đích của một ý niệm:
“Suy luận trừu tượng được hình tượng hóa của ẩn dụ khái niệm nhờ vào các phóng
chiếu ẩn dụ từ vùng cụ thể (vùng nguồn) lên vùng trừu tượng (vùng đích). Sự phóng chiếu
liên thông có tính cấu trúc giữa vùng nguồn và vùng đích này được thực hiện gắn liền với sự
hình thành nên các đường dây thần kinh nối liền giữa vùng cảm nhận tri giác với các vùng
khác trong não bộ con người”[16].
nào trong số đó chúng ta phải hiểu cái cấu trúc toàn thể mà ý niệm đó ăn khớp với, tức là
nhấn mạnh đến chức năng bổ trợ về mặt ngữ nghĩa của một miền ý niệm và giả định rằng
miền chứa một cấu trúc mang tính tổng thể chứ không chỉ là một bảng liệt kê các ý niệm liên
quan đến trải nghiệm. Còn “miền” hay “lĩnh vực” thường được cho là một miền ngữ nghĩa
hay nghĩa của một từ liên quan đến một miền nhất định. Ngoài ra, nhiều người còn dùng
thuật ngữ “hình” (profile) và “nền” (base) để nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa một ý niệm
và miền bao ý niệm. Trong đó, hình là một phần của toàn bộ tri thức ý niệm được nền bổ trợ
nên nó sẽ trở nên không được xác định nếu không có nền. Mối quan hệ giữa ý niệm và miền
không chỉ là mối quan hệ ngữ nghĩa bậc trên-bậc dưới trong xếp loại tôn ti mà còn biểu hiện
mối quan hệ giữa phạm trù và các thành viên của phạm trù, giữa bộ phận và toàn thể.
1.2.3.3. Điển dạng
Từ góc độ tri nhận, hầu hết các nhà ngôn ngữ học cho rằng điển dạng là một biểu
tượng tinh thần, một loại điểm quy chiếu tri nhận. Các phạm trù tri nhận, do đó có một cấu
trúc phức tạp, bao gồm các điển dạng, các thí dụ đạt và thí dụ tồi (các thành viên phạm trù
ngoại vi) và có các ranh giới mờ. Bản chất của chúng được thể hiện ở chỗ:
- Các phạm trù không biểu hiện sự phân chia võ đoán các sự vật hiện tượng của thế
giới khách quan; chúng phải dựa trên cơ sở những khả năng tri nhận của con người.
- Các phạm trù tri nhận như màu sắc, hình dáng cũng như sinh vật và các sự vật cụ
thể đều liên đới với các điển dạng nổi trội về mặt ý niệm vốn là một bộ phận trọng yếu để tạo
thành các phạm trù.
- Ranh giới của các phạm trù tri nhận là ranh giới mờ, các phạm trù lân cận không
được tách bạch rõ ràng mà chúng lẫn vào nhau.
- Nằm giữa các điển dạng và các ranh giới, các phạm trù tri nhận gồm có các thành
viên được đánh giá theo một thang độ về tính điển hình và được xếp hạng từ các ví dụ đạt
đến các ví dụ tồi.
- Các điển dạng của các phạm trù tri nhận không phải là bất biến, mà chúng có thể
thay đổi và cấu trúc nội tại tổng thể của một phạm trù cũng khả biến như vậy tùy thuộc vào
bối cảnh tri nhận cụ thể, vào mô hình tri nhận và văn hóa, vào các bậc cơ sở mà con người sử
dụng khi tương tác với các sinh thể, vật thể trong thế giới khách quan.
1.2.4. Các loại ẩn dụ tri nhận cơ bản