ngữ nghĩa của danh từ đơn vị tiếng việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Dĩnh

NGỮ NGHĨA CỦA DANH TỪ ĐƠN VỊ
TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Dĩnh

NGỮ NGHĨA CỦA DANH TỪ ĐƠN VỊ
TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số

: 66 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRỊNH SÂM

4. Phương pháp nghiên cứu và sưu tầm tài liệu ........................................... 9
5. Ý nghĩa của đề tài ................................................................................... 10
6. Bố cục của luận văn................................................................................ 10
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ...................................................................... 12
1.1. Tổng quan về ngôn ngữ học tri nhận................................................... 12
1.1.1. Khái niệm...................................................................................... 12
1.1.2. Một số xu hướng chính ................................................................. 13
1.2. Danh từ đơn vị tiếng việt ..................................................................... 14
1.2.1. Khái niệm...................................................................................... 15
1.2.2. Vấn đề thuật ngữ.......................................................................... 16
1.2.3. Phân loại ....................................................................................... 21
1.2.4. Danh từ đơn vị và danh từ khối trong danh ngữ .......................... 26
1.2.5. Đặc điểm của danh từ đơn vị ........................................................ 30
1.3. Tiểu kết ................................................................................................ 43
Chương 2. NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM DANH TỪ ĐƠN VỊ ĐỘNG,
THỰC VẬT .................................................................................................. 44
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến cách sử dụng DĐV ............................ 44


2.1.1. Phân định các sự vật theo “chiều” không gian ............................. 45
2.1.2. Những định hướng không gian khi mô tả sự vật .......................... 45
2.2. Ngữ nghĩa của DĐV động vật ............................................................. 47
2.2.1. Danh từ đơn vị động vật lâm thời ................................................. 47
2.2.2. Danh từ đơn vị động vật chính danh ............................................ 49
2.3. Ngữ nghĩa của DĐV thực vật .............................................................. 59
2.3.1. Danh từ đơn vị thực vật lâm thời .................................................. 59
2.3.2. Danh từ đơn vị thực vật chính danh ............................................. 62
2.4. Một số nhận xét ................................................................................... 82
2.5. Một số ẩn dụ từ DĐV tiếng Việt ......................................................... 87
2.5.1. Ẩn dụ ............................................................................................ 87

: hình thức

DND

: danh từ đơn vị trội về nội dung

DHT

: danh từ đơn vị trội về hình thức

DTĐVQU

: danh từ đơn vị qui ước

DT

: danh từ

DN

: danh ngữ

(*)

: không được chấp nhận, không đúng với
cách nói của người Việt

±

: thế đối lập có/không

nghiên cứu về danh từ đơn vị thường quan tâm đến mặt cú pháp hơn là mặt
ngữ nghĩa và tri nhận.
Ngôn ngữ học tri nhận là một khuynh hướng ngôn ngữ học ra đời vào
những năm 80 của thế kỉ XX với nhiệm vụ trung tâm là nghiên cứu mối
quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy của con người, nghiên cứu cách con người
nhận thức thế giới qua lăng kính ngôn ngữ. Ngôn ngữ học tri nhận đã giúp
người viết trả lời những câu hỏi: Vì sao một đơn vị sự vật lại có thể kết hợp
được với nhiều danh từ đơn vị khác nhau? Vì sao chọn dùng danh từ đơn vị
này mà không dùng danh từ đơn vị khác? Cái gì cho phép ta tập hợp danh từ
đơn vị vào những nhóm khác nhau? Từ đó, người viết hiểu được cách thức
mà người Việt dùng các danh từ đơn vị để mô tả các thuộc tính không gian
của vật thể (như: hình dáng, kích cỡ, tư thế) và từ đó xếp loại chúng.
Với hai lí do trên, người viết đã mạnh dạn chọn đề tài này làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình với hi vọng thông qua góc nhìn
của ngôn ngữ học tri nhận ta có thể suy đoán về một cách thức riêng của


2

người Việt trong việc ý niệm hóa, phạm trù hóa, phân loại và mô tả thế giới
khách quan.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1 Danh từ đơn vị trong ngôn ngữ học tiền tri nhận
Khi nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, nhà nghiên cứu Việt ngữ nào cũng
dành một phần không nhỏ cho từ loại danh từ. Trong từ loại danh từ, người
ta không quên nhắc tới danh từ đơn vị. Từ trước đến nay, danh từ đơn vị
được gọi bằng những tên gọi khác nhau: tiền danh từ (Phan Khôi), loại tự
(Lê Văn Lý, Trần Trọng Kim, Phạm Tất Đắc), phó danh từ (Nguyễn Kim
Thản), loại từ (Nguyễn Tài Cẩn, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Phú Phong), danh
từ chỉ loại (Lê Cận, Quang Thiều, Diệp Quang Ban) và danh từ đơn vị

(trê)…cũng được hai ông xem là loại tự. Theo Nguyễn Tài Cẩn, những từ
như “hoa sen”, “lá chuối”, “hột dưa” “đều là những từ tổ bình thường, đặt
theo quan hệ chính phụ. Yếu tố đầu bao giờ cũng là một danh từ chỉ sự vật,
còn giữ nguyên nghĩa gốc của chúng, đúng như khi chúng dùng một mình”
[3, tr.194].
Trong tác phẩm “Sơ thảo về ngữ pháp Việt Nam”, Lê Văn Lý cho rằng
từ loại tiếng Việt gồm: tự loại A (danh tự), tự loại B (động tự), tự loại B,
(tĩnh tự), tự loại C1 (ngôi tự), tự loại C2 (số tự), tự loại C3 (phụ tự). Theo đó
ông đưa ra định nghĩa về loại tự như sau: “loại tự là những chứng tự của tự
loại A; chúng cho phép ta nhận định được những tự ngữ nào thuộc tự loại A
và đồng thời chúng cũng xếp những tự ngữ đó vào một loại riêng biệt”. [35,
tr.50]. Ông chia loại tự thành ba tiểu loại: loại tự cho những danh tự chỉ
người, loại tự cho những danh tự chỉ loài vật và loại tự cho những danh tự
chỉ sự vật. Bỏ qua bước xác định tiêu chí nhận diện loại từ, ông liệt kê 171
loại từ và miêu tả cụ thể cách dùng chúng.
Không dùng thuật ngữ loại từ nhưng Nguyễn Kim Thản trong tác phẩm
“Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt” cũng tán đồng quan điểm này. Ông cho
rằng những từ như bài, bản, bông, bức, cái, chiếc, con, đứa, tấm…là phó


4

danh từ, luôn đứng phụ cho danh từ, có tác dụng chỉ sự vật riêng lẻ, chỉ đơn
vị tự nhiên, nằm giữa ranh giới hư từ và thực từ. Ông định nghĩa “Phó danh
từ là những từ chỉ đơn vị tự nhiên của sự vật, phục vụ cho danh từ để cá thể
hóa sự vật và có những khả năng kết hợp như danh từ” [47, tr167]. Ông cho
rằng: “công dụng ngữ pháp chủ yếu của phó danh từ là làm công cụ ngữ
pháp để cá thể hóa danh từ, nghĩa là làm một thứ trợ phụ từ. Song, phó danh
từ còn có khả năng thay thế cho danh từ”. Tuy nhiên chính ông cũng thừa
nhận điểm chưa ổn trong quan niệm của mình “Gọi là phó danh từ thì nói

Khuynh hướng này thừa nhận thuật ngữ danh từ đơn vị và cho rằng loại
từ là một tiểu loại nằm trong nhóm này.
Trong tác phẩm “Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại”, Nguyễn
Tài Cẩn đã khảo sát rất kĩ danh từ đơn vị. Theo ông, “trong số những danh
từ chung không tổng hợp, trước hết cần phải tách những kiểu như “chiếc,
đứa, con, cây, thước, cân, xu, giờ, miếng, đàn, tá, lần, lượt…thành một tiểu
loại riêng. Đây là tiểu loại danh từ dùng để chỉ đơn vị đo lường, đơn vị tính
toán” [3, tr.17]. Ông cho rằng loại từ là một tiểu loại của danh từ đơn vị
“Trong danh từ đơn vị, trước hết cần phải kể đến nhóm thường được gọi là
loại từ. Đây là một nhóm không có ý nghĩa từ vựng rõ ràng và chuyên dùng
để phục vụ việc đếm thành từng cá thể, thành từng đơn vị tự nhiên của sự
vật cũng như phục vụ việc phân chia sự vật vào các loại” [3, tr.123]. Loại từ
được ông xếp vào hệ thống công cụ từ để dạng thức hóa danh từ “Nói đến
các công cụ từ dùng để dạng thức hóa danh từ và diễn đạt các phạm trù ngữ
pháp của từ loại này, trước hết phải kể đến nhóm mà ta quen gọi là nhóm
loại từ”. [3, tr.187]
Lê Ni La dùng tiêu chí [± đơn vị] phân chia danh từ tiếng Việt thành
danh từ khối và danh từ đơn vị. Tác giả tiếp tục dùng tiêu chí [± chất liệu] để
phân loại danh từ đơn vị thành hai loại: danh từ đơn vị có tính trội về nội
dung và danh từ đơn vị hình thức thuần túy. Tác giả cho rằng “theo quan
điểm của chúng tôi, những từ vốn quen được gọi là loại từ là một mảng của


6

DĐV hình thức thuần túy, chỉ đơn vị các đối tượng tự nhiên (phân biệt với
các đối tượng khác: hành động, thời gian, không gian, trạng thái, quá trình,
tính chất). Vì vậy, cách gọi DĐV tự nhiên trước đây rất thích hợp với loại
từ” [29, tr.73].
2.1.4. Khuynh hướng thứ tư

“danh từ đơn vị là những danh từ chỉ những hình thức tồn tại của những
thực thể phân lập trong không gian, trong thời gian hay trong một chiều nào
khác được hình dung như giống với không gian, có thể được tri giác tách ra
khỏi bối cảnh và khỏi các thực thể khác” [19, tr.392]. Với tiêu chí [± đếm
được], ông đã phân danh từ đơn vị thành hai loại: các danh từ hình thức
thuần túy (205 từ) và danh từ vừa có thuộc tính nội dung vừa có hình thức
tồn tại phân lập (225 từ). (Xem bảng ở phần Phụ lục 2)
Trong luận án tiến sĩ, Nguyễn Thị Ly Kha đã dùng tiêu chí [± đơn vị]
để tăng thêm thế đối lập giữa danh từ đơn vị và danh từ khối. Tác giả cho
rằng “danh từ đơn vị là loại danh từ biểu thị hình thức tồn tại của thực thể
hoặc biểu thị những sự vật được ngôn ngữ đối xử như những thực thể phân
lập, có kích thước xác định, có thể phân lượng hóa được, dùng để chỉ đơn vị
của thực thể, chuyên đảm đượng chức năng thành tố chính trong cấu trúc
danh ngữ” [23, tr42]. Với tiêu chí [± đơn vị] tác giả đã chia danh từ đơn vị
thành hai loại: danh từ đơn vị có tính trội về hình thức (gồm 405 từ) và danh
từ đơn vị có tính trội về nội dung (gồm 449 từ). (Xem bảng ở phần Phụ lục
3)
Có thể nói, dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tiền tri nhận, các nhà
nghiên cứu có những quan điểm chưa thống nhất và những vấn đề tranh cãi
của danh từ đơn vị xoay quanh địa hạt ngữ pháp.
2.2. Danh từ đơn vị trong ngôn ngữ học tri nhận
Ngôn ngữ học tri nhận là một xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ mới,
được nhiều nhà Việt ngữ quan tâm. Những đề tài về ngôn ngữ học tri nhận
được đăng tải trên Tạp chí Ngôn ngữ cũng được người đọc tìm tòi học hỏi
nhằm có thêm những hiểu biết sâu sắc cho luận văn. Có thể kể đến “Khảo


8

luận ẩn dụ tri nhận” của Trần Văn Cơ [8], “Dòng sông và cuộc đời” (tri nhận

Đây là một phạm trù lớn vì cách mở rộng của ngữ pháp tiếng Việt hiện
đại không chỉ bó hẹp trong cách hiểu loại từ trong các ngôn ngữ Ấn- Âu. Do
vậy, luận văn cần giới hạn đề tài. Cụ thể đối tượng khảo sát của luận văn
gồm hai mảng danh từ đơn vị: danh từ đơn vị dùng cho động vật (gọi tắt là
danh từ đơn vị động vật), theo khảo sát của chúng tôi gồm có 19 đơn vị
chính danh. Và danh từ đơn vị dùng cho thực vật (gọi tắt là danh từ đơn vị
thực vật), chúng tôi đã khảo sát gồm 74 đơn vị.
Khi khảo sát ngữ nghĩa của danh từ đơn vị trong tổ hợp “danh từ đơn vị
+ danh từ thực vật” và “danh từ đơn vị + danh từ động vật”, do nhóm danh
từ đơn vị qui ước dùng cho động, thực vật như kí, cân, yến, mét, tạ, tấn...ít
thể hiện (chứ không phải không thể hiện) sự tri nhận của người Việt nên
luận văn không khảo sát nhóm từ này.
4. Phương pháp nghiên cứu và sưu tầm tài liệu
Ngoài những phương pháp, thủ pháp thông dụng mà bất kì một công
trình nghiên cứu nào cũng phải vận dụng như sưu tầm, phân loại, trong luận
văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
4.1. Phương pháp hệ thống cấu trúc
Danh từ là một hệ thống từ vựng, danh từ đơn vị là một tiểu hệ thống
nằm trong hệ thống lớn hơn. Danh từ đơn vị động vật và danh từ đơn vị thực
vật cũng là một tiểu hệ thống của danh từ đơn vị. Như vậy, mặc dù mô tả
ngữ nghĩa tri nhận của hai tiểu hệ thống nêu trên nhưng chúng tôi cũng chú
ý đến những đặc điểm về mặt cấu trúc, hình thức, nội dung, đồng thời đặt
chúng vào trong hệ thống.
4.2. Phương pháp phân tích ngữ nghĩa tri nhận
Luận văn này không đi quá sâu vào chi tiết các nét nghĩa của một danh
từ đơn vị biểu hiện mà thông qua sự hoạt động của chúng trong giao tiếp cố
gắng khái quát thành các ý niệm, các phạm trù, tức là cách thức mà người
Việt tri nhận.





11

Chương hai cũng gồm hai phần. Phần thứ nhất miêu tả ngữ nghĩa của
danh từ đơn vị động vật và danh từ đơn vị thực vật dưới góc nhìn của ngôn
ngữ học tri nhận, các tham tố nghĩa của chúng. Và để giúp người đọc hình
dung một cách rõ ràng về danh từ đơn vị đang miêu tả chúng tôi cũng mạnh
dạn chọn lọc một số hình ảnh, hình minh họa. Phần thứ hai chúng tôi tập
trung vào một số ẩn dụ của danh từ đơn vị nhằm thấy được cách thức, đặc
điểm ẩn dụ của danh từ đơn vị. Từ đó, luận văn góp phần giúp người đọc
thấy rõ hơn đặc điểm tri nhận của người Việt qua danh từ đơn vị.
Phần cuối của luận văn là danh sách tài liệu tham khảo và phần phụ lục.
Phần phụ lục giới thiệu bảng danh sách danh từ đơn vị mà chúng tôi khảo sát
để làm luận văn. Đồng thời, chúng tôi cũng giới thiệu thêm ba bảng danh
sách danh từ đơn vị của Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Ly Kha và Lê Ni La.


12

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Tổng quan về ngôn ngữ học tri nhận
1.1.1. Khái niệm
Những công trình nghiên cứu lý thuyết Ngôn ngữ học tri nhận trên thế
giới rất phong phú. Trong lĩnh vực ứng dụng lý thuyết Ngôn ngữ học tri
nhận vào nghiên cứu Việt ngữ, tác giả Lý Toàn Thắng và Trần Văn Cơ đã
có những đóng góp lớn lao. Những tiền đề lý luận về ngôn ngữ học tri nhận
được trình bày dưới đây đều được tham khảo từ những nghiên cứu của hai
tác giả này.
Ngôn ngữ học tri nhận là một trường phái nghiên cứu ngôn ngữ mới,

quan hệ giữa ngôn ngữ và các quá trình tư duy của con người (bao gồm trí
tuệ, sự hiểu biết, sự thông hiểu, trí nhớ, ý niệm hóa thế giới,…) trên cơ sở
kinh nghiệm và suy luận logich”. [8, tr53].
Đối tượng cụ thể của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ trong tư cách
là một trong những khả năng tri nhận và một trong những cấu trúc tri nhận
của con người. Ngôn ngữ học tri nhận nghiên cứu một cách bao quát và toàn
diện chức năng tri nhận (nhận thức) của ngôn ngữ. Ngôn ngữ vừa là sản
phẩm của hoạt động tri nhận vừa là công cụ của hoạt động tri nhận của con
người. Ngôn ngữ là cửa sổ để đi vào thế giới tinh thần của con người, là
phương tiện để đạt đến những bí mật của quá trình tư duy. Có thể nói, “ngôn
ngữ học tri nhận giương cao ngọn cờ “hướng tới con người”. Nó nghiên cứu
ngôn ngữ trong mối quan hệ với con người- con người suy nghĩ, con người
hành động. Đối tượng của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ tự nhiên của
con người với tư cách là một bộ phận cấu thành của nhận thức” [8, tr40 -41].
Ngôn ngữ học tri nhận theo nghĩa hẹp được hiểu là ngữ nghĩa học tri
nhận Mỹ và ngữ pháp học tri nhận Mỹ với các tên tuổi như Lakoff G,
Johnson M, Langacker R.W…và một số học giả Châu Âu như Taylor J,
Haiman J…Theo nghĩa rộng, ngôn ngữ học tri nhận còn nghiên cứu ngữ


14

nghĩa học khung, ngữ pháp kết cấu, loại hình học tri nhận, lí thuyết ngữ
nghĩa…
Ngôn ngữ học tri nhận có ba xu hướng tiếp cận nghiên cứu.
(i) Xu hướng thứ nhất quan tâm đến “kinh nghiệm”. Với cách tiếp cận
này, nhà ngôn ngữ học tri nhận sẽ khảo sát những vấn đề như các phạm trù
tri nhận, các sơ đồ hình ảnh, các mô hình điển dạng khi phạm trù hóa các sự
vật, nội dung và cấu trúc tri nhận của các ẩn dụ.
(ii) Xu hướng thứ hai quan tâm đến mức độ “nổi trội” của các cấu trúc

thành hai tiểu loại: danh từ khối và danh từ đơn vị. Trên cơ sở thành tựu
nghiên cứu của ngữ pháp truyền thống, một số vấn đề ngữ nghĩa của danh từ
đơn vị, trong đó có danh từ đơn vị động vật và danh từ đơn vị thực vật, đang
thu hút sự chú ý của nhiều nhà ngôn ngữ học tri nhận.
1.2.1. Khái niệm
DĐV là một vấn đề nghiên cứu rất phức tạp. Mỗi nhà Việt ngữ khi
nghiên cứu về DĐV đều đưa ra thuật ngữ gọi tên và khái niệm dựa trên
những tiêu chí khác nhau.
Dựa vào chức năng xác định chủng loại, Lê Văn Lý cho rằng “loại tự
là những chứng tự của tự loại A; chúng cho phép ta nhận định được những tự
ngữ nào thuộc tự loại A, và đồng thời chúng cũng xếp những tự ngữ đó vào
một loại riêng biệt nữa [35,tr51]. Đồng tình với Lê Văn Lý, Lưu Vân Lăng
cũng cho rằng “loại từ vốn là DĐV, nhưng khi đặt trước một danh từ khác
thì nghĩa từ vựng của nó ít nhiều bị giảm, chỉ còn tác dụng đơn vị hóa sự vật
cho danh từ đứng sau, đồng thời xác định rõ danh từ này thuộc loại nào. Có
thể định nghĩa loại từ là từ xác định rõ chủng loại và đơn vị cho danh từ đặt
ngay sau nó” [31, tr.17].
Nhờ sự nghiên cứu sâu hơn, bao quát hơn về DĐV, một số nhà Việt
ngữ phát hiện ra bản chất của DĐV là giúp người bản ngữ phân lập các sự
vật trong mối quan hệ với danh từ. Ý nghĩa hình thức của chúng mới là
chính. Trong nhận thức của người bản ngữ, chất liệu là cái rất cần phải có
một hình thức ngôn ngữ chia cắt sự vật tương hợp với việc đo đếm. Lâu dần


16

người Việt tự động đơn vị hóa tất cả những gì biểu đạt bằng danh từ...xuất
phát từ chức năng phân lập thực thể của DĐV, Đinh Văn Đức - Kiều Châu,
khi chỉ ra nguyên nhân xuất hiện của loại từ, đã đưa ra khái niệm “chúng là
những đơn vị hình thức của danh từ, giúp người bản ngữ phân lập các sự vật

of glasses (một chiếc kính), a pair of scissors (một cái kéo), a pair of shoes
(một đôi giày), a herd of cattle (một bầy gia súc), a school of fish (một bầy
cá), a crowd of people (một đám đông), a flock of birds (một đàn chim), a
bunch of flowers (một bó hoa) [51]
Trong tiếng Việt, ta thấy một loạt các từ như ngôi (nhà), dãy (tre), đàn
(cừu), buồng (chuối), thanh (gỗ), viên (đá), lá (thư), chiếc (thuyền)…luôn
xuất hiện trước các danh từ chỉ người, động vật, thực vật, vật vô sinh. Các từ
này đã, đang trở thành đối tương nghiên cứu thu hút các nhà Việt ngữ. Tuy
nhiên, khi nghiên cứu, mỗi tác giả, do xuất phát từ những quan điểm và góc
nhìn khác nhau, đã đưa ra những thuật ngữ khác nhau để gọi tên những từ
ngữ này.
Trương Vĩnh Kí miêu tả hai từ con, cái và gọi chúng là “appellatifs”
(từ gọi chung) [26, tr.22] và những từ như bản, bận, bộ…ông gọi là
“numéraux ou noms numériques” (từ chỉ số hay loại) [26, tr.30]. Có người
gọi chúng là loại - tự (Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy Khiêm, Phạm
Tất Đắc), loại từ ( Lê Văn Lý, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Tài Cẩn, Phan Ngọc,
Nguyễn Phú Phong…), tiền danh từ (Phan Khôi), phó danh từ (Nguyễn Lân,
Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Minh Thuyết), danh từ đơn vị (Nguyễn Tài Cẩn,
Cao Xuân Hạo, Dư Ngọc Ngân, Nguyễn Thị Ly Kha…)
Riêng thuật ngữ loại từ được nhiều nhà nghiên cứu Việt ngữ sử dụng.
Nó thường được quan niệm như một hư từ, “rỗng nghĩa”, một thứ công cụ
ngữ pháp có chức năng phân loại danh từ. Một số nhà nghiên cứu Việt ngữ
không thừa nhận loại từ là một danh từ vì họ cho rằng loại từ rỗng nghĩa và
không có hay ít khả năng xuất hiện độc lập, điều này trái ngược với ngữ
pháp của một danh từ.
Thực ra loại từ không rỗng nghĩa mà chỉ rỗng về phần chất liệu của
nghĩa, còn phần hình thức tồn tại phân lập của nó không thể thiếu vì thiếu


18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status