1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Đại học khoa học xó hội và nhõn văn
Khoa Văn học
--------------
Bài tiểu luận giữa kỳ:
Mỹ học đại cương
CHỦ ĐỀ
: CÁI ĐẸP CỦA CA TỪ TRONG NHẠC PHẨM TRỊNH
CÔNG SƠN GVHD:
SV :
Lớp :
pays du monde” (coll. Les Millions).
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
4
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
Nếu như Văn Cao đến bên đời như một dòng thác ba nhánh đổ ào ạt với
con sóng cách mạng “Tiến quân ca” – trào dâng mạnh mẽ thì Trịnh Công Sơn
lại như một dòng sông với phù sa lắng đọng cả thơ-nhạc-họa để gom góp cho
đời một dòng chảy êm êm: dòng nhạc Trịnh. Người ta không nhắc đến Trịnh
Công Sơn với một bài ca nào riêng rẽ, người ta nhớ “Ướt mi” rồi chẳng biết tự
khi nào lại hát “Huyền thoại mẹ”. Những ca khúc của Trịnh Công Sơn làm thành
một dòng nhạc riêng trong muôn vàn tiếng hát Việt Nam. Gần nửa thế kỷ qua, từ
tác phẩm đầu tay năm 1959 - Ướt mi được nhà xuất bản An Phú, Sài Gòn ấn
hành, âm nhạc Trịnh Công Sơn vượt qua cả đường biên lãnh thổ, cả sự trôi chảy
miên viễn của thời gian. Hơn 600 bài hát của Trịnh Công Sơn - những món quà
mà ông mang tặng cho người “trong cuộc liên hoan trên đất đai xứ sở này” – có
I. CI P TRONG M NHC MANG M CHT TH
1. Mi quan h gia cỏi p trong th v cỏi p trong nhc Trnh Cụng
Sn
c sinh ra t i sng tinh thn phong phỳ v a phc ca loi ngi,
nhng con ca ngh thut l mt th hp nht khú tỏch ri. ng trờn nhiu
gúc khac nhau ngi ta ó c gng phõn chia ngh thut thnh by loi hỡnh:
kin trỳc, hi ha, õm nhc, vn hc, iờu khc, in nh, sõn khu. Nhng ranh
gii gia chỳng vn l si dõy mnh d n vụ hỡnh, Kụginp ó gi: kin trỳc
l õm nhc ngng t, õm nhc bng ỏ. Hoa vn l õm nhc c khc ha, õm
nhc ca th giỏc. Nhy mỳa l õm nhc ca c th. Th tr tỡnh l õm nhc ca
ngụn ng. m nhc l kin trỳc ca õm thanh, l hoa vn ca thớnh giỏc, l th
tr tỡnh khụng li
Trong si dõy liờn kt bn vng ca vn hc v cỏc loi hỡnh ngh thut
thỡ mi liờn h gia vn hc v hi ha, vn hc v õm nhc l hai mi liờn h
c bn nht. Mc dự ca t ca Trnh Cụng Sn cng ging nh nhng bc ha
khc tc nờn hng lot hỡnh nh siờu thc , tng trng. Núi n mi quan h
th ca - õm nhc, tc l phi núi n nh hng ca hai loi hỡnh ngh thut ny:
Ngh thut ngụn ng v ngh thut õm thanh. m nhc v th ca cựng cú mt
phng thc phn ỏnh, l phng thc phn ỏnh tr tỡnh. Ca t tỡm thy trong
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
6
thơ ca những tiếng hát thiết tha của cảm xúc con người, nên trong hành trình đến
với trái tim, ca từ chọn thơ ca làm bạn đồng hành. Và như thế ca từ trong âm
nhạc mang chất thơ rõ rệt. Cũng có thể nói rằng, chất thơ là đặc trưng quan trọng
bậc nhất của ca từ âm nhạc. Một bài hát hay phải đẹp như một bài thơ trữ tình
đặc sắc. Trong những tác phẩm thanh nhạc của âm nhạc Việt Nam, dường như ta
thấy hình tượng ngơn ngữ và hình tượng âm nhạc trùng khớp. Nghe nhạc Văn
Cao, ta thấy ơng sang trọng như một ơng hồng với “tứ nhạc phong phú, nét
sinh ra từ thân thể của người nghệ sĩ, nó hàm chứa “một cõi nhân sinh bề bộn
những khổ đau và hoan lạc, khi thốt thai, dù là thơ dại nó cũng phải ngợi ca và
an ủi, vỗ về linh hồn nhân loại, nó nhắc nhở con người một điều giản dị: “Tơi
hát là tơi hiện hữu. Tơi tồn tại cũng có nghĩa là tơi mất đi. Tơi mất đi nhưng
tiếng hát còn ở lại. Ơr lại như một chứng tích vừa buồn bã, vừa huy hồng của
một cõi đời” (Thế giới Âm nhạc. 1996). Tiếng hát câu ca như một cuộc rong
chơi của con người nhỏ bé muốn chống lại cái vơ hạn vơ cùng của thời gian trơi
chảy. Thân xác con người rồi có ngày cũng sẽ trở về với cát bụi, nhưng tâm hồn
thì sẽ bất tử cùng tiếng hất, tiếng hát muốn vậy, theo Trịnh Cơng Sơn phải
“chun chở được một thơng điệp của lòng nhân ái” (Thế giới Âm nhạc,1/1997).
Âm nhạc thánh thiện phải như một bản kinh cầu gột rửa những bụi bặm tị hiềm
trong góc khuất con người. Đó chẳng phải là mong ước của riêng cuộc đời
những câu hát mà còn là cái đích vươn lên của những câu thơ, những bức tranh
và những bộ phim…Đó chính là chức năng, nhiệm vụ của nghệ thuật dù ở bất
kỳ một lĩnh vực nào.
Từng khẳng định trong cuộc phỏng vấn : “Sự mất mát và cái chết là ám
ảnh lớn nhất đời tơi”, nghệ thuật của Trịnh Cơng Sơn cất cánh từ bệ phóng của
hai nỗi ám ảnh dai dẳng ấy - nó trở thành cội nguồn sáng tạo trong hầu hết các
sáng tác thơ ca, âm nhạc, hội họa của ơng. Nhưng cũng phải nhìn sâu hơn vào
hai điều ơng lo sợ. Xét đến cùng, Trịnh Cơng Sơn sợ cái chết và mất mát là bởi
ơng u cuộc sống q nhiều và khơng muốn mất nó. Ơng trân trọng tình u,
lúc nào cũng muốn giữ cho mình một ý nghĩa bền vững: “Cuộc sống khơng thể
có tình u”, ơng đi qua cái hun náo của cuộc đời và thích thú với sự tĩnh lặng
trong những ngày nằm bệnh “nằm n và theo dõi sự suy tưởng của mình trước
cuộc đời. Nằm và cảm nhận cùng một lúc sự gần gũi và cả sự xa vắng đối với tất
cả những gì đang tồn tại hoặc vây quanh đời sống chúng ta”; ơng tri ân và ước
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
mơ “tất cả chúng ta, đã cùng có mặt trước sau trong cuộc đời, đối với những ai
9
nh mt bi th tõm s, giói by. Theo Nguyn Duy: Cht th trong ca khỳc
Trnh Cụng Sn bng lng, l m khú phõn nh, nú ta ra t hn th, thm sõu
vo xỏc ch; nhng thit ngh nú khụng to ra s thỏch cho ngi c, trỏi li
bt u t xỏc ch tin n hn th chỳng ta cú th khỏm phỏ, nh dng c
nhng c sc ca cht th trong sỏng tỏc Trnh Cụng Sn. Cht th khụng tn
ti mt cỏch vụ hỡnh, m nú th hin sinh ng hỡnh thc t cp th th n
ngụn t, nhng thụng ip m tỏc gi mun gi gm. khng nh nhc
Trnh Cụng Sn cú mi liờn h cht ch vi th ca, chỳng tụi s khỏm phỏ ca t
trong nhiu ca khỳc ca ụng c hai mt l hỡnh thc (xỏc ch) v ni dung
(hn th).
1.1. Cỏi p t th th
Trnh Cụng Sn vit nhc v la chn th l ngi bn ng trung thnh
vi ca khỳc trờn hnh trỡnh n vi ngi nghe l iu cú th gii thớch c.
Trong vn hc, ngi ta thng núi ni dung no hỡnh thc ny. Tõm hn v
cỏi nhỡn ca ụng i vi cuc sng phự hp vi cỏch biu hin ca th ca -mt
th loi nng v din t th gii ni tõm, tỡnh cm ca ngi vit.
i vi ca t Trnh Cụng Sn, ngi c nhiu khi ch quan tõm n s
sỏng to ngụn t c ỏo, th nhng cú th núi mi tỏc phm ca ụng ging
nh mt bi th tr tỡnh c sc thỡ ch nhc n ngụn t l khụng . c ca t
Trnh Sụng Sn cú mt iu thỳ v l s xut hin ca th th tng ng mt
bi th trn vn.
Mi bi th trong sỏng tỏc ca ụng u cú mt mnh trong ngh thut biu
hin khỏc nhau. Cỏi mnh trong th nm ch l cht hoi nim, th lc bỏt l
kh nng th hin tõm tỡnh sõu lng Nh vy, cỏch thuc m ngi vit la
chn mt hỡnh thuc th chuyn ti ni dung, cng phn no núi lờn tõm
trng, phong cỏch ca anh ta. i vi Trnh Cụng Sn, th th t do v hp th
chim u th rt ln trong cỏc sỏng tỏc ca ụng. Bi th t do din t mt cỏch
trung thc ni dung, cm xỳc khụng b l thuc vo khuụn kh v lut l th.
th ang lin mch m nhiu bi th t do ca cỏc tỏc gi khỏc ụi khi gp phi.
Do ú, kt cu bi th khụng b ri rc m hi hũa v cht ch....ú l nhõn t
to nờn v p trong ca t v trong c ni dung ca ca khỳc Trnh Cụng Sn.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
11
Đọc những bài thơ - nhạc Trịnh ta cũng bắt gặp hồn thơ dân gian dung dị
thân thương ấy:
“Hà Nội mùa thu
Cây cơm nguội vàng
Cây bàng lá đỏ
Nằm kề bên nhau”
(Nhớ mùa thu Hà Nội).
Và
“Đêm chong đèn ngồi nhớ lại
Từng câu chuyện ngày xưa
Mẹ về đứng dưới mưa
Che đàn con nằm ngủ”
(Huyền thoại mẹ)
Thể 4 chữ, 5 chữ trong ca từ Trịnh Công Sơn mang hơi thở dân gian
nhưng đã được quỵệnhòa cùng sự sáng tạo tài hoa của ông nên nó cũng tạo nên
một vẻ đẹp độc đáo lạ thường.
Thơ lục bát của Trịnh Công Sơn cũng có những nét mới. Nếu như Tố
Hữu dung giọng tâm tình của lục bát để viết về các sự kiện lớn lao của đất nước
thì Trịnh lại đưa vào thơ lục bát triết lý về cõi đời, cõi sống theo tư tưởng nhà
Phật.
“ Con chim ở đậu cành tre
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn