TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: THỦ TỤC MIỄN TRỪ THEO PHÁP LUẬT CẠNH
TRANH VIỆT NAM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
NGUYỄN MAI HÂN
SINH VIÊN THỰC HIỆN
HUỲNH VĂN THÀNH
MSSV: 5106000
LỚP: LK1064A1
CẦN THƠ, THÁNG 8 NĂM 2013
Đề tài: Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ..................................................................................................... 1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ............................................................................................. 2
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU .............................................................................................. 2
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................................. 3
5. KẾT CẤU LUẬN VĂN ................................................................................................... 3
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ MIỄN TRỪ TRONG
LUẬT CẠNH TRANH ......................................................................................... 4
CẠNH TRANH .................................................................................................................. 24
1.5 ƢU NHƢỢC ĐIỂM CỦA VIỆC ÁP DỤNG THỦ TỤC MIỄN TRỪ .................... 25
1.5.1 Ƣu điểm của việc áp dụng thủ tục miễn trừ trong thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh và tập trung kinh tế ............................................................................................... 25
1.5.2 Nhƣợc điểm của việc áp dụng thủ tục miễn trừ trong thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh và tập trung kinh tế. ..................................................................................... 26
CHƢƠNG 2: THỦ TỤC THỰC HIỆN MIỄN TRỪ, THỰC TIỄN VÀ
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ MIỄN
TRỪ TRONG LUẬT CẠNH TRANH ............................................................... 27
2.1 ĐIỀU KIỆN HƢỞNG MIỄN TRỪ ............................................................................ 27
2.1.1 Đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh .................................................. 27
2.1.2 Đối với hành vi tập trung kinh tế .......................................................................... 29
2.2 HÀNH VI ĐƢỢC MIỄN TRỪ ................................................................................... 31
2.2.1 Những hành vi đƣợc hƣởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.. 31
2.2.2 Những hành vi đƣợc miễn trừ đối với tập trung kinh tế ...................................... 32
2.3 CƠ QUAN TIẾN HÀNH THỦ TỤC MIỄN TRỪ .................................................... 32
2.4 TRÌNH TỰ THỦ TỤC MIỄN TRỪ .......................................................................... 33
2.4.1 Hồ sơ miễn trừ ....................................................................................................... 34
2.4.2 Thụ lý hồ sơ miễn trừ ............................................................................................ 37
2.4.3 Bổ sung thông tin ................................................................................................... 39
2.4.4 Ra quyết định miễn trừ .......................................................................................... 39
2.5 KHIẾU NẠI VỀ MIỄN TRỪ VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ MIỄN TRỪ .. 39
2.6 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
MIỄN TRỪ ......................................................................................................................... 41
2.6.1 Thực trạng về miễn trừ ở Việt Nam ...................................................................... 41
2.6.2 Một số bất cập trong việc áp dụng thủ tục miễn trừ............................................. 47
2.6.3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về miễn trừ ở Việt Nam ........................ 48
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
triển các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ đối thủ cạnh tranh
trong và ngoài nước. Do đó, cạnh tranh luôn là vấn đề đáng quan tâm hàng đầu của họ,
bởi cạnh tranh chính là sự sống còn của doanh nghiệp mình. Chính vì thế, các doanh
nghiệp cần phải tận dụng có hiệu các nguồn lực sẵn có của mình như: nguồn vốn, khoa
học kỹ thuật, lao động…để nâng cao vị thế của mình trên thương trường. Tuy nhiên, nếu
chỉ phát huy các nguồn lực nội sinh không thì các doanh nghiệp không thể cạnh tranh lâu
dài được. Do đó, các doanh nghiệp đã rất coi trọng việc phát triển các nguồn lực ngoại
sinh, một trong những hình thức được các doanh nghiệp sử dụng là hành vi thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh hoặc hành vi tập trung kinh tế.
Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi tập trung kinh tế luôn có tính hai
mặt khác nhau rõ rệt: một mặt làm tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tham
gia; một mặt lại hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp khác.
Với tư cách là công cụ pháp lý được sử dụng để loại bỏ các biểu hiện không lành
mạnh trên thị trường quốc gia. Luật cạnh tranh ra đời có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm
đảm bảo cho quá trình cạnh tranh được lành mạnh và bình đẳng, đảm bảo sự vận hành
hiệu quả của cơ chế thị trường, tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế. Đồng
thời, chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đảm bảo quyền lợi chính đáng
của doanh nghiệp. Trên thực tế đã có rất nhiều hành vi hạn chế cạnh tranh gây cản trở sự
cạnh tranh, có khả năng gây thiệt hại cho doanh nghiệp và người tiêu dùng. Vì thế hành
vi này được điều chỉnh bởi luật cạnh tranh năm 2004, tuy nhiên có những hành vi gây
hạn chế cạnh tranh bị cấm lại được hưởng miễn trừ. Điều đó, góp phần tạo cơ hội cho các
doanh nghiệp phát huy khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường. Mặt khác, thủ tục
này không hề đơn giản và tốn nhiều thời gian, để giúp đỡ các doanh nghiệp cũng như bản
thân tác giả hiểu rõ hơn về các hành vi hạn chế cạnh tranh được miễn trừ và thủ tục miễn
trừ tác giả đã chọn đề tài “Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam” để
làm đề tài luận văn của mình.
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
Trang 5
Phương pháp chứng minh được tác giả sử dụng để đưa ra những ví dụ dẫn chứng
cụ thể để bài viết được sinh động.
Phương pháp tổng hợp, thống kê tài liệu thông tin qua các bài viết, các công trình
nghiên cứu của các nhà khoa học để thu thập thông tin cho bài viết.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 2 chương
chính.
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
Trang 6
SVTH: Huỳnh Văn Thành
Đề tài: Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
Chương 1: Khái quát chung về vấn đề miễn trừ trong luật cạnh tranh.
Chương 2: Thủ tục thực hiện miễn trừ trong luật cạnh tranh, thực tiễn và một số đề
xuất nhằm hoàn thiện qui định pháp luật về miễn trừ trong luật cạnh tranh.
Đây là lần đầu tiên tác giả làm đề tài nghiên cứu khoa học nên tác giả cũng gặp
không ít khó khăn, do kiến thức còn hạn hẹp, kinh nghiệm cuộc sống không nhiều. Nên
đề tài không tránh khỏi những thiếu xót nhất định. Tác giả rất mong nhận được sự đóng
góp của quý thầy cô cũng như các bạn sinh viên.
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
Trang 7
SVTH: Huỳnh Văn Thành
thị trường được định nghĩa là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm
giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình2”.
Các tác giả trong cuốn "Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh
kiểm soát độc quyền kinh doanh, thuộc sự án VIE/97/016 thì cho: Cạnh tranh có thể được
hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc
1
2
Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam. NXB chính
trị quốc gia, 2004, tr 19
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
Trang 8
SVTH: Huỳnh Văn Thành
Đề tài: Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt đựơc một mục tiêu
kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một
môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua”. Theo các nhà kinh tế học Mỹ thì cho rằng
cạnh tranh có hai trường hợp là cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. Hai
nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản
lần thứ 12) cho rằng Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp
cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho cạnh tranh
đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition)3.
/>
8
/>
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
Trang 9
SVTH: Huỳnh Văn Thành
Đề tài: Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
Tóm lại, cạnh tranh có thể hiểu là sự ganh đua, kình địch của các chủ thể kinh
doanh nhằm tranh giành một số loại tài nguyên, khách hàng hay thị trường về phía mình
nhằm mục đích thu lợi nhuận cao.
1.1.2 Theo Luật cạnh tranh Việt Nam
Việt Nam đã thực hiện đổi mới nền kinh tế từ năm 1986, đưa nền kinh tế nước ta
bước vào kỷ nguyên mới kỷ nguyên của kinh tế thị trường. Qua nhiều năm xây dựng nền
kinh tế thị trường thì thuật ngữ cạnh tranh không còn là một thuật ngữ mới mẽ nữa, nó
đã trở thành quen thuộc đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay
chúng ta vẫn chưa có một khái niệm chính thức về cạnh tranh.
Theo từ điển Việt nam thì cạnh tranh được định nghĩa là sự tranh đua giữa những
nhân tố, tổ chức hoạt động cùng lĩnh vực như nhau9.
Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động
tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh
doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện
sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất10.
Cạnh tranh không còn mới mẽ gì đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội
nhập kinh tế thế giới hiện nay. Luật cạnh tranh được Việt Nam được Quốc hội khóa XI,
14
Mục 3 chương 2 Luật cạnh tranh
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
Trang 10
SVTH: Huỳnh Văn Thành
Đề tài: Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
1.2 KHÁI NIỆM VỀ MIỄN TRỪ TRONG LUẬT CẠNH TRANH
Trong quá trình phát triển các doanh nghiệp luôn phải đấu tranh, giành lấy những
điều kiện thuận lợi về phía doanh nghiệp để phát triển doanh nghiệp. Do đó, cạnh tranh
luôn diễn ra ở nhiều giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên không phải lúc nào doanh nghiệp
cũng cạnh tranh trong chuẩn mực đạo đức mà đôi khi lại vi phạm tính chất của cạnh tranh
làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các doanh nghiệp khác. Chính vì thế, cơ chế miễn trừ
đã được các nhà làm luật đặt ra để xem xét hành vi của doanh nghiệp. Theo đó, nếu hành
vi của doanh nghiệp đã có đủ dấu hiệu kết luận là vi phạm luật cạnh tranh, song lại có
nhiều tác dụng tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội thì sẽ được xem xét hưởng miễn
trừ. Các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đã quy định khá chi tiết về những
trường hợp được miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế.
1.2.1 Miễn trừ là gì
Để khuyến khích và tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp yên tâm phát triển
kinh doanh, miễn trừ đã được các quốc gia trên thế giới cũng như pháp luật quốc gia áp
dụng. Theo từ điển điển bách khoa toàn thư thì khái niệm miễn trừ được định nghĩa là:
“Quyền cho các thành viên tổ chức thương mại thế giới (WTO) dành cho một thành viên
khác không áp dụng một điều khoản nào đó trong lĩnh vực xác định trong thương mại
quốc tế đó. Pháp luật của tổ chức thương mại WTO quy định, nếu quốc gia muốn được
Đề tài: Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
Nước ta vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào là miễn trừ, tuy nhiên luật cạnh
tranh quy định khá chi tiết về những hành vi hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế nào
bị cấm, và những điều kiện được hưởng miễn trừ18.
1.2.2 Khái niệm về thủ tục miễn trừ theo pháp luật Việt Nam
Doanh nghiệp nào tồn tại trên thị trường cũng đều tìm cách nâng cao năng lực
cạnh tranh của mình thông qua quá trình tự lớn lên của chính mình hay nói cách khác
chính là quá trình phát sinh nội tại hoặc thông qua quá trình phát triển ngoại sinh mà chủ
yếu là các doanh nghiệp tìm cách liên kết lại với nhau thông qua quá trình thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh hay tập trung kinh tế. Tuy nhiên ,không phải lúc nào các hành vi như thế
cũng được phép thực hiện, đôi khi nó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp
khác. Chính vì thế các hành vi này thường bị pháp luật cấm. Quá trình xem xét tính vi
phạm của hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay hành vi tập trung kinh tế của cơ
quan nhà nước là rất quan trọng. Bởi lẽ các hành vi này luôn có tính hai mặt cùng tồn tại:
một mặt tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp , một mặt lại hạn chế
cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu
dùng. Theo quy định của luật cạnh tranh, những thỏa thuận sau đây được xếp vào đối
tượng có thể được hưởng miễn trừ19.
Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch
vụ;
Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng
hoá, dịch vụ;
Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán
hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không
liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.
Các thỏa thuận này sẽ được hưởng miễn trừ nếu như chúng được thực hiện nhằm
mục đích hạ giá thành và đem lại lợi ích cho người tiêu dùng bằng các chiến lược như:
Một là, chiến lược liên doanh và hợp tác phát triển nó sẽ được miễn trừ nếu chiến
bộ quá trình tiến hành các thủ tục đó được gọi là một quy trình về thủ tục miễn trừ trong
cạnh tranh.
1.2.3 Đặc điểm của thủ tục miễn trừ trong Luật cạnh tranh Việt Nam
Thủ tục miễn trừ là một đặc ân mà nhà làm luật mang đến cho các doanh nghiệp,
nguyên nhân chính là do hành vi của doanh nghiệp đã mang lại nhiều lợi ích cho nền
kinh tế - xã hội. Để đảm bảo tính khách quan của thủ tục này cần phải có nhiều chủ thể
tham gia bao gồm: Cơ quan thụ lý hồ sơ miễn trừ 20, người tiến hành miễn trừ21, người
được hưởng miễn trừ22, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có liên quan nhằm giải quyết
đúng đắn khách quan vụ việc hạn chế cạnh tranh. Thủ tục miễn trừ mang hai đặc điểm
sau:
Thứ nhất: Thủ tục miễn trừ mang bản chất của một thủ tục hành chính và được
thực hiện theo quy định pháp luật cạnh tranh. Nó là một thủ tục hành chính vì nó được
ban hành bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước và được áp dụng một lần đối
với một hoặc một số đối tượng cụ thể23. Tuy nhiên nếu thủ tục hành chính này được áp
20
Điều 30 Luật cạnh tranh
21
Điều 25 Luật cạnh tranh
22
Điều 26 Luật cạnh tranh
23
Điều 4, khoản 1 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính số 29/2006/PL-UBTVQH11 có hiệu lực ngày
bao gồm: hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị
trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế. Trong bài viết tác giả phân tích
hai nhóm hành vi là: thỏa thuận hạn chế cạnh tranh24, và hành vi tập trung kinh tế25.
1.3.1 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đƣợc miễn trừ
Theo quy định tại Điều 8 Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 thì có 8 hành vi
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, trong đó có 5 hành vi bị cấm nhưng được hưởng miễn trừ
nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và 3 hành vi cuối sẽ bị cấm
tuyệt đối. Dưới đây chúng ta sẽ xem xét từng hành vi cụ thể đối với những hành vi bị
cấm nhưng được miễn trừ:
1.3.1.1 Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
24
Điều 9, khoản 2 Luật cạnh tranh
25
Điều 18 Luật cạnh tranh
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
Trang 14
SVTH: Huỳnh Văn Thành
Đề tài: Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
Có thể hiểu thỏa thuận này là việc các doanh nghiệp thống nhất áp dụng một mức
giá hoặc một cách thức tính giá chung khi mua, bán hàng hóa, dịch vụ với khách hàng
hoặc trao đổi thông tin về giá để tạo nên những phản ứng thống nhất về giá hàng hóa,
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
Trang 15
SVTH: Huỳnh Văn Thành
Đề tài: Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
những chuẩn mực định sẵn thay vì định giá một cách tự do và độc lập tùy theo điều kiện
riêng của mỗi doanh nghiệp.
Nhìn chung, hành vi thỏa thuận ấn định giá tồn tại ở mọi công đoạn của quá trình
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và thỏa thuận này đang diễn ra ở tất cả các nước
trên thế giới kể cả Việt Nam. Sau đây chúng ta sẽ xem xét một số ví dụ cụ thể về hành vi
này:
Trên thị trường thế giới, tháng 7/1998 liên minh 9 hãng sản xuất chip bán dẫn
được thành lập bao gồm: Samsung, Infineon, Hynix Semiconductor và Elpida Memory;
NEC Electronics; Hitachi; toshiba; Mitsubishi và Nanya. Các hãng sản xuất này cấu kết
với nhau nhằm điều chỉnh giá bán chip nhớ và DRAM gây thiệt hại cho các hãng đối thủ
và cả người tiêu dùng. Vụ việc bị phát giác sau 4 năm sau (6/2002) khi hãng sản xuất
Micron sau khi rời khỏi liên minh này đã báo cáo với Ủy ban châu Âu về vụ việc này.
Sau khi xem xét vụ việc Ủy ban châu Âu đã ra phán quyết có hành vi ấn định giá của 9
hãng sản xuất chip bán dẫn này. Cụ thể Ủy ban châu Âu đã đưa ra mức phạt đối với liên
minh này là 404 triệu USD, trong đó Samsung bị phạt nặng nhất với 145,7 triệu USD,
tiếp sau đó là Infineon với 56,7 triệu USD và Hynix Semiconductor với 51,5 triệu USD,
các hãng sản xuất còn lại bao gồm: Elpida Memory; NEC Electronics; Hitachi; Toshiba;
Mitsubishi và Nanya cũng đều bị phạt tiền. Riêng trường hợp của Micron, do đã thông
báo với Ủy ban châu Âu về vụ việc này nên họ được miễn phạt26.
Trên thị trường Việt Nam đã tồn tại những hành vi thỏa thuận của các doanh
nghiệp liên quan đến giá hàng hóa, dịch vụ như: vụ hiệp hội taxi trong hiệp hội taxi vào
lên 1,56%/năm. Những doanh nghiệp tham gia ký kết thỏa thuận mà không thu đúng sẽ
bị Hiệp hội bảo hiểm phạt 10% số phí bảo hiểm thu được của hợp đồng vi phạm nhưng
tối thiểu 10 triệu đồng đối với bảo hiểm tàu biển và 5 triệu đồng với bảo hiểm hàng hóa.
Trong bản thỏa thuận đã khẳng định việc thống nhất tăng phí bảo hiểm nhằm giảm những
thiệt hại do cạnh tranh gây ra cho các doanh nghiệp và đảm bảo cạnh tranh bình đẳng
giữa các doanh nghiệp28.
1.3.1.2 Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung ứng hàng hóa, dịch vụ
Theo quy đinh tại Điều 15 nghị định 116/2005 NĐ-CP phân chia thỏa thuận này
thành hai nhóm thỏa thuận sau:
Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ là việc thống nhất về số lượng hàng hóa,
dịch vụ; địa điểm mua, bán hàng hóa, dịch vụ; nhóm khách hàng đối với mỗi bên tham
gia thỏa thuận.
Thoả thuận phân chia nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ là việc thống
nhất mỗi bên tham gia thỏa thuận chỉ được mua hàng hóa, dịch vụ từ một hoặc một số
nguồn cung cấp nhất định29.
Theo nội dung của thỏa thuận này, các doanh nghiệp tham gia đã phân chia thị
trường mua bán thành các khu vực và giao cho một, một số doanh nghiệp tham gia được
quyền mua, bán trong một khu vực nhất định. Các doanh nghiệp tham gia chỉ mua, bán
hàng hóa, dịch vụ với khách hàng hoặc với số lượng, khối lượng đã được phân chia và
không thể xâm phạm đến khu vực của người khác.
1.3.1.3 Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán
hàng hoá, dịch vụ
Theo quy đinh tại Điều 16 nghị định 116/2005/NĐ-CP phân chia thỏa thuận này
thành hai loại sau:
27
PGS.TS Lê Danh Vĩnh. Giáo trình Luật cạnh tranh đại học luật thành phố Hồ Chí Minh. Tr 80.
28
có sự thống nhất ý chí và sự đồng ý cùng nhau thực hiện hành động trên thì có thể
kết luận có sự vi phạm.
Thứ hai, thoả thuận kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ là việc thống nhất ấn định số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán
hàng hoá, cung ứng dịch vụ ở mức đủ để tạo sự khan hiếm trên thị trường30.
Như vậy cấu thành pháp lý của thỏa thuận này gồm 3 yếu tố bao gồm: có sự thống
nhất ý chí của các doanh nghiệp tham gia; các doanh nghiệp ấn định lượng hàng hóa,
dịch vụ mà mỗi doanh nghiệp được sản xuất, mua, bán hoặc cung ứng và lượng hàng hóa,
dịch vụ được ấn định ở mức đủ để tạo sự khan hiếm trên thị trường 31. Khác hơn so với
thỏa thuận trước đó, đối với thỏa thuận này cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần xác
định được sự tác động hoặc khả năng tác động của thỏa thuận đến nguồn cung, cầu của
thị trường. Như vậy, nếu thỏa thuận này được thực hiện thì lượng hàng hóa, dịch vụ được
sản xuất, mua, bán ra luôn thấp hơn nhu cầu của thị trường và đủ để tạo ra sự khan hiếm
trên thị trường32. Luật không quy định như thế nào là sự khan hiếm trên thị trường, nhưng
có thể hiểu sự khan hiếm trên thị trường là số lượng hàng hóa mua, bán trên thị trường
luôn thấp hơn nhiều so với những thời điểm trước đó và làm cho cầu luôn lớn hơn rất
nhiều so với cung. Sự khan hiếm này là giả tạo, nguyên nhân chính là do giả tâm của các
doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thực hiện nhằm kiếm lợi bất chính. Hậu quả của thỏa
30
Điều 16, Nghị định 116/2005/NĐ-CP.
31
PGS.TS TS Lê Danh Vĩnh. Giáo trình Luật cạnh tranh đại học luật thành phố Hồ Chí Minh. Tr 82.
32
PGS.TS TS Lê Danh Vĩnh. Giáo trình Luật cạnh tranh đại học luật thành phố Hồ Chí Minh. Tr 83.
tiếp ảnh hưởng cho nền kinh tế nước ta, làm cho nền kinh tế ngày càng lạc hậu so với các
nước trong khu vực và thế giới.
1.3.1.5 Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua,
bán hàng hoá, dịch vụ, hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ
không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng
Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán
hàng hoá, dịch vụ là việc các doanh nghiệp thống nhất đặt ra một hoặc một số điều kiện
tiên quyết buộc khách hàng phải chấp nhận trước khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa,
dịch vụ với họ. Cấu thành pháp lý của thỏa thuận này bao gồm:
33
34
Điều 17, Nghị định 116/2005/NĐ-CP.
PGS.TS TS Lê Danh Vĩnh. Giáo trình Luật cạnh tranh đại học luật thành phố Hồ Chí Minh. Tr 84.
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
Trang 19
SVTH: Huỳnh Văn Thành
Đề tài: Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
Về chủ thể, khách hàng của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải là doanh
nghiệp khác. Tổ chức, cá nhân là người tiêu dùng không phải là đối tượng của thỏa thuận
này35.
Về mặt nội dung, các điều kiện mà thỏa thuận đặt ra phải là những điều kiện có
nội dung phản cạnh tranh. Trên thực tế, các doanh nghiệp thường sử dụng một số tiêu
chuẩn về năng lực tài chính, về kinh nghiệm, về kỹ thuật để chọn khách hàng nhằm đảm
Khoản 1 Điêu 18, Nghị định 116/2005/NĐ-CP.
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
Trang 20
SVTH: Huỳnh Văn Thành
Đề tài: Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
Thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực
tiếp đến đối tượng của hợp đồng là việc thống nhất ràng buộc doanh nghiệp khác khi
mua, bán hàng hóa, dịch vụ với bất kỳ doanh nghiệp nào tham gia thỏa thuận phải mua
hàng hóa, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ định trước hoặc thực hiện
thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng 38. Có
hai yếu tố để cấu thành pháp lý của thỏa thuận này là:
Một là, khách hàng trong hợp đồng mua bán phải là các tổ chức, cá nhân kinh
doanh mà không thể là người tiêu dùng.
Hai là, các nghĩa vụ không liên quan đến hợp đồng bao gồm: khách hàng buộc
phải chấp nhận mua thêm hàng hóa, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ
định trước hoặc thực hiện thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để
thực hiện hợp đồng.
Đối với thỏa thuận này khách hàng muốn có được hợp đồng, họ buộc phải thực
hiện đồng thời hai hợp đồng: hợp đồng chính và hợp đồng phụ. Trong đó, đối tượng của
hợp đồng phụ không liên quan trực tiếp đến hợp đồng chính. Thỏa thuận này đã gây ra
nhiều bất lợi cho khách hàng, chứng tỏ môi trường cạnh tranh đang bị sai lệch và suy
giảm do các doanh nghiệp có khả năng chi phối thị trường thực hiện nhằm bóc lột khách
hàng.
1.3.2 Tập trung kinh tế
Dưới sức ép của cạnh tranh các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao năng lực
thuận hạn chế cạnh tranh40. Theo Điều 16 luật cạnh tranh quy định tập trung kinh tế là
hành vi của doanh nghiệp bao gồm: Sáp nhập doanh nghiệp; Hợp nhất doanh nghiệp;
Mua lại doanh nghiệp; Liên doanh giữa các doanh nghiệp; Các hành vi tập trung kinh tế
khác theo quy định của pháp luật41.
Đặc điểm của tập trung kinh tế
Thứ nhất, chủ thể của tập trung kinh tế là các doanh nghiệp hoạt động trên thị
trường. Các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thể cùng hoặc không cùng hoạt động trên
thị trường liên quan.
Thứ hai, hình thức tập trung kinh tế bao gồm: sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên
doanh giữa các doanh nghiệp.
Thứ ba, hậu quả của tập trung kinh tế là việc hình thành các tập đoàn kinh tế, thay
đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh trên thị trường42.
Tác động
Mặt tích cực: tập trung kinh tế là động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản
xuất nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung, góp phần làm tăng sức mạnh kinh tế và
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua việc hình thành các công ty lớn, các
tập đoàn kinh tế. Việc hình thành các tập đoàn kinh tế lớn sẽ tạo điều kiện thúc đẩy tiến
bộ khoa học và công nghệ thông qua đầu tư vốn vào sản xuất. Bên cạn đó, tập trung kinh
tế còn đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung các nguồn lực phát triển, tạo ra các ngành
kinh tế mũi nhọn.
Mặt tiêu cực: tập trung kinh tế có thể dẫn đến hậu quả là hình thành các công ty
độc quyền, gia tăng vị trí thống lĩnh trên thị trường làm hạn chế cạnh tranh, gây tổn hại
đến lợi ích của doanh nghiệp khác và người tiêu dùng. Tập trung kinh tế có thể dẫn đến
sự phân hóa giữa các doanh nghiệp, những doanh nghiệp có khả năng sẽ chiến thắng, uy
39
Lê Viết Thái: “ Chuyên đề về hành vi tập trung kinh tế, đề tài nghiên cứu về thể chế cạnh tranh trong điều kiện
phát triển thị trường tại Việt Nam” ( Viện nghiên cứu thương mại – Bộ thương mại, 2005).
40
Các hình thức tập trung kinh tế
Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài
sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng
thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài
sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới,
đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.
Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài
sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của
doanh nghiệp bị mua lại.
Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng
nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành
một doanh nghiệp mới45.
Các hành vi tập trung kinh tế khác đây là cách thức xây dựng pháp luật khá phổ
biến ở Việt Nam, các nhà làm luật luôn sử dụng phương pháp liệt kê để xác định những
trường hợp vi phạm quy định của luật, mặt khác lại dự trù thêm một điều nói về các hành
vi khác mà luật chưa liệt kê hết để bổ sung khi cần thiết46.
Luật cạnh tranh dựa trên tiêu chí thị phần để làm cơ sở phân loại nhóm tập trung
kinh tế và là tiêu chí duy nhất để xác định cách thức xử lý. Những trường hợp tập trung
43
/>
44
PGS.TS TS Lê Danh Vĩnh. Giáo trình Luật cạnh tranh đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, tr 154.
45
Điều 17 Luật cạnh tranh
1.4 SỰ CẦN THIẾT CÓ NHỮNG QUY ĐỊNH MIỄN TRỪ TRONG LUẬT CẠNH
TRANH
Pháp luật Việt Nam luôn công nhận quyền tự do kinh doanh của các doanh
nghiệp. Theo đó, các doanh nghiệp có quyền định đoạt các vấn đề phát sinh trong nội bộ
doanh nghiệp như tự do lựa chọn ngành nghề, quy mô kinh doanh, kế hoạch và phương
hướng kinh doanh. Họ có quyền tự do liên kết trong kinh doanh, theo đó, quyền tự do
khế ước bao gồm sự tự chủ trong việc liên kết đầu tư để mua doanh nghiệp khác hoặc
liên minh góp vốn thành lập các chủ thể kinh doah mới. Nhà nước không can thiệp vào
các quyền tự do kinh doanh trên, mà còn xây dựng một cơ chế bảo hộ các hoạt động này
nhằm khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh sản xuất. Tuy nhiên, nếu các quyền tự
do kinh doanh này vượt quá giới hạn cho phép gây ảnh hưởng đến quyền tự do và lợi ích
của các doanh nghiệp khác thì pháp luật sẽ can thiệp.
Dưới góc độ cạnh tranh các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi tập
trung kinh tế luôn có tính hai mặt của nó. Một mặt các hành vi này làm hạn chế cạnh
tranh trên thị trường và gây thiệt hại cho doanh nghiệp khác và người tiêu dùng. Mặt
khác, những hành vi này lại có tác dụng tích cực cho sự phát triển của thị trường, thông
47
Báo cáo chuyên đề tập trung kinh tế tại Việt Nam, tr 22.
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
Trang 24
SVTH: Huỳnh Văn Thành
Đề tài: Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
qua việc hình thành các công ty lớn hay tập đoàn kinh tế có sức cạnh tranh cao hơn nhiều
so với các doanh nghiệp cũ, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế.
Những hành vi hạn chế cạnh tranh này phải thỏa mãn các điều kiện theo quy định của
pháp luật mới được hưởng miễn trừ, mà các điều kiện này thường có lợi cho xã hội và
nền kinh tế.
GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân
Trang 25
SVTH: Huỳnh Văn Thành