Hình ảnh người nông dân đánh giặc trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu. - Pdf 30

Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được xem là một áng văn chương
xuất sắc không phải chỉ của riêng Nguyễn Đình Chiểu mà còn là
của văn học Việt Nam thời Trung đại.
Sống trong cuộc đời tránh sao được cái quy luật sống và chết. Người ta vẫn thường nói chết là hết. Nhưng
có những cái chết không một tiếng vang, lại có những cái chết để tiếng thơm muôn thuở. Những người
nghĩa sĩ cần Giuộc năm xưa đứng dậy chống Pháp đã lựa chọn cái chết thật: Thác mà trả nước non rồi nợ,
danh thơm đến sáu tỉnh chúng đều khen. Thác mà ưng đỉnh miếu để mà thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai
cũng mộ. Có thể nói toàn bộ bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca của những người thất thế nhưng
vẫn hiên ngang (Phạm Văn Đồng).
Đó là vào năm 1859, sau khi đánh chiếm Gia Định, thực dân Pháp mở rộng xâm lược ra ba tỉnh miền
Đông Nam Bộ. Đến tháng 12/1861, Pháp đánh úp ba xứ Cần Giuộc, Tân An, Gò Cóng. Hai ngày sau,
nghĩa quân ba xứ nhất tề nổi dậy, tập kích đồn quân Pháp, đốt nhà Dòng, nơi chúng đóng quân, giết chết
một tên quan hai Pháp và một số lính thuộc địa. Nghĩa quân hi sinh khoảng 15 người. Trận thắng không
lớn nhưng nó làm nức lòng những người dân yêu nước Việt Nam đang sôi sục ý chí báo vệ Tổ quốc. Bởi
vậy, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài văn tế để khóc thương và biểu dương tinh thần hi sinh vì nước của
nghĩa quân Cần Giuộc. Áng văn làm rung động sâu sắc tám hồn những người dân yêu nước Việt Nam.
Nhà thơ Mai Am từng có thơ đề cảm:
Điếu văn tam phục trụng đê hồi
Nghị phách từ phong tận khả ai.
Nghĩa là, đọc bài văn điếu ba lần trong dạ bồi hồi khôn xiết, nghĩa khí mạnh lời văn hùng thật đáng xót
thương.
Có thể thấy hình ảnh người nông dân Cần Giuộc là hình ảnh nổi cộm lên giữa những suy tư, suy ngẫm về
cuộc chiến đấu của người nghĩa sĩ cần Giuộc. Đây cũng là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Nó đánh
dấu vào lịch sử văn học dân tộc về một tượng đài bất hủ về hình ảnh người anh hùng áo vải giết giặc cứu
nước.
Theo bố cục bài văn tế, chúng ta đi vào tìm hiểu và làm sáng tỏ những nét đẹp của người nghĩa sĩ Cần
Giuộc trong cuộc chiến đấu chống Pháp.
Ở những câu đầu, Nguyễn Đình Chiểu đã tái hiện lại lịch sử khốc liệt, hào hùng: một bên là cuộc xâm
lược của thực dân Pháp với tất cả sức mạnh áp đảo về vũ khí (súng giặc đất rền), một bên là cuộc chiến
đấu chống quân xâm lược của nhân dân ta với khí thế ngút trời (lòng dân trời tỏ). Người nghĩa sĩ Cần
Giuộc vốn chỉ là những nông dân hiền lành, quanh năm: Cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó, chưa quen

tiếng khóc của Đồ Chiểu trước sự thất thế và cái chết của người nghĩa quân Cần Giuộc. Cái chết của họ
khiến cho đất trời, cỏ cây, con người đều động lòng.
Ôi thôi thôi!
Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang Sa một khác
dặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ. Đau đớn bấy Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo
lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.
Cái bi tráng bao trùm lên cả đoạn thơ. Nhưng cái bi ở đây không phải là cái thảm mà là bi tráng. Đây là
nỗi đau đớn vì Tổ quốc, vì nhân dân. Đau mà không khiến người ta nản lòng, thối chí, khi mà giục giã
mọi người đứng dậy hiên ngang. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại. Nhiều nghĩa quân đã phải ngã xuống,
nhưng chết vinh còn hơn sống nhục: Thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh, hơn còn chịu
chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ. Chết như thế là để lại tấm gương chói lọi, có sức động viên lớn đối với
cuộc chiến đấu sẽ còn tiếp tục.
Có thể nói, dù đã ngã xuống, nhưng hình ảnh người nông dân giết giặc vẫn mãi ngời sáng. Đó chính là
những trái tim ngời sáng trong cát, đế lại tiếng thơm muôn đời.
Cất lên những tiếng khóc này, Nguyễn Đình Chiểu muốn khẳng định đây là cái tang chung của mọi
người, của dân tộc. Vì vậy có bi mà không có lụy. Cái bi thì thăm thẳm, nỗi đau đầy cảm hứng trữ tình
lên đến tột đinh, tạo nên những câu văn vật vã: mẹ già ngồi khóc trẻ, vợ yếu chạy tìm chồng. Đây không
còn là văn mà là lệ. Phải có tài, có tình và một tinh thần dân tộc, một nhận thức đúng đắn xem mũi tên
lịch sử đang đi về đâu. Điều này Nguyễn Đình Chiểu hiểu rõ và rất tâm huyết.
Như vậy, viết về hình ảnh người nông dân đánh giặc, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa họ ở ba nét chủ
yếu. Thứ nhất, hình ảnh người nông dân chân chất, hiền lành quanh năm chỉ biết sống và làm việc với cày
cuốc, ruộng đồng. Thứ hai, đó là tinh thần yêu nước căm giặc sâu sắc đã thôi thúc họ trở thành những
chiến binh dũng cảm, vô tận sẵn sàng xả thân vì nghĩa. Thứ ba, mặc dù đã ngã xuống nhưng họ vẫn là
những biểu tượng đẹp về hình ảnh những anh hùng thất thế mà vẫn hiên ngang, sống đánh giặc, thác cũng
đánh giặc...
Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được xem là một áng văn chương xuất sắc không phải chỉ của riêng


Nguyễn Đình Chiểu mà còn là của văn học Việt Nam thời Trung đại. Bằng một bút pháp trữ tình kết hợp
nhuần nhuyễn với bút pháp hiện thực, bằng ngôn ngữ bình dị mà gợi cảm, bài văn đã tái hiện chân thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status