TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2009 – 2013
ĐỀ TÀI
THU THẬP, BẢO QUẢN VÀ XỬ LÝ
VẬT CHỨNG TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Giáo viên hướng dẫn:
ThS. Mạc Giáng Châu
Bộ môn Tư pháp
Sinh viên thực hiện:
Đoàn Thanh Bình
MSSV: 5095403
Lớp: Tư Pháp 1 – K35
Cần Thơ, 5/2013
Luận văn tốt nghiệp
Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẬT CHỨNG ...................4
1.1. Một số khái niệm cơ bản.................................................................................4
1.1.1.
1.2.3.
Ý nghĩa của vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự........... 19
1.2.4.
Nguyên tắc của việc thu thâp, bảo quản và xử lý vật chứng .................. 20
CHƯƠNG 2. THU THẬP, BẢO QUẢN VÀ XỬ LÝ VẬT CHỨNG TRONG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ.......................................................................................................... 24
2.1. Thu thập vật chứng....................................................................................... 24
2.1.1.
Biện pháp thu thập vật chứng ................................................................ 24
2.1.2.
Chủ thể thu thập vật chứng .................................................................... 28
2.1.3.
Trình tự, thủ tục thu thập vật chứng ...................................................... 29
2.2. Bảo quản vật chứng ...................................................................................... 32
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3.
Biện pháp bảo quản vật chứng............................................................... 32
Chủ thể bảo quản vật chứng................................................................... 35
Trình tự, thủ tục bảo quản vật chứng..................................................... 36
2.3. Xử lý vật chứng ............................................................................................. 38
2.3.1.
Biện pháp xử lý vật chứng...................................................................... 38
2.3.2.
3.1.3.1.
Biện pháp xử lý vật chứng .............................................................. 49
3.1.3.2.
Trình tự, thủ tục xử lý vật chứng .................................................... 53
3.2. Về mặt thực tiễn ............................................................................................ 54
3.2.1.
Về việc đảm bảo nguyên tắc kịp thời, đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục khi
thu thập vật chứng................................................................................................. 54
3.2.1.1.
3.2.1.2.
Tồn tại ............................................................................................. 54
Giải pháp......................................................................................... 55
3.2.2.
Về việc đảm bảo nguyên tắc bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát,
lẫn lộn, hư hỏng vật chứng ................................................................................... 56
3.2.2.1.
Tồn tại ............................................................................................. 56
3.2.2.2.
Giải pháp......................................................................................... 58
3.2.3.
Về việc xử lý vật chứng trong vụ án hình sự .......................................... 59
3.2.3.1.
3.2.3.2.
Tồn tại ............................................................................................. 59
Giải pháp......................................................................................... 60
chứng. Vật chứng là một trong những nguồn cung cấp chứng cứ đầu tiên và quan
trọng. Thông qua vật chứng, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
có thể rút ra được các chứng cứ cần thiết cho việc chứng minh tội phạm và người
phạm tội cũng như những tình tiết khác giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của vật chứng trong thực tiễn giải quyết
vụ án hình sự mà BLTTHS 2003 đã có những quy định cụ thể để điều chỉnh về vấn
đề thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng. Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng là
ba hoạt động tố tụng quan trọng diễn ra liền kề và đan xen nhau trong quá trình
giải quyết vụ án. Thu thập vật chứng không ngoài mục đích tìm kiếm chứng cứ
phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án; bảo quản vật chứng trước hết là bảo vệ giá
trị chứng minh, bảo vệ chứng cứ mà vật chứng chứa đựng; xử lý vật chứng nhằm
mục đích tước đoạt công cụ, phương tiện phạm tội, khôi phục lại các quyền sở hữu
và quản lý hợp pháp Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội xâm hại, cũng
như làm giảm nhẹ gánh nặng trách nhiệm bảo quản vật chứng. Việc áp dụng đúng
đắn các quy định về thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng góp phần quan trọng
vào việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, khách quan, toàn diện và
đầy đủ. Bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá
nhân bị hành vi phạm tội xâm hại. Tuy nhiên, những quy định về thu thập, bảo
quản và xử lý vật chứng trong BLTTHS 2003 vẫn còn nhiều điểm chưa được quy
định, hướng dẫn rõ ràng và cụ thể, từ đó dẫn đến những khó khăn, vướng mắc khi
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
1
SVTH: Đoàn Thanh Bình
Luận văn tốt nghiệp
Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
BLTTHS 2003, phục vụ có hiệu quả cho quá trình giải quyết vụ án, góp phần vào
công cuộc đấu tranh và phòng chống tội phạm.
3.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài: “Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự” là
một đề tài phức tạp cả về mặt lý luận cũng như trên thực tiễn. Tuy nhiên, do thời
gian nghiên cứu còn hạn hẹp, kiến thức và kinh nghiệm bản thân còn non yếu nên
người viết chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu một số vấn đề về lý luận cũng như
những quy định cụ thể trong BLTTHS 2003 về thu thập, bảo quản và xử lý vật
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
2
SVTH: Đoàn Thanh Bình
Luận văn tốt nghiệp
Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
chứng. Trong phạm vi đề tài, người viết nghiên cứu xoay quanh các vấn đề liên
quan đến định nghĩa, thuộc tính, phân loại chứng cứ; định nghĩa, đặc điểm, phân
loại vật chứng; mối quan hệ giữa vật chứng, chứng cứ; vị trí, vai trò, ý nghĩa của
vật chứng; những quy định về nguyên tắc của việc thu thập, bảo quản và xử lý vật
chứng; biện pháp, chủ thể, trình tự, thủ tục thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng.
Thông qua đó, người viết chỉ ra những tồn tại về mặt pháp lý cũng như trên thực
tiễn áp dụng các quy định về thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng. Từ đó đưa ra
các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện.
3
SVTH: Đoàn Thanh Bình
Luận văn tốt nghiệp
Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẬT CHỨNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm chứng cứ
1.1.1.1. Định nghĩa chứng cứ
Bản chất của quá trình giải quyết vụ án hình sự là hoạt động chứng minh.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, tuy nhiên ở
giai đoạn nào thì các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng nhằm
mục đích chứng minh và làm rõ có hành vi phạm tội xảy ra hay không, ai là chủ
thể thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết cần thiết khác giúp cho việc giải
quyết đúng đắn vụ án hình sự. Để chứng minh và làm sáng tỏ những vấn đề trên
đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố phải xác định được những
chứng cứ cần thiết phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án.
Chứng cứ là phương tiện của việc chứng minh nhằm xác định các tình tiết
có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Nhờ vào chứng cứ mà
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng làm rõ được những vấn đề
cần phải chứng minh từ đó có những quyết định giải quyết đúng đắn vụ án. Khi
bàn về định nghĩa chứng cứ, đã có nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra trong
khoa học Luật tố tụng hình sự. Chẳng hạn như:
thông tin xác thực về sự kiện thực tế có liên quan đến vụ án hình sự, được thu thập
theo trình tự do Bộ luật tố tụng hình sự quy định mà cơ quan và người có thẩm
quyền tố tụng hình sự dùng để làm sáng tỏ những vấn đề cần phải chứng minh
trong vụ án hình sự”3.
Dù các quan điểm định nghĩa về chứng cứ nói trên khác nhau về hình thức
diễn đạt ngôn từ, nhưng khi xét về nội dung chúng đều có những điểm chung nhất
định. Đều khẳng định chứng cứ là những gì có thật tồn tại trong thực tế khách
quan, phản ánh đúng thực tế khách quan, có liên quan nhất định đến vụ án hình sự
và được thu thập theo những trình tự, thủ tục nhất định do Bộ luật tố tụng hình sự
quy định để làm căn cứ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.
Xác định được tầm quan trọng của chế định chứng cứ, cũng như đáp ứng
thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, BLTTHS 2003 trên cơ sở kế thừa Bộ
luật tố tụng hình sự năm 1988 (BLTTHS 1988) đã nêu định nghĩa một cách khái
quát về chứng cứ tại khoản 1 Điều 64, theo đó: “Chứng cứ là những gì có thật,
được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi
phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết
cho việc giải quyết đúng đắn vụ án”.
Từ định nghĩa chứng cứ được quy định tại khoản 1 Điều 64 trong BLTTHS
2003 cho thấy, chứng cứ trước hết phải là “những gì là có thật”, những gì có thật ở
đây có thể hiểu là những thông tin có thật và có liên quan về vụ án hình sự được
phản ánh bởi những đối tượng khác nhau tồn tại trong môi trường xung quanh, do
quá trình thực hiện tội phạm, người phạm tội đã tác động vào những đối tượng này.
Thông qua việc thu thập và khai thác những thông tin có thật và có liên quan đến
vụ án sẽ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng làm rõ những
vấn đề cần phải chứng minh từ đó xác định sự thật khách quan của vụ án. Bên cạnh
những gì có thật và có liên quan đến vụ án, định nghĩa chứng cứ còn quy định
chứng cứ phải được thu thập theo những trình tự, thủ tục nhất định do Bộ luật tố
tụng hình sự quy định. Việc tuân thủ những trình tự, thủ tục khi thu thập chứng cứ
nhằm bảo đảm giá trị pháp lý và tính minh bạch của chứng cứ trong quá trình giải
đã xảy ra, không bị bóp méo, giả tạo hay do suy đoán, tưởng tượng mà có. Đây là
thuộc tính cơ bản nhất của chứng cứ.5 Thuộc tính này của chứng cứ đòi hỏi các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự phải
tôn trọng sự thật, không duy ý chí, chủ quan để áp đặt. Nếu những gì là có thật
nhưng được các chủ thể giải quyết vụ án nhận thức không đúng, chủ quan, suy
diễn, áp đặt thì sẽ mất đi thuộc tính khách quan và không được công nhận là chứng
cứ.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, thuộc tính khách quan của chứng
cứ là cơ sở quan trọng đảm bảo để giải quyết đúng đắn vụ án. Nếu thuộc tính
khách quan của chứng cứ không được đảm bảo có thể sẽ dẫn đến quá trình giải
quyết vụ án không còn chính xác, khách quan, xử lý không đúng người, đúng tội,
dẫn đến kết tội oan hoặc để lọt tội phạm.
Thuộc tính liên quan: thuộc tính này đòi hỏi những gì là có thật, tồn tại
khách quan phải có mối liên hệ khách quan nhất định đến những vấn đề cần phải
chứng minh trong vụ án hình sự. Chứng cứ được cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội,
cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự,
vì vậy đòi hỏi chứng cứ phải có thuộc tính liên quan. Thuộc tính liên quan của
chứng cứ thể hiện ở chổ nó có liên quan đến những vấn đề cần phải chứng minh
4
5
Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1998, tr. 884.
Nguyễn Văn Cừ, Chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp Hà Nội, 2005, tr. 82.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
6
SVTH: Đoàn Thanh Bình
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến
vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ; kết luận giám định ; biên bản
về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác”. Đây là những nguồn hợp
pháp giúp xác định chứng cứ. Nếu những gì là có thật, liên quan đến vụ án nhưng
không được rút ra từ các nguồn chứng cứ và không được thu thập, kiểm tra, đánh
giá theo đúng những trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì sẽ
không đáp ứng thuộc tính hợp pháp và không được xem là chứng cứ trong vụ án.
Tính hợp pháp nhằm đảm bảo cho chứng cứ có đầy đủ giá trị chứng minh.
6
Điều 3. Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự. “ Mọi hoạt động tố tụng hình sự của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định
của Bộ luật này.”
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
7
SVTH: Đoàn Thanh Bình
Luận văn tốt nghiệp
Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
Như vậy, chứng cứ trong vụ án hình sự phải đáp ứng đầy đủ ba thuộc tính:
tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Tính khách quan và tính liên
quan là nội dung của chứng cứ còn tính hợp pháp là hình thức của chứng cứ. Ba
thuộc tính này của chứng cứ là một thể thống nhất, có mối quan hệ nội tại, gắn bó
chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Nếu thiếu một trong ba thuộc tính trên thì một
8
SVTH: Đoàn Thanh Bình
Luận văn tốt nghiệp
Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
chứng cứ trực tiếp sẽ xác định được ngay những vấn đề cần phải chứng minh, từ
đó giúp các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dễ dàng xác định sự
thật khách quan của vụ án, góp phần giải quyết nhanh chóng vụ án. Ngược lại, nếu
là chứng cứ gián tiếp thì các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
phải tìm kiếm, thu thập thêm những tình tiết, sự kiện khác để kết hợp với chứng cứ
gián tiếp từ đó xác định được những vấn đề cần phải chứng minh.
Chứng cứ gốc và chứng cứ sao chép, thuật lại. Cách phân loại chứng cứ
này dựa trên tiêu chí nguồn gốc xuất xứ mà chứng cứ được rút ra:
Chứng cứ gốc: là chứng cứ được rút ra từ nguồn xuất xứ đầu tiên mà không
qua khâu trung gian. Nguồn xuất xứ đầu tiên của chứng cứ là nguồn trực tiếp tiếp
nhận và phản ánh những thông tin về vụ phạm tội ngay khi hành vi phạm tội được
thực hiện. Do được rút ra từ nguồn xứ xứ đầu tiên mà không phải trải qua khâu
trung gian nào nên mức độ chính xác về thông tin của chứng cứ càng cao, giúp các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dễ dàng tiếp cận sự thật của vụ
án.
Chứng cứ sao chép, thuật lại: là chứng cứ không được được rút ra từ nguồn
xuất xứ đầu tiên mà thông qua một hay nhiều khâu trung gian. Mặc dù chứng cứ
sao chép, thuật lại được rút ra từ những nguồn trung gian nhưng vẫn phải đảm bảo
tính liên quan với nguồn xuất xứ đầu tiên của chứng cứ. Do được thu thập qua
những nguồn trung gian nên tính chính xác về những thông tin của chứng cứ có
phần hạn chế hơn so với chứng cứ gốc ban đầu.
những chứng cứ mang tính chất bất lợi và làm xấu đi tình trạng pháp lý cho người
phạm tội. Chứng cứ buộc tội được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng dùng làm cơ sở cho việc ra các quyết định khởi tố, truy tố, xét xử, xác định
tội danh, định khung hình phạt,… cho người phạm tội.
Chứng cứ gỡ tội: là chứng cứ xác định không có sự việc phạm tội hoặc các
tình tiết làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người thực hiện tội phạm. Trái lại
với chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội lại tập trung vào việc bác bỏ khả năng
phạm tội của một người, chứng minh là họ không phạm tội, hành vi của họ không
cấu thành tội phạm hoặc cấu thành tội phạm nhưng thuộc trường hợp không phải
chịu trách nhiệm hình sự. Chứng cứ gỡ tội cũng là những chứng cứ chứng minh
hành vi phạm tội thuộc những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại Điều 46 BLHS 1999. Chứng cứ gỡ tội là căn cứ đề các cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng hủy bỏ các quyết định khởi tố vụ án, đình chỉ vụ án,
đình chỉ điều tra, truy tố về tội nhẹ hơn, miễn hoặc giảm trách nhiệm hình
sự,…cho người phạm tội.
Việc phân loại chứng cứ thành chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội có ý
nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Chứng cứ buộc tội cùng
với chứng cứ gỡ tội giúp xác định sự thật của vụ án được khách quan, toàn diện và
đầy đủ. Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khi
tiến hành giải quyết vụ án phải thu thập đầy đủ cả những chứng cứ buộc tội và
chứng cứ gỡ tội. Tránh khuynh hướng chỉ thu thập chứng cứ buộc tội mà bỏ qua
hoặc xem nhẹ những chứng cứ gỡ tội sẽ dẫn đến quá trình giải quyết vụ án không
chính xác, khách quan, toàn diện và đầy đủ.
Việc phân chia chứng cứ thành những loại khác nhau chỉ mang tính tương
đối. Một chứng cứ có thể là chứng cứ trực tiếp trong nội dung này nhưng lại là
chứng cứ gián tiếp trong nội dung khác hoặc một chứng cứ vừa là chứng cứ trực
tiếp vừa là chứng cứ gốc, vừa là chứng cứ sao chép, thuật lại... Chứng cứ được
phân thành nhiều loại khác nhau nhưng chung qui lại cũng đều nhằm mục đích
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
dựa vào nó các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thể xác định
được các thông tin, tình tiết có liên quan đến vụ án, tạo cơ sở cho quá trình giải
quyết đúng đắn vụ án.
Vật chứng được thu thập theo những trình tự, thủ tục nhất định do Bộ luật tố
tụng hình sự quy định. Bản thân vật chứng có chứa đựng những thông tin, tình tiết
có liên quan đến vụ án, có thể được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng sử dụng để làm chứng cứ phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án. Chính vì
vậy, để đảm bảo cho những thông tin, tình tiết được rút ra từ vật chứng có giá trị
chứng minh, có thể được sử dụng làm chứng cứ thì đòi hỏi vật chứng phải được
thu thập bằng những biện pháp, tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định do Bộ
luật tố tụng hình sự quy định. Nếu vật chứng không được thu thập bằng những biện
pháp, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì những thông tin, tình
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
11
SVTH: Đoàn Thanh Bình
Luận văn tốt nghiệp
Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
tiết có chứa đựng trong vật chứng cho dù có liên quan đến vụ án cũng không có giá
trị chứng minh, không được sử dụng làm chứng cứ cho quá trình giải quyết vụ án.
Như vậy, vật chứng trong vụ án hình sự là những vật thể được thu thập theo
trình tự, thủ tục nhất định do Bộ luật tố tụng hình sự quy định có chứa đựng những
thông tin, tình tiết có thể được xác định làm chứng cứ cho quá trình giải quyết
đúng đắn vụ án.
1.1.2.2. Đặc điểm của vật chứng
12
SVTH: Đoàn Thanh Bình
Luận văn tốt nghiệp
Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
Vật chứng có chứa đựng những thông tin, tình tiết có thể được sử dụng
để làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Vật chứng xuất hiện
trong vụ án hình sự và có liên quan nhất định với quá trình xảy ra vụ án do bản
thân vật chứng có chứa đựng những thông tin, tình tiết mà thông qua việc khai thác
những thông tin, tình tiết đó các chủ thể giải quyết vụ án có thể tìm ra được những
chứng cứ cần thiết làm sáng tỏ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án
hình sự. Đây là đặc điểm không thể thiếu được của một vật chứng. Bản thân sự tồn
tại của mỗi một vật thể có thể mang trong nó rất nhiều đặc điểm khác nhau phản
ánh những thông tin khác nhau. Tuy nhiên, đối với một vật thể được xác định là
vật chứng thì song song với việc mang trong mình những thông tin phản ánh về
các đặc điểm vốn có như tính chất, đặc điểm, cấu tạo lý hóa,… còn đòi hỏi vật thể
đó phải chứa đựng những thông tin, tình tiết phản ánh về vụ án có thể được xác
định làm chứng cứ cho quá trình giải quyết vụ án. Nếu một vật không có chứa
đựng các thông tin, tình tiết phản ánh về vụ án có thể được sử dụng để làm chứng
cứ thì nó không phải là vật chứng mà chỉ là một vật thể bình thường.
Vật chứng mang tính pháp lý tố tụng hình sự. Đặc điểm này của vật chứng
xuất phát từ đặc điểm vật chứng chứa đựng những thông tin, tình tiết phản ánh về
vụ án có thể được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xác định
làm chứng cứ phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án hình sự. Vì vậy, để đảm bảo
cho những thông tin, tình tiết rút ra từ vật chứng có giá trị chứng minh thì yêu cầu
phạm8. Ví dụ, vật chứng là dao để đâm, súng để bắn, dây thừng để siết cổ, thuốc để
đầu độc… Phương tiện phạm tội là những vật mà người phạm tội tuy không dùng
để tác động trực tiếp vào đối tượng tác động của tội phạm, nhưng được sử dụng
vào quá trình thực hiện tội phạm, có tác dụng hỗ trợ, giúp đỡ cho quá trình thực
hiện tội phạm. Ví dụ, vật chứng là điện thoại để liên lạc, xe dùng để đi cướp, tàu
thuyền để di chuyển…
Những vật chứng thuộc loại này đều có chung đặc điểm là những vật có tác
dụng hỗ trợ nhất định vào quá trình thực hiện tội phạm của người phạm tội. Việc
phân loại vật chứng thành vật chứng là công cụ phạm tội và vật chứng là phương
tiện phạm tội chỉ có ý nghĩa tương đối, một vật chứng có thể là công cụ phạm tội
trong vụ án này nhưng lại là phương tiện phạm tội trong vụ án khác.
Vật chứng là những vật mang dấu vết của tội phạm. Vật mang dấu vết tội
phạm là vật chứa đựng những dấu vết phản ánh do người phạm tội để lại trong quá
trình thực hiện tội phạm. Những dấu vết này được gọi là dấu vết hình sự. Dấu vết
hình sự là những phản ánh của các sự vật, hiện tượng để lại trong quá trình thực
hiện tội phạm9. Những dấu vết này là hệ quả của việc người phạm tội có hành vi va
chạm, tiếp xúc với nhũng vật thể trong môi trường xung quanh và được những vật
thể này lưu lại10. Những dấu vết này có thể là dấu vết về mặt cơ học như vết tùy,
8
Khách thể của tội phạm là hệ thống các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại, trực hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến
lợi ích và sự tồn tại của giai cấp thống trị được nhà nước bảo vệ bằng các quy phạm pháp luật hình sự. Khách
thể của tội phạm bao gồm ba loại: 1. Khách thể chung của tội phạm là tổng hợp tất cả các quan hệ xã hội bị tội
phạm xâm hại và được Luật hình sự bảo vệ; 2. Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính
chất được một nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị một nhóm tội phạm xâm hại; 3. Khách thể
trực tiếp của tội phạm là một hoặc một số quan hệ xã hội cụ thể bị hành vi phạm tội cụ thể xâm hại (xem Phạm
Văn Beo, Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb Chính trị quốc gia, 2009, tr.100 -102. )
9
Trịnh Tiến Việt, Về chứng cứ và nguồn chứng cứ quy định tại Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, Tạp chí
nghề luật số 2, 2006.
dễ bị tác động bởi các yếu tố tự nhiên trong môi trường xung quanh dẫn đến làm
biến đổi, sai lệch, không còn nguyên vẹn như khi hình thành. Chính vì vậy, những
vật chứng mang dấu vết tội cần được thu thập, bảo quản kịp thời để giảm thiểu
những tác động từ môi trường tự nhiên làm ảnh hưởng tới giá trị chứng minh của
vật chứng.
Vật chứng là những vật được xem là đối tượng của tội phạm. Vật là đối
tượng của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác
động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được
luật hình sự bảo vệ11. Đây là những vật thể bị hành vi phạm tội tác động làm biến
đổi tình trạng bình thường về vị trí, hình dáng, kích thước, tính chất,… qua đó gây
thiệt hại cho quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ. Sự làm biến đổi tình trạng
bình thường có thể do các hành vi khác nhau của tội phạm gây ra như hành vi
chiếm đoạt, hành vi hủy hoại, hành vi làm hư hỏng, hành vi sử dụng trái phép… Ví
dụ, vật chứng là xe máy bị trộm, túi xách bị cướp, tài sản bị hư hỏng do hành vi cố
ý hủy hoại tài sản…
Vật chứng là tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và
người phạm tội. Trong một số vụ án hình sự nhất định, quá trình phạm tội người
phạm tội không chỉ sử dụng những vật thể khác nhau mà còn sử dụng đến tiền bạc
để phục vụ cho quá trình thực hiện tội phạm. Khi đó tiền bạc có giá trị chứng minh
tội phạm và người phạm tội thì cũng được xem là vật chứng trong vụ án hình sự.
Ví dụ, vật chứng là tiền bạc thu giữ trong sòng bạc, tiền bạc dùng để đưa và nhận
hối lộ, tiền bạc dùng để buôn lậu,…
tượng gây vết ( xem Nguyễn Văn Cừ, Chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp Hà Nội,
2005, tr. 168 -169.)
11
Trần Quang Tiệp, Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 2009, tr.
52.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
và chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ giữa vật chứng và chứng cứ được thể hiện chủ
yếu trên những phương diện sau:
Vật chứng là một nguồn của chứng cứ còn chứng cứ là cái có thể được
rút ra từ vật chứng. Theo Đại từ điển tiếng Việt thì nguồn là “nơi bắt đầu, nơi
phát sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp”12. Như vậy, có thể hiểu nguồn chứng cứ là
nơi chứa đựng chứng cứ, là nơi chứng cứ được rút ra để làm sáng tỏ những vấn đề
cần phải chứng minh trong vụ án. Chứng cứ trong vụ án hình sự thực chất là những
thông tin có liên quan đến vụ án được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố
tụng hình sự quy định mà thông qua nó các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng có thể nhận biết được sự thật khách quan của vụ án. Những thông tin
được xác định là chứng cứ phải gắn liền với những vật mang thông tin tức là
nguồn chứng cứ thì các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mới có
thể nhận biết được. Vật chứng là một nguồn của chứng cứ, bởi bản thân vật chứng
12
Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, 1998, tr. 880.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
16
SVTH: Đoàn Thanh Bình
Luận văn tốt nghiệp
Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
có chứa đựng những thông tin xác thực liên quan đến vụ nếu được thu thập theo
đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì những thông tin này được xem là
khác. Theo quy định tại khoản 2 Điều 64 BLTTHS 2003 thì chứng cứ được xác
định bằng nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: vật chứng; lời khai của người làm
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
17
SVTH: Đoàn Thanh Bình
Luận văn tốt nghiệp
Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo; kết luận giám
định; biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác. Như vậy,
chứng cứ trong vụ án hình sự có thể được xác định bằng nhiều nguồn khác nhau
trong đó có vật chứng. Vật chứng là một nguồn cung cấp chứng cứ đầu tiên và
quan trọng. Do đặc tính tồn tại khách quan, không bị chi phối bởi ý thức chủ quan
của con người nên vật chứng phản ánh một cách nguyên si, trung thực về những
tình tiết, sự kiện đã xảy ra trong vụ án hình sự, do đó chứng cứ được rút ra từ
nguồn vật chứng có giá trị chứng minh rất cao và trong nhiều trường hợp, không
có gì có thể thay thế được chúng. Cho nên, có người còn gọi vật chứng là “nhân
chứng câm” trong vụ án hình sự13. Chứng cứ được rút ra từ nguồn vật chứng kết
hợp với những chứng cứ thu được từ lời khai của những người tham gia tố tụng,
bản kết luận giám định, biên bản về các hoạt động điều tra và các tài liệu, đồ vật
khác sẽ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xác định được
những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án, góp phần giải quyết đúng đắn vụ
án.
Vật chứng là một trong những căn cứ quan trọng góp phần giúp Cơ quan
Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
điều tra đã bắt hung thủ phải cúi đầu nhận tội15. Hay trong vụ Hoàng Minh Sáng
“giết người, cướp tài sản” xảy ra tại khu vực phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà,
Đà Nẵng vào đêm 19/3/2010. Quá trình điều tra cũng tưởng chừng như bế tắc
nhưng nhờ thu được vật chứng là đôi dép tại hiện trường đã giúp Cơ quan điều tra
nhanh chóng bắt được thủ phạm gây án16. Như vậy, vật chứng là một trong những
cơ sở giúp Cơ quan điều tra vạch ra kế hoạch, phương hướng điều tra vụ án được
kịp thời và đúng đắn để truy tìm thủ phạm gây án.
Vật chứng là cơ sở để Cơ quan điều tra kiểm tra, đánh giá tính xác thực,
đúng đắn trong lời khai bị can. Với mục đích nhằm che giấu hành vi phạm tội do
mình gây ra, bị can thường có thái độ quanh co, chối tội, khai không đúng sự thật
những tình tiết khách quan của vụ án. Để kiểm tra, đánh giá lời khai của bị can,
qua đó phát hiện, vạch trần những lời khai không khách quan, không đúng sự thật,
Cơ quan điều tra có thể sử dụng nhiều biện pháp, tài liệu chứng cứ khác nhau trong
đó có vật chứng. Vật chứng là một trong những cơ sở giúp Cơ quan điều tra kiểm
tra, đánh giá tính xác thực, khách quan trong lời khai của bị can. Lời khai của bị
can có thể không khách quan với sự thật vụ án nhưng bản thân vật chứng là những
vật vô tri, không bị chi phối bởi các yếu tố tình cảm, tâm lý nên vật chứng phản
ánh một cách khách quan những tình tiết xảy ra trong vụ án, qua đó có thể dùng để
kiểm tra, đánh giá tính xác thực, khách quan trong lời khai của bị can.
1.2.3. Ý nghĩa của vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Vật chứng giúp xác định những chứng cứ cần thiết làm cơ sở cho việc
giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Để giải quyết vụ án được nhanh chóng, đúng
đắn điều quan trọng đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải
xác định được đầy đủ những chứng cứ cần thiết để từ đó làm cơ sở cho việc xác
định những vấn đề cần phải chứng minh, đi đến khám phá toàn bộ sự thật khách
quan của vụ án. Với vai trò là một loại nguồn của chứng cứ, chứa đựng trong mình
những thông tin, tình tiết có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội, vật
buôn bán hàng giả, hàng cấm,... nếu không thu thập được vật chứng thì sẽ không
có đủ chứng cứ để chứng minh tội phạm, người phạm tội.
Vật chứng còn có ý nghĩa là tình tiết định khung hình phạt trong một số
loại tội phạm. Đối với một số loại tội phạm, khi căn cứ vào tính chất, đặc điểm của
vật chứng mà người phạm tội sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội hoặc căn cứ
vào giá trị vật chứng thu được sẽ giúp Hội đồng xét xử quyết định khung hình phạt
phù hợp cho người phạm tội, góp phần xử lý đúng người, đúng hành vi phạm tội.
Chẳng hạn, đối với tội phạm bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều
134 BLHS 1999. Nếu vật chứng thu được là vũ khí, phương tiện nguy hiểm được
người phạm tội sử dụng thì sẽ thuộc một trong những tình tiết định khung tại
khoản 2, nếu vật chứng thu được là tài sản bị người phạm tội chiếm đoạt có giá trị
từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng thì sẽ thuộc một trong những
tình tiết định khung tại khoản 3. Như vậy, vật chứng còn có ý nghĩa là tình tiết góp
phần định khung hình phạt đối với một số loại tội phạm.
1.2.4. Nguyên tắc của việc thu thâp, bảo quản và xử lý vật chứng
Vật chứng phải được thu thập kịp thời, đầy đủ (khoản 1 Điều 75 BLTTHS
2003). Thu thập kịp thời là việc khẩn trương, nhanh chóng tiến hành các biện pháp
thu thập vật chứng do BLTTHS quy định ngay khi nhận được tin báo, tố giác tội
phạm xảy ra. Thu thập kịp thời nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động từ
các yếu tố bên ngoài làm ảnh hưởng đến tới giá trị chứng minh của vật chứng trong
quá trình giải quyết vụ án. Xuất phát từ đặc điểm của vật chứng là những vật chất
cụ thể tồn tại trong môi trường xung quanh nên vật chứng rất dễ bị tác động bởi
các yếu tố khác nhau trong môi trường dẫn đến làm biến đổi, sai lệch những đặc
điểm, dấu vết, tính chất có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội. Chính
17
Phụ nữ today, Giết, hiếp kinh hoàng ở miền tây, Lạc Vinh, http://phunutoday.vn/xa-hoi/ky-an/201302/Vu-angiet-hiep-kinh-hoang-o-mien-tay-2210930/, [truy cập ngày 29/3/2013].
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
bỏ sót vật chứng không có nghĩa là thu thập một cách tràn lan ngay cả những vật
không có căn cứ nghi là vật chứng. Thu thập đầy đủ, không bỏ sót vật chứng
nhưng phải đảm bảo có trọng tâm khi thu thập. Nếu để sót vật chứng hoặc thu thập
vật chứng không đầy đủ có thể sẽ dẫn đến tình trạng không đủ chứng cứ, gây khó
khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Thu thập kịp thời và đầy đủ vật
chứng là hai yêu cầu cần thiết gắn chặt với nhau trong quá trình thu thập vật
chứng. Nếu vật chứng được thu thập kịp thời mà không đầy đủ thì có thể dẫn đến
không xác định được đầy đủ những chứng cứ cần thiết cho quá trình giải quyết vụ
án. Ngược lại nếu vật chứng được thu thập đầy đủ nhưng không kịp thời thì có thể
vật chứng sẽ mất đi những giá trị chứng minh cần thiết cho quá trình giải quyết vụ
án. Vì vậy, đảm bảo nguyên tắc thu thập kịp thời, đầy đủ vật chứng là một nhân tố
góp phần đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự được thuận lợi, chính xác,
khách quan, toàn diện và đầy đủ.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
21
SVTH: Đoàn Thanh Bình
Luận văn tốt nghiệp
Thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
Vật chứng phải được thu thập theo những trình tự, thủ tục nhất định do
Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Tuân thủ nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho
những thông tin, tình tiết rút ra từ vật chứng có giá trị chứng minh. Vật chứng chứa
đựng những thông tin, tình tiết có thể được xác định làm chứng cứ phục vụ cho
quá trình giải quyết vụ án hình sự. Do vậy, để những thông tin, tình tiết rút ra từ
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
22
SVTH: Đoàn Thanh Bình