BÀI TIỂU LUẬN MÔN VĂN HÓA KIẾN TRÚC
VIỆT NAM.
ĐỀ TÀI: Tính dân tộc và tính hiện đại trong kiến trúc
Việt Nam.
*Dẫn nhập:
Kiến trúc Việt Nam ra đời, gắn liền với quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của lịch
sử dân tộc. Kể từ trước chế độ phong kiến khi mà trình độ khoa học kĩ thuật chưa phát
triển mạnh mẽ, mối giao lưu văn hóa giữa các dân tộc còn hạn chế thì kiến trúc của nước ta
đã có những đặc trưng riêng dễ dàng phân biệt. Hiện nay, với những thành tựu của khoa
học và điều kiện thuận lợi để giao lưu văn hóa giữa các nước trên thế giới, kiến trúc hiện
đại của nước ta đã có nhiều công trình thành công đáng kể trong việc sáng tạo nghệ thuật,
mang tính “Quốc tế” cao.
Tuy nhiên, để phát triển nghệ thuật kiến trúc xã hội chủ nghĩa có tính hiện đại và tính dân
tộc là một vấn đề không hề dễ giải quyết. Trong khi đó, việc nghiên cứu về lí luận của kiến
trúc truyền thống và hiện đại của Việt Nam bấy lâu nay vẫn chưa được dành sự quan tâm,
đầu tư nghiên cứu cặn kẽ, sâu rộng, mà chủ yếu chỉ được nghiên cứu dưới góc nhìn khảo
cổ học. Bởi vậy, việc nghiên cứu yếu tố dân tộc và hiện đại trong kiến trúc Việt Nam trong
bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay là hoàn toàn cần thiết.
1: Tính dân tộc trong kiến trúc Việt:
Tính dân tộc là một thuộc tính của văn hóa, bởi nền văn hóa nào cũng thoát thai từ dân tộc.
Trong quá trình lịch sử, sự hình thành dân tộc và văn hóa được quy định bởi phương thức sản
xuất, các điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử. Do đó, có thể nói, tính dân tộc trong kiến trúc là
hệ quả của mối quan hệ ứng xử giữa con người và môi trường.
Kiến trúc truyền thống Việt Nam có lịch sử hàng ngàn năm và mang đậm tính dân tộc, với
một đặc điểm chung là các công trình kiến trúc đều khuyết danh, nghệ nhân dân gian không có
tên trong các công trình sáng tạo của mình, cho đến khi kiến trúc Việt Nam có sự giao lưu, tiếp
biến với văn hóa phương Tây.
cách khác, tính dân tộc của kiến trúc, luôn gắn liền với nhu cầu thích dụng, như: thiên
nhiên, khí hậu, địa lý, phương thức sản xuất, điều kiện kinh tế xã hội,phong tục tập quán,
tâm lý dân tộc… Và nhu cầu thích dụng cũng thay đổi theo hoàn cảnh xã hội.
Bởi vậy, tính dân tộc không thể gói gọn trong một phạm trù nhất định, bất dịch, mà nó
phải thể hiện ở cả hai mặt: kế thừa và phát huy. Bản chất của tính dân tộc, không phải những
yêu cầu, tiêu chí, đặc điểm cố hữu, mà chính là phải tạo ra những cái mới hơn, linh hoạt hơn và
thích ứng hơn.
1.1: Một số quan niệm về tính dân tộc:
Bởi tính dân tộc trong kiến trúc Việt Nam không phải là một yếu tố tiên quyết, bất di bất dịch,
mà luôn thay đổi để đáp ứng nhu cầu thích dụng, vốn luôn bị chi phối bởi các điều kiện tự nhiên,
xã hội, giáo dục, tâm linh…, trong quá trình nghiên cứu đã hình thành một số quan niệm khác
nhau về tính dân tộc.
a. Quan niệm tuyệt đối hóa tính đặc thù dân tộc:
Quan niệm này cho rằng những gì thật đặc biệt, riêng biệt chỉ có ở một dân
nào đó mới là tính dân tộc.
tộc
Việc tuyệt đối hóa các đặc thù dân tộc sẽ dẫn đến nhược điểm:
- Bảo thủ, làm nghèo nàn nghệ thuật dân tộc (không chịu tiếp thu cái hay, cái đẹp của
dân tộc khác).
- Nhấn mạnh mặt hình thức biểu hiện (không thấy được sự hòa quyện, xuyên thấm lẫn
nhau của nội dung của hình thức trong nghệ thuật, xem nhẹ mặt nội dung của tính dân tộc).
- Không phân biệt được tốt xấu, đúng sai (vì cứ hễ là khác biệt).
b. Quan niệm tính dân tộc là tính nông dân:
Quan niệm này cho rằng nghệ thuật do nông dân làm ra phục vụ cho nông dân thì
nghệ thuật đó có tính dân tộc.
1.2: Khái niệm chung về tính dân tộc trong kiến trúc Việt:
Theo quan niệm của KTS.Nguyễn Cao Luyện trong bài “ Cốt cách dân tộc trong kiến trúc đất
nước và con người”, thì ông cho rằng, những giá trị chân chính của một cộng đồng dân tộc,
những gì tiêu biểu nhất trong cốt cách dân tộc, thông qua mối quan hệ tâm tình, ràng buộc
với thiên nhiên đất nước, đã trở thành tính dân tộc trong từng nếp nhà của người Việt.
Còn Tạ Mỹ Duật trong bài “ Thử tìm một quan niệm về tính hiện đại và tính dân tộc trong kiến
trúc” thì cho rằng, tính dân tộc là việc phải tạo ra những cái mới.
Theo khái niệm của PGS-KTS . Đặng Thái Hoàng, “ Tính dân tộc trong kiến trúc và những
chặng đường khó khăn của kiến trúc Việt nam từ sau Cách mạng Tháng tám đến nay”, thì:
“Tính dân tộc trong kiến trúc chính là sự tìm đến nếp sống, tập quán và tâm lí con người
Việt Nam, và là sự biểu hiện của việc thích nghi với môi trường khí hậu nhiệt đới Việt
Nam. Những thành tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của kiến trúc gắn bó với hai vế
của câu nói trên là biểu hiện cô đọng những tinh túy dân tộc. Một nền kiến trúc tiếp cận
được với cách sống, cách ứng xử, cách hoạt động, nếp nghĩ, tâm lí chung của con người
Việt Nam và tiếp cận được với cách giải quyết nhiệm vụ của kiến trúc Việt Nam trước các
yếu tố địa lý, khí hậu nhiệt đới là một nền kiến trúc mang tính dân tộc”.
Qua các nhận định trên, ta có thể thử đưa ra một khái niệm chung cho tính dân tộc trong
kiến trúc Việt Nam như sau:
Tính dân tộc trong kiến trúc là những biểu hiện nhằm tối ưu hóa, thích nghi với môi
trường khí hậu, địa lý xung quanh, phản ảnh các giá trị văn hóa, quan điểm thẩm mĩ
chung, tâm lý chung của dân tộc mà chủ thể sáng tạo, cụ thể là con người đã ứng xử với tự
nhiên môi trường, xã hội, cộng đồng trong quá trình phát triển lịch sử.
1.3:Biểu hiện:
Tìm hiểu và nghiên cứu quá trình phát triển nền kiến trúc dân tộc Việt Nam, chúng ta hầu như
có thể thống nhất một số biểu hiện đặc trưng cơ bản của tính dân tộc trong kiến trúc Việt.
a. Một nền kiến trúc có tính dân tộc, tính địa phương phong phú, có bản sắc riêng biệt với phong
cách giản dị, thanh thoát, khiêm tốn, khoát đạt, tạo nên những không gian không vượt quá những
nhu cầu thực sự của hoạt động của tầm vóc con người, phù hợp phong tục, tập quán dân tộc.
cấu tạo các bộ phận công trình trong kiến trúc truyền thống mà những nguyên tắc này còn
được bảo lưu trong những kiến trúc hiện đại.
c. Một nền kiến trúc được tạo dựng từ sản vật tự nhiên của địa phương hệ thống cấu trúc vững
vàng có tính khoa học đương đại, có bản sắc riêng và tính địa phương phong phú. Hệ thống cấu
trúc vững vàng, có tính khoa học, kinh tế cao.
Vật liệu xây dựng là một yếu tố quan trọng tạo nên tính địa phương của kiến trúc và cũng góp
phần quan trọng vào sự hình thành tính dân tộc của kién trúc. Với vật liệu là tre , gỗ, các loại
đát nung, đá vôi, đá ong….rất dễ làm cho kiến trúc có màu sắc dân tộc. các loại vật liệu này giờ
đây không còn phổ biến mà đa phần nhường chỗ cho bê tong, kim loại, chất dẻo, kính….tuy
nhiên trên một số bộ phận hoặc chi tiết trang trí có sự kết hợp khéo léo những vật liệu
truyền thống như men , gốm, đá thiên nhiên… cũng đem lại những hiệu quả đáng kể.
Nhiều công trình nghệ thuật nổi tiếng trong nước và hấp dẫn khách du lịch nước ngoài,
như : đình Đình Bảng ( Hà Bắc), chùa Keo (Thái Bình), Văn Miếu (Hà Nội),… sắc thái dân
tộc được sáng tạo trên những bộ khung sườn kết cấu từ gỗ quí.
Nguồn khoáng sản ngầm đã bổ sung thêm tính phong phú trong chất liệu kiến trúc. Từ thế
kỉ X, trong xây dựng cung điện, vua Đinh-Lê ở Hoa Lư, Ninh Bình đã cho dát vàng, dát bạc
vào các cột, lợp ngói,..Tháp Báo Thiên thời Lí (1057) cao hai mươi trượng, 12 tầng cũng sử
dụng khối lượng đồng rất lớn vào việc xây tháp, nội thất thờ tự bên trong, sau cùng, 1414,
tháp bị giặc Minh phá hủy, lấy đồng.
Kết cấu bền vững của kiến trúc cổ truyền Việt nam dựa trên cơ sở tính toán và sử dụng
hợp lí tính năng vật liệu, bố cục, hình dạng và kích thước kiến trúc có cơ sở nghệ thuật và
tính khoa học rất rõ ràng để lại những công trình có giá trị cao, tiêu biểu từng thời đại lịch
sử.
d.Màu sắc trang trí đẹp mắt, bố cục tương xứng, hài hòa, tỉ lệ tương xứng giàu tính dân gian
Việt Nam. Đặc biệt chú ý đến tính biểu tượng, tính ẩn dụ, hàm súc của giải pháp tổ hợp kiến
trúc, tức là hình tượng nghệ thuật, làm cho công trinhg từ nội dung đến hình thức chứa đựng
chất triết lí, thâm trầm, tế nhị, kín đáo nhưng sâu lắng và thâm thúy, trí tuệ.
Tạo hình nghệ thuật trong kiến trúc cổ Việt nam thường là bố cục cân xứng- hài hòa:
liệu xây dựng. Vật liệu xây dựng rất đa dạng về thể loại, hiện đại, chất lượng cao. Nét điển
hình của kiến trúc hiện đại là có các mảng tường kính khổng lồ phản chiếu hình ảnh môi
trường xung quanh vào công trình. Vật liệu đẹp, tốt, hiện đại. Tay nghề thi công cao, chất
lượng tốt. Hình khối, chi tiết, sắc, gọn, đảm bảo tính chính xác cao độ với yêu cầu của thiết
kế.
2.1: Khái niệm chung:
Tính hiện đại trong kiến trúc: Là sự tương đồng về sự đơn giản trong bố cục hình
khối không gian, tổ chức mặt bằng tự do, có thể phi đối xứng, loại bỏ việc sử dụng các họa
tiết trang trí của trường phái cổ điển cũng như việc sử dụng các vật liệu, chất liệu mới, hiện
đại và tân tiến hơn. Mục đích không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng, mà còn phải đảm
bảo công trình không sớm bị lạc hậu. Tính hiện đại trong kiến trúc chủ yếu nằm ở cái đẹp
trong việc tạo khối hình, thông qua việc sử dụng sự tương phản hình, khối; đặc rỗng; sử
dụng các mảng tường kính (kính phản quang, kính màu,..vv).
2.2:Biểu hiện:
a.Xuất phát từ công năng sử dụng: Bố cục trong kiến trúc hiện đại rất tự do, thoải mái, song
vẫn tạo ra hiệu quả cân bằng ổn định, chứ không phải nhất thiết đối xứng qua tâm hay qua
trục, như trong kiến trúc cổ điển truyền thống.
Cụ thể, kiến trúc hiện đại chú trọng phát triển theo hình mặt đứng, trái ngược với kiến trúc
cổ. Trong khi kiến trúc cổ thì ở phía dưới ( tầng dưới) thường thô nặng, càng lên cao càng nhẹ
dần., ở dưới khối to lớn, lên trên khối thu nhỏ dần, như vậy sẽ tạo ra sự cân bằng ổn định có tính
tự nhiên. Còn kiến trúc hiện đại thì nhiều khi có giải pháp ngược lại, như ở dưới có thể thoáng,
nhẹ, ở trên thì có thể nặng. Khối dưới có thể nhỏ thụt vào, khối trên lớn nhô ra khỏi khối
dưới. Cảm giác cân bằng được bù lại bằng chất liệu, màu sắc của vật liệu tạo hình khối.
b. Tính hiện đại của kiến trúc thể hiện ở thủ pháp tương phản, tạo sự đột khởi, hấp dẫn, tương
phản hình khối to-nhỏ, bề mặt phẳng-cong-lồi lõm, đường nét dài-ngắn-thẳng-gãy, chất
liệu xù xì- nhẵn bóng, màu sắc nóng-lạnh-nhẹ-sáng-tối.vv. Nhưng khác với kiến trúc cổ
truyền, là chỉ chú ý vào việc trang trí, hàm nghĩa, thì kiến trúc hiện đại xây dựng các bố cục
tương phản, nhằm tạo hiệu quả cảm giác choáng ngợp về không gian.
đại của kiến trúc đều là kế thừa, tiến đến những thành tựu chung của khoa học, kĩ thuật
nhân loại.
Đây cũng chính là mối quan hệ giữa tính dân tộc và hiện đại trong kiến trúc Việt Nam cần phải
nhận thức rõ. Vì vậy, tính dân tộc và hiện đại phải thể hiện ở cả hai mặt nội dung và hình
thức của công trình, phải đảm bảo sao cho nội dung kiến trúc đáp ứng yêu cầu công năng,
sử dụng tốt nhất, thích dụng nhất cho nhu cầu sử dụng của con người, phù hợp phong tục,
tập quán, tâm lí, sinh hoạt… Còn hình thức thì được hình thành một cách sáng tạo, phát
huy yếu tố tính dân tộc, nhưng phải phù hợp với nội dung thiết kế. Tính dân tộc và hiện đại
đều pahir được đầu tư, đề cập suy nghĩ sáng tạo ở cả tổ chức không gian mặt bằng lẫn hình khối
mặt đứng công trình, tức là từ nội dung đến hình thức vỏ ngoài.
Tuy nhiên, tính dân tộc và hiện đại, tùy theo mỗi thể loại kiến trúc: dân dụng, nhà ở, quốc
phòng, công cộng hay tưởng niệm, thờ tự…mà phải có mức độ tham gia khác nhau, sao cho
phù hợp, đúng đắn, hiệu quả, giá trị thẩm mĩ tốt, đạt ứng dụng cao.
3.2. Tiếp cận tính dân tộc và tính hiện đại trong một số công trình kiến trúc Việt Nam tiêu
biểu:
3.2.1: Dinh Độc Lập- Tp. Hồ Chí Minh (1962-1966)
Dinh Ðộc Lập là một công trình kiến trúc độc đáo của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Năm
2009, Dinh Độc Lập được xếp hạng là một trong 10 di tích quốc gia đặc biệt. Dinh được
khởi công xây dựng ngày 01/7/1962 và khánh thành vào ngày 31/10/1966. Khi thiết kế Dinh
Ðộc Lập, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ muốn tìm một ý nghĩa văn hóa cho công trình, nên mọi sự
xếp đặt từ bên trong nội thất cho đến tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho triết lý cổ
truyền, nghi lễ Phương đông và cá tính của dân tộc. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã kết hợp hài
hoà giữa nghệ thuật kiến trúc hiện đại với kiến trúc truyền thống Phương Ðông. Phản ảnh
tính dân tộc,có bản sắc riêng biệt với phong cách giản dị, thanh thoát, khiêm tốn, khoát
đạt,phù hợp phong tục, tập quán dân tộc.
Phần chính mặt đứng của công trình được bao bọc bởi hệ lam – “rèm hoa đá”. KTS Ngô
Viết Thụ thiết kế bức rèm hoa đá cho mặt tiền dinh Độc Lập, kết hợp tư duy thẩm mỹ truyền
thống, dễ dàng khiến người ta liên tưởng đến các hình tượng đa nghĩa khác nhau như con
Sảnh được giới hạn một cách ước lệ bởi hai mảng tường hai bên của phòng đại yến và phòng họp
nội các, phía trước là cầu thang lớn bằng gỗ, nổi bật và trang trọng. Đại sảnh có khối tích không
gian cao, rộng và thoáng đạt, trang trí đơn giản, cô đọng. Đứng trong sảnh ta mới nhận ra rằng
chất liệu trang trí chính là ánh sáng và các “bức tranh” cắt cảnh từ phong cảnh thiên nhiên. Sân
trước của Dinh là một thảm cỏ hình oval có đường kính 102m. Màu xanh của thảm cỏ tạo
ra một cảm giác êm dịu, sảng khoái cho khách ngay khi bước qua cổng.
Tổng quát quang cảnh quanh dinh Độc Lập: Hệ thống cấu trúc vững vàng có tính khoa học đương đại, có bản sắc
riêng và tính địa phương phong phú. Hệ thống cấu trúc vững vàng, có tính khoa học, kinh tế cao.
Lấy ý tưởng từ kiểu nhà truyền thống ba gian hai chái của người dân Việt. Mặt bằng dinh
gồm hai khối gắn kết vào nhau theo dạng chữ T. Khối trước mặt dinh được bố trí theo kiểu
nhà cổ truyền ba gian hai chái. Ba “gian giữa” gồm 15 bước cột x 4m là khu vực chủ yếu dành
cho lễ nghi và các hoạt động của nội các, gia đình tổng thống. Khu vực này có khối tích cao,
rộng, hoành tráng, chiều cao của khối là 26m được chia làm ba tầng chính. Hai “chái” hai bên
(mỗi bên gồm 3 bước cột x 4m) cùng chiều cao với khối chính, nhưng được chia thành sáu tầng
(không kể hầm) dành cho nhân viên.
Ði vào bên trong Dinh, tất cả các đuờng nét kiến trúc đều dùng đường ngay sổ thẳng, các
hành lang, đại sảnh, các phòng đều lấy câu chính đại quang minh làm gốc.
Dinh không chỉ có màu sắc trang trí đẹp mắt, bố cục tương xứng, hài hòa, tỉ lệ tương xứng giàu
tính dân gian Việt Nam. Đặc biệt chú ý đến tính biểu tượng, tính ẩn dụ, hàm súc của giải
pháp tổ hợp kiến trúc, tức là hình tượng nghệ thuật, làm cho công trinhg từ nội dung đến
hình thức chứa đựng chất triết lí, thâm trầm, tế nhị, kín đáo nhưng sâu lắng và thâm thúy,
trí tuệ.
Dinh không chỉ đẹp mắt, bố cục,tỉ lệ hài hòa,mà còn chú ý đến tính biểu tượng, tính ẩn dụ, giàu
tính dân gian Việt Nam.
Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ CÁT ( 吉 ) có nghĩa là tốt lành, may mắn;
nhà.
Các phòng của Dinh được trang trí nhiều tác phẩm non sông cẩm tú, tranh sơn mài, tranh sơn
Xuất phát từ công năng sử dụng, bố cục trong dinh nói riêng, cũng như trong kiến trúc
hiện đại nói chung, đều mang nét đặc trưng là rất tự do, thoải mái, song vẫn tạo ra hiệu
quả cân bằng ổn định. Đáp ứng tối đa nhu cầu sinh hoạt, sử dụng của con người.
Trên nền cũ của dinh Norodom, KTS Ngô Viết Thụ cùng cộng sự đã đưa ra một công trình kiến
trúc hiện đại kết hợp bố cục truyền thống. Công trình toạ lạc trên diện tích 12ha, nằm giữa bốn
con đường và đồng thời là điểm kết của đường Lê Duẩn. Vị thế này là thuận lợi hiếm có về
khung cảnh và tầm nhìn.
Dinh được xây dựng trên diện tích 4.500 m², gồm 3 tầng chính, 1 sân thượng, 2 gác lửng, tầng
nền, 2 tầng hầm và một sân thượng cho máy bay trực thăng đáp xuống. Hơn 100 căn phòng của
Dinh được trang trí theo phong cách khác nhau tùy theo mục đích sử dụng: các phòng khánh tiết,
phòng họp, phòng làm việc của Tổng Thống và Phó Tổng Thống, phòng trình ủy nhiệm thư,
phòng đại yến..., chưa kể các phần khác như hồ sen bán nguyệt hai bên thềm đi vào chánh điện,
bao lơn, hành lang...
Các hệ thống phụ trợ bên trong Dinh hiện đại với hệ thống điều hòa không khí, phòng
chống cháy, thông tin liên lạc, nhà kho; tầng hầm chịu được oanh kích của bom lớn và
pháo. Mặt tiền của Dinh được trang trí cách điệu bởi các đốt mành trúc phỏng theo phong
cách các bức mành của những ngôi nhà Việt và họa tiết các ngôi chùa cổ tại Việt Nam. Các
phòng của Dinh được trang trí nhiều tác phẩm non sông cẩm tú, tranh sơn mài, tranh sơn
dầu.
Xét về vật liệu xây dựng và phương pháp xây dựng: Tính hiện đại của công trình còn biểu
hiện ở vật liệu xây dựng. Vật liệu xây dựng rất đa dạng về thể loại, chất lượng. Vật liệu
đẹp, tốt, hiện đại. Tay nghề thi công cao, chất lượng tốt. Hình khối, chi tiết, sắc, gọn, đảm
bảo tính chính xác cao độ với yêu cầu của thiết kế.
3.2.2: Tòa nhà Diamond Plaza ( tp. Hồ Chí Minh):
Bên trên kiến trúc cổ là kiến trúc hiện đại với những ô cửa kính hình vuông mạnh mẽ và
cân đối. Cả hai lối kiến trúc này kết hợp một cách thật duyên dáng trong tổng thể thống
nhất là tòa nhà Diamond Plaza. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những đường nét cổ xưa:
tháp tròn, cổng hình vòng cung, những cây cột lớn với những đường nét mạnh mẽ hiện đại
đã làm cho tòa nhà này hài hòa một cách sinh động với cảnh quang xung quanh.
Với vị trí nhạy cảm sau lưng nhà thờ Đức Bà, tòa nhà có khối đế 4 tầng tiếp xúc 2 mặt đường,
được nhà đầu tư và thiết kế mô phỏng kiểu kiến trúc baroque ở Sài Gòn xưa.
Với 4 tầng chiều cao khối đế, tòa nhà hiện đại nhưng không quá lấn áp so với các công trình lân
cận như nhà thờ Đức Bà, Bưu điện thành phố nhưng cũng vừa đủ để người đi gần cảm nhận
được dáng dấp của những công trình mang đường nét của kiến trúc cổ phương Tây xung quanh.
Ngoài ra, Diamond Plaza còn có thiết kế mang tính biểu cảm cao, theo đuổi ngôn ngữ kiến
trúc mang tính chất hình học - trữ tình, kết hợp giữa các hình khối vuông, chữ nhật và khối
cong hình số 8 làm cho công trình mềm mại hơn, dễ dàng bắt nhịp với không gian rộng lớn
xung quanh, chứ không còn là những khối kỹ hà sắc cạnh như kiến trúc hiện đại. Cùng với
việc xử lý không gian và ánh sáng một cách hoàn hảo, công trình không còn tính khô khan, lạnh
lùng từ sự tổ hợp ngẫu nhiên giữa những hình khối mà mang vẻ trong sáng, tao nhã, thể hiện sự
đồng nhất của tổ hợp không gian.
Vẻ ngoài công trình cho thấy sự tỉ mỉ và thận trọng cao của nhà thiết kế, như phần đế có đá ốp
được nhập từ Trung Đông, mang lại hình ảnh thực của kiến trúc Baroque. Phần này không
sao chép quá khứ một cách máy móc mà chỉ gợi lại những đường nét, tái hiện lại không
gian bằng cách trang trí nhẹ nhàng, màu sắc chắt lọc kỹ lưỡng, làm nền cho các công trình
cổ xung quanh.
Điểm đắc sắc của tòa nhà là không phải hoàn toàn mang hơi thở, dáng dấp kiến trúc cổ, mà
còn bộc lộ yếu tố hiện đại qua sự nguy nga, bề thế, phản ảnh trình độ khoa học kĩ thuật tiên
tiến trên thế giới.
riêng và có những nét chung. Nét chung, tức là những đặc trưng của kiến trúc truyền
thống, còn nét riêng chính là nói đến sự tiến hóa- tính hiện đại trong kiến trúc. Bởi vậy,
chúng ta phải luôn nhìn nhận tính dân tộc và tính hiện đại theo quan điểm động.
Khuynh hướng sáng tạo kiến trúc mang tính hiện đại và tính dân tộc là một khuynh hướng
đúng đắn. Muốn tạo ra những tác phẩm có giá trị, kiến trúc sư cần phải am hiểu kĩ về vốn
kiến trúc truyền thống, nắm được nguyên lí sáng tạo kiến trúc hiện đại, đồng thời đi sâu
vào thực tế cuộc sống… Có như thế, mới tạo nên những tác phẩm kiến trúc có tính hiện đại
và tính dân tộc, có nghĩa là tạo ra được những nét đặc trưng mới của dân tộc trong kiến
trúc Việt Nam hiện đại.
Tài liệu tham khảo:
1: Vũ Tam Lang, “ Kiến trúc cổ Việt Nam”, nxb Xây Dựng, Hà Nội, 2008
2: TS.KTS Nguyễn Đình Toàn, “Kiến trúc Việt Nam qua các triều đại”,nxb Xây Dựng, Hà
Nội, 2009.
3:Nhiều tác giả- Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội- Trung tâm nghiên cứu kiến trúc, “Bàn
về vấn đề dân tộc và hiện đại trong kiến trúc Việt Nam”, nxb Xây Dựng, Hà Nội,1999.
*Internet:
1: http://123doc.org/document/575868-lang-khai-dinh.htm
2:http://www.vneco.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=972%3Avin
g-thm-coi-vnh-hng-ca-vua-khi-nh--hu&catid=20%3Adu-lch-dch-v&lang=vi
3: http://kienthuc.net.vn/giai-ma/nhung-bi-mat-phong-thuy-cua-dinh-doc-lap-299260.html
4 http://thethao60s.com/index/1643442/01092008.aspx
5 http://www.chp.com.vn/index.php/tin-ky-thuat/114-cong-trinh-tien-phong-trong-xu-thekien-truc-hien-dai.html