Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại đã bước vào kỷ nguyên thông tin, kỷ
nguyên của Internet và World Wide Web với sự phát triển của nền kinh tế
tri thức. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tác động đến mọi bình
diện của xã hội, làm thay đổi sự tương tác giữa người cán bộ thư viện với
vốn tài liệu, nguồn lực thông tin và người đọc. Sự xuất hiện của mạng máy
tính kỹ thuật lưu trữ và chuyển dạng tài liệu đã dẫn đến việc hình thành các
thư viện hiện đại, làm biến đổi sâu sắc quá trình tổ chức, thu nhập, xử lý và
phục vụ của các cơ quan thư viện thông tin. Thực tế dó đã đòi hỏi người
cán bộ thư việc thông tin phải có những năng lực mới. Để đào tạo được đội
ngũ cán bộ thư viện thông tin đáp ứng được các yêu cầu đặt ra của thực tế
là trách nhiệm của các cơ sở đào tạo. Trên thực tế trong những năm gần
đây đào tạo cán bộ thư viện thông tin là một trong những chuyên ngành đào
tạo có nhiều sự biến động.
Trong điều kiện xã hội thông tin hiện đại, có nhiều cơ hội cũng như
nhiều thách thức đã và đang đặt ra đối với công tác đào tạo cán bộ thư viện
thông tin. Tính chất nghề thư viện đã có nhiều thay đổi so với trước đây và
sẽ còn tiếp tục thay đổi với việc áp dụng các phương tiện và công nghệ
thông tin hiện đại. Làm thế nào để tìm ra được các mô hình và giải pháp
thích hợp cho công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin để các sản phẩm
đào tạo đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong thực tế. Đó là một vấn đề có
tính chất chiến lược và được toàn ngành thư viện thông tin hết sức quan
tâm.
Tìm hiểu, nghiên cúu và đánh giá đúng thực trạng công tác đào tạo
cán bộ thư viện thông tin ở Việt Nam trong các cơ sở đào tạo cũng như
công tác đào tạo bồi dưỡng kiến thức nghề nghiệp tại các thư viện và cơ
quan thông tin, thu thập các ý kiến nhận xét về kết quả đào tạo của các
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo cán bộ thông tin thư viện ở
Việt Nam.
- Chương 3: Mô hình và giải pháp về đào tạo cán bộ thông tin thư viện
ở Việt Nam trong điều kiện xã hội thông tin hiện đại.
Phần phụ lục bao gồm: Các nguyên tắc chỉ đạo chương trình giáo dục
thông tin thư viện chuyên nghiệp-2000 của IFLA, các chương trình đào tạo
của Việt Nam và nước ngoài, mẫu phiếu điều tra.
Trong quá trình thực hiẹn đề tài chúng tôi đã nhận được sự quan tâm,
tạo điều kiẹn giúp đỡ của Bộ Văn Hoá Thông Tin, Trường Đại học Văn
Hoá Hà Nội,, Khoa Thư viện Thông Tin, Phòng Nghiên cứu khoa học của
trường, các trung tâm thông tin, thư viện và nhiều bạn đồng nghiệp.
Nhân đây chúng tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Bộ Văn Hoá
Thông Tin, Trường Đại học Văn Hoá Hà Nội, Các Quý Cơ quan và bạn
hữu đã tận tình giúp đỡ và cho chúng tôi những lời chỉ bảo quý báu.
Mặc dù đã nỗ lực về mọi mặt, nhưng do thời gian và kinh phí có hạn,
cho nên công trình của chúng tôi sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất
định.
Chúng tôi rất mong được những ý kiến góp ý của các bạn đồng nghiệp
và những ai quan tâm đến vấn đề này.
Nhóm nghiên cứu
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I: CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ THƯ VIỆN
THÔNG TIN VÀ CÁC YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ
HỘI THÔNG TIN HIỆN ĐẠI
1. Khái quát về công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin ở trên thế
giới và ở Việt Nam.
1.1 Công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin trên thế giới.
Thư viện đã xuất hiện từ thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên và
Mỹ là quốc gia có lịch sử đào tạo cán bộ thư viện thông tin sớm nhất thế
giới. Năm 1987 Menvil Dewey đã thành lập trường đào tạo cán bộ thư viện
đầu tiên. Đó là trường dạy nghề thư viện đầu tiên của Mỹ và cùng là trường
đầu tiên trên thế giới. Việc đào tạo nghề thư viện một cách có hệ thống và
quy mô cũng chỉ được bắt đầu của Dewey chú trọng vào khía cạnh kỹ thậut
thực hành của ngành thư viện. Trong một thời gian dài, công tác đào tạo
cán bộ thư viện ở Mỹ đã thực hiện theo hướng này. Cho đến ngày nay, mô
hình và phương pháp đào tạo cán bộ thư viện thông tin ở Mỹ vẫn được
đánh giá là có chất lượng cao, đứng vào loại hàng đầu thế giới.
Ở Châu Âu đến đầu thế kỷ XX một số trường đào tạo nghề thư viện
mới được thành lập. Chẳng hạn như ở Đức, Trường chuyên ngành như
Viện ở Lepdích được thành lập năm 1915, ở Anh trường Lưu trữ và thư
viện nằm trong Trường đại học tổng hợp Luân Đôn được thành lập năm
1919, ở Achentina Trường thư viện ở Buênôs-Airex được thành lập năm
1922, ở Pháp trường thư viện nằm trong trường Đại học Thiên chúa giáo ở
Paris được thành lập năm 1925 , Trường thư viẹn hoàng gia ở Xtốckhôm
của Thủy Điển được thành lập năm 1926….
Trên thế giới, trong lĩnh vực nghề nghiệp thư viện thông tin, người ta
phân chia thành hai hình thái đào tạo: Đào tạo bồi dưỡng nghề nghiệp, đào
tạo chuyên nghiệp. Đặc trưng phân biệt của hình thái đào tạo bồi dưỡng
nghề nghiệp đào tạo chuyên nghiệp là tính pháp lý của văn bằng cấp sau
khoá học. Vì thế những khoá học này còn được gọi là khoá học không có
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cấp vị, còn đào tạo chuyên nghiệp là loại hình đào tạo có kèm theo văn
bằng. Học viên qua các khoá này được cấp văn bằng xác nhận một cấp học
tương ứng. Vì thế các khoá học đào tạo chuyên nghiệp còn được gọi là
khoá học có cấp vị.
Đào tạo bồi dưỡng là một hình thức đào tạo quan trọng được các nước
trên thế giới hết sức quan tâm. IFLA đã thành lập một tiểu ban chuyên theo
Mục đích của chương trình này là thông qua các tiêu chuẩn quốc tế
trong lĩnh vực đào tạo cán bộ thư viện. Bức tranh về đào tạo cán bộ thư
viện trên thế giới vào những năm 70-80 của thế kỷ XX rất phong phú đa
dạng. Mặc dù UNESCO và IFLA đã nỗ lực trong việc đề xuất ra một
phương pháp đào tạo thống nhất trong đào tạo cán bò thư viện nhưng trên
thực tế trong các cơ quan đào tạo cán bộ thư viện chưa có được sự thống
nhất thực sự do nhiều nguyên nhân khác nhau: sự phát triển của kinh tế xã
hội của các nước khác nhau, đặc tính nghề nghiệp của hệ thống giáo dục,
nền tảng tư tưởng của việc tổ chức sự nghiệp thư viện, quan điểm khác
nhau về nghề nghiệp và thậm chí các khuynh hướng phát triển nghề nghiệp
cũng không thể đồng nhất ở tất cả các nước trên thế giới. Tuyên ngôn của
UNESCO về các thư viện công cộng năm 1972 đã đặt ra các yêu cầu về
đào tạo chuyên nghiệp bắt buộc dối với cán bộ thư viện. Sau đó UNESCO
đã xuất bản cuốn “Sách chỉ dẫn cho các trường thư viện và thông tin trên
thê giới". Trong lần xuất bản vào năm 1985, cuốn sách đã thống kê hơn 600
trường thư viện đào tạo cán bộ thư viện của 92 nước. Hiện nay con số này
không dừng lại ở đó.
Theo con số thống kê trong "Bách khoa toàn thư về dịch vụ thông tin
thư viện", hơn 70 chương trình giáo dục khoa học thư viện được áp dụng
trong các trường học ở Mỹ và Canada đã được Hội thư viện Mỹ (ALA)
phát triển và sự hội tụ của nghề thư viện với khoa học thông tin đã được
phản ánh thông qua các chương trình đào tạo.
Tại Canađa ở miền Bắc nước Mỹ người ta rất chú trọng đến vấn đề kỹ
thuật trong công tác thư viện. Để trở thành người cán bộ thư viện, người ta
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phải học một trong bảy chương trình do hội thư viện Mỹ thiết lập Khoá đào
tạo thư viện đầu tiên được tiến hành tại trường đại học tổng hợp Mc.Gill
vào năm 1904. Chương trình đào tạo sau đại học bắt đầu được tiến hành
vào năm 1931 . Vào những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều trường đã đổi tên
theo học. Sau khoá học học sinh được cấp bằng cử nhân thông tin thư viện.
Thời gian học là 4 năm.
Tại Ôxtrâylia có 1 1 trường đào tạo chuyên ngành thông tin thư viện
với 3 cấp bậc cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ.
Ở Trung quốc hiện có 50 trường đại học tổng hợp và cao đăng có đào
tạo về khoa học thư viện. Hai cơ sở đào tạo lâu đời nhất là Trường đại học
Tổng hợp Vũ Hán và Trường đại học Tổng hợp Bắc Kinh. Ngay từ năm
1964 Khoa thư viện Trường đại học tổng hợp Bắc kinh đã bắt đầu đào tạo
chương trình thạc sĩ. Từ năm 1991, Trung Quốc đã có 2 trường đào tạo cấp
bằng tiến sĩ thông tin thư viện. (Trường đại học Vũ Hán có quyền đào tạo
tiến sĩ thõng tin, trường đại học Bắc kinh : tiến sĩ thư viện).
Ở Thái Lan: Việc đào tạo cử nhân Thư viện bắt đầu từ 1959 tại khoa
nghệ thuật của Trường đại học Chubalóngkorn. Hiện nay có 6 trường đào
tạo cán bộ thư viện bậc đại học.
Ở Inđônêxia: Hiện có 3 trường đại học đảm nhiệm việc đào tạo cán bộ
Thư viện bậc Đại học. Việc đào tạo cán bộ Thư viện bậc đại học bắt đầu từ
1985.
Ở Malaixia: Việc đào tạo cán bộ Thư viện bậc Đại học ở Malaixia
được tiến hành từ năm 1957. Hiện có 3 trường đào tạo cán bộ thư viện bậc
đại học.
Ở Philipin: Việc đào tạo cán bộ bậc đại học xuất hiện rất sớm, từ năm
1916 tại trường Đại học Philipin. Hiện ở Philipin có 26 trường đào tạo
cán bộ Thư viện bậc đại học. Do qui mô to lớn của việc đào tạo này nên
những người tốt nghiệp đại học thư viện ở Philipin có thể được gọi với cái
tên khác nhau: cử nhân khoa học về khoa học thư viện (BSLS); cử nhân
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khoa học thư viện (BSI); cử nhân nghệ thuật chuyên ngành thư viện
(ABLS); cử nhân khoa học giáo dục chuyên ngành thư viện (BSELS).
Ở Camơrun. cho đèn những năm cuối của thập kỷ 80 của thế kỷ XX,
12. Trụ sở và trang thiết bị thư viện
Việc tuân thủ theo các tiêu chuẩn của IFLA về vấn đề xây dựng các
chương trình hạt nhân trong các trường đào tạo cán bộ thư viện thông tin
trên thế giới không hoàn toàn đồng nhất. Có trường áp dụng có trường
không áp dụng. Hoặc có môn học theo chuẩn có môn học không theo. Ví
dụ như ở Mỹ hầu hết các trường đều loại môn thư mục ra khỏi chương trình
hạt nhân mà chỉ để môn học đó ở phần tự chọn không bắt buộc. Theo con
số thống kê nghiên cứu của các nhà thư viện học Mỹ: Môn học về công tác
tra cứu được 44 trong số 47 trường đưa vào chương trình hạt nhân. Môn
học về biên mục được 40 trong số 47 trường đưa vào chương trình hạt
nhân. Môn học thư viện trong xã hội được 37 trong số 47 trường đưa vào
chương trình hạt nhân của mình. Đây là ba chuyên đề được các trường dạy
nghề thư viện ở Mỹ quan tâm áp dụng nhiều nhất. Còn các chuyên đề, môn
học khác thuộc 12 môn học theo tiêu chuẩn của IFLA chỉ được chưa đến
một nửa các trường đưa vào chương trình bắt buộc. Có 4 chuyên đề, môn
học bị tất cả các trường ở Mỹ loại bỏ là : lịch sử thư viện, Thư tịch, Phương
pháp nghiên cứu và lựa chọn sách. Trong khi đó một số trường lại đưa vào
chương trình hạt nhân của mình các môn học mới như : Tìm kiếm dữ liệu
trực tuyến và phân tích hệ thống thông tin.
Đến tháng 12 năm 2000, IFLA đã phê chuẩn sửa đổi các tiêu chuẩn
này thành “Các nguyên tắc chỉ đạo chương trình giáo dục thư viện thông tin
chuyên nghiệp”. (Có thể tham khảo thêm trong Phụ lục l). IFLA đã khuyến
cáo các chương trình đào tạo thư viện cần bao gồm 10 môn học hạt nhân
như sau:
1 - Môi trường thông tin, các đao đức và chính sách thông tin, lịch sử
của lĩnh vực này.
2- Sự hình thành thông tin, giao tiếp và sử dụng
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3- Các nhu cầu thông tin định mức và các dịch vụ trả lời chỉ định .
Để thúc đẩy công tác nghiên cứu, giảng dạy và các hoạt động trong
đào tạo khoa học thông tin thư viện tại nhiều nước phát triển trên thế giới
người ta đã thành lập các hội giáo dục khoa học thư viện thông tin, hội các
trường đào tạo cán bộ thư viện thông tin. Có những hội đã thu hút được
nhiều cơ sở đào tạo và cá nhân tham gia. Tiêu biểu như ALISE (Hội giáo
dục khoa học thư viện thông tin) của Mỹ. Vào năm 1995 hội đã có số thành
viên tham gia đông kỷ lục: 701 cá nhân và 59 trường đào tạo cán bộ thư
viện ở Mỹ và Canađa. Những tổ chức nghề nghiệp chuyên sâu này thực sự
giúp cho các người làm công tác giảng dạy và các cơ sở đào tạo có một
tiếng nói chung, tạo ra nhiều cơ hội để không ngừng nâng cao kiến thức,
cập nhật thông tin, chia sẻ các vấn đề thực tiễn nghề nghiệp đặt ra.
1.2. Công tác đào tao cán bộ thư viện thong tin ở Việt Nam
So với các nước trên thế giới, việc đào tạo cán bộ thư viện xuất hiện ở
Việt Nam khá muộn. Trong lịch sử, thư viện ở Việt Nam bắt đầu được
thành lập từ thế kỷ Xi nhưng việc đào tạo nghề thư viện chỉ mới thực sự bắt
đầu được tiến hành vào thế kỷ XX. Trước thế kỷ XX, nghề thư viện được
coi là một nghề mang tính kinh nghiệm và kỹ thuật đơn thuần. Công tác
đào tạo cán bộ thư viện không thực sự được chú trọng. Người làm công tác
thư viện thường chỉ được hướng dẫn trước khi đảm trách công việc. Việc
đào tạo cán bộ phụ trách thư viện cho Việt Nam thời kỳ thuộc Pháp được
tiến hành tại Pháp. Tính đến năm 1960, ở Việt Nam mới có một lớp tập
huấn do chuyên gia Liên xô sang giảng dạy.
Hiện nay công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ thư viện được tiến
hành dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau. Cũng như các nước trên
thế giới ở Việt Nam có hai hình thái đào tạo: Đào tạo chuyên nghiệp và bồi
dưỡng nghề nghiệp.
Đào tạo chuyên nghiệp hay còn gọi là đào tạo theo các văn bằng.
Công tác đào tạo chuyên nghiệp nghề TVTT là do các cơ sở đào tạo chuyên
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ở Việt Nam hoạt động đào tạo bồi dưỡng được áp dụng cho các đối
tượng là cán bộ hiện đang công tác trong lĩnh vực TVTT nhằm trang bị các
kiến thức và kỹ năng gắn với chuyên đề cụ thể: Biên mục, phân loại, định
từ khoá, phân tích nhu cầu tin. khai thác sử dụng lnternet, hướng dẫn sử
dụng phần mềm CDS/ISIS, tự động hoá trong công tác thư viện, xử lý bao
gói thông tin, tài liệu điện tử, quản trị mạng, ngôn ngữ Siêu văn bản... Các
khoá học này có thể do các cơ sở đào tạo hoặc một số trung tâm thông tin
và thư viện lớn như: Trung tâm thông tin tư liệu khoa học & công nghệ
quốc gia, Viện thông tin khoa học xã hội, Thư viện quốc gia Việt Nam,
Thư viện quân đội trung ương... Các lớp học này thường được tổ chức
trong thời gian khoảng từ 1 tuần đến 1 tháng nhằm giới thiệu và hướng dẫn
sử dụng những công nghệ mới cho các cán bộ thông tin thư viện hoặc
những người quan tâm đến các vấn đề này. Ngoài ra cũng có một số nơi tổ
chức các đào tạo sơ cấp thư viện dưới dạng các lớp cơ sở thư viện học, cơ
sở thông tin thư viện học. Sau các khoá học này, học viên được cấp chứng
chỉ.
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ
THÔNG TIN THƯ VIỆN Ở VIỆT NAM
1. Đào tạo chuyên nghiệp
1.1. Đào tạo cán bộ thư viện thông tin bậc trung học và trình độ cao
đẳng.
Trong thời gian dài từ năm 1961 đến năm 1976 việc đào tạo cán bộ
thư viện bậc trung học do Khoa Thư viện trường Lý luận và nghiệp vụ (Đại
học Văn hoá Hà Nội ngày nay) đảm nhiệm. Đã có 10 khoá với gần 400
sinh viên trung cấp thư viện được đào tạo tại đây. Từ năm 1976, Khoa Thư
viện thôi không đào tạo cán bộ thư viện bậc trung học nữa. Nhiệm vụ này
được chuyển sang cho một số trường văn hoá nghệ thuật của các tỉnh thành
trường Cao đẳng Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh. Trường đã xây dựng
được một chương trình đào tạo hệ cao đẳng riêng áp dụng chung cho cả hệ
chính quy và tại chức. Thời gian đào tạo là 3 năm. Mục tiêu đào tạo trình
độ cao đẳng được trường xác định là: đào tạo cán bộ thư viện – thông tin có
kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ bậc cao đẳng, có định hướng chính trị đúng
và phẩm chất đạo đức tốt, có khả năng thực hiện các công đoạn trong quy
trình công nghệ của một trung tâm thư viện – thông tin lớn hoặc có khả
năng quản trị độc lập một cơ sở thư viện – thông tin vừa và nhỏ.
Để tạo điều kiện cho sinh viên có thể học tiếp ở trình độ cao hơn khi
xây dựng chương trình trường có tính đến sự liên thông với chương trình
đào tạo trình độ đại học (Có thể tham khảo thêm trong phần phụ lục). Tính
đến năm 2004 trường đã chiêu sinh được 8 khoá. Trên thực tế Trường Cao
đẳng nghệ thuật Hà Nội có tham gia vào việc đào tạo cán bộ thư viện
nhưng với hệ cao đẳng trường mới đang chuẩn bị bắt đầu.
1.2. Đào tạo cán bộ thư viện thông tin trình độ đại học.
Như phần trên đã trình bày hiện nay có 5 cơ sở đào tạo cán bộ TVTT
trình độ đại học. Đó là: Khoa Thư viện Thông tin thuộc Đại học văn hoá
Hà Nội, Bộ môn Thông tin Thư viện thuộc Đại học Khoa học xã hội và
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Thông tin thư viện thuộc Trường
Cao đẳng văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Thông tin học và quản trị
thông tin thuộc đại học dân lập Đông Đô. Trong các cơ sở đào tạo cán bộ
TBTT trình độ đại học, Khoa Thư viện Thông tin là một khoa đào tạo cán
bộ thông tin thư viện bậc đại học ra đời sớm nhất. Năm 1961 Uỷ ban Kế
hoạch Nhà nước và phủ Thủ tướng đã ra quyết định thành lập khoa Thư
viện. Nhiệm vụ ban đầu của khoa là đào tạo cán bộ thư viện bậc đại học và
trung học.
Nếu xét trong cả quá trình thì việc đào tạo cán bộ thư viện tại khoa
cũng có thời kỳ bị gián đoạn. Từ khi thành lập đến nay khoa đã chiêu sinh
chưa mạnh và có phần giảm sút so với trước đây (có thời khoa đã từng có 4
tiến sĩ, 6 thạc sĩ). Nhưng bù lại, Khoa Thư viện Thông tin đã thu hút và
nhận được sự cộng tác giúp đỡ của nhiều phó tiến tĩ và các chuyên gia
thông tin thư viện đầu ngành. Nhờ vậy việc đào tạo được đảm bảo hơn.
Trong một vài năm gần đây, nhà trường đã bắt đầu quan tâm đến việc
nâng cao trình độ bồi dưỡng kiến thức cho giảng viên bằng cách cử cán bộ
đi học sau đại học ở trong và ngoài nước. Năm 1998, Trường đã tổ chức
mời một giáo sư tiến sĩ chuyên ngành thông tin – thư viện của Úc sang
giảng dạy và giới thiệu về những xu hướng mới trong dịch vụ thông tin thư
viện. Hình thức học hỏi trao đổi kinh nghiệm này là một điều kiện tốt giúp
cho các giảng viên có thể cập nhật thêm kiến thức mới, góp phần làm
phong phú hơn chương trình và nội dung các bài giảng của mình.
Về phương thức đào tạo: Khoa Thư viện Thông tin đã tiến hành
giảng dạy lý thuyết song song với thực hành. Ngoài các buổi học trên lớp,
sinh viên còn được tổ chức đi tham quan, nghe báo cáo ngoại khoá và đi
thực tập (năm thứ ba: 6 tuần, năm thứ tư: 12 tuần) tại các thư viện và trung
tâm thông tin. Với những môn học gắn liền với xử lý tài liệu (như mô tả
thư mục, phân loại, định chủ đề, mô tả nội dung tài liệu, tổ chức kho…),
tìm tin, lưu trữ tin,… các giảng viên luôn luôn chú trọng cho sinh viên thực
hành tại chỗ. Từ năm 1996, Khoa Thư viện Thông tin đã được trường cho
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phép tổ chức một thư viện thực hành riêng. Nhờ vậy việc thực hành của
sinh viên có nhiều thuận lợi và chất lượng đào tạo cũng được nâng lên.
Không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc dạy kiến thức, dạy nghề, thực
hiện phương châm của Bộ giáo dục và đào tạo “Biến quá trình đào tạo
thành quá trình tự đào tạo”, Khoa Thông tin – Thư viện đã rất chú trọng
đến việc hướng dẫn cho sinh viên tham gia vào công tác nghiên cứu khoa
học. Ngoài việc định kỷ ra các đề tài khoá luận, luận văn cho sinh viên năm
thứ ba, thứ tư, các giảng viên còn hướng dẫn cho sinh viên thực hiện nhiều
luận và nghiệp vụ về tổ chức các hoạt động trong các thư viện và cơ quan
thông tin tư liệu ở trung ương và địa phương, về kiến thức có khả năng nắm
vững cơ sở lý luận và phương pháp luận của thư viện học, thông tin học và
thư mục học; về kỹ năng có kỹ năng thực hành thành thạo các khâu nghiệp
vụ của hoạt động thư viện, thông tin tư liệu có khả năng sử dụng công nghệ
thông tin hiện đại. Nếu đối chiếu với những yêu cầu đặt ra đối với người
cán bộ thư viện thông tin đã phân tích ở trên mục tiêu này đã bao quát và
đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn.
Trong chương trình mới nhiều môn học và học phần mới đã được xây
dựng: Pháp chế thư viện thông tin, Nhập môn công nghệ thông tin, mạng
thông tin máy tính, thư viện điện tử, xuất bản điện tử. Một số môn học đã
được tài thành lập như sử sách và thư viện. Tên gọi và nội dung một số
môn học đã được mở rộng đổi mới như: Biên mục mô tả, Tổ chức và bảo
quản kho tài liệu, Định chủ đề và định từ khoá, Lưu trữ thông tin và bộ
máy tra cứu…
Với những bổ sung và sự đổi mới này chương trình khung đã phần
nào được cập nhật, rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn, đón đầu
được sự phát triển của nghề nghiệp trong tương lai.
Về cơ sở vật chất: Trong những năm gần đây, để bắt kịp với sự phát
triển của công nghệ thông tin và để trang bị cho sinh viên những kiến thức
và kỹ năng sử dụng công nghệ mới Trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã xây
dựng được một dàn máy tính với gần bốn chục máy. Khoa thông tin thư
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
viện cũng có máy riêng. Nhà trường đã cho phép một số bộ phận nối mạng
Internet để phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập của giáo
viên cũng như học sinh. Bên cạnh đó Khoa thông tin thư viện còn tổ chức
riêng một thư viện thực hành với trên 6000 tài liệu, hơn 300 tư liệu nghiệp
vụ và hàng trăm các khoá luận, luận văn của sinh viên các khoá. Đó chính
là những phương tiện hỗ trợ rất đắc lực cho việc đào tạo của trường và của
thế chưa được bồi đắp trong sinh viên?
Bên cạnh đó, việc lên lớp của các giảng viên hiện tại vẫn chỉ có một
hình thức đơn điệu chủ yếu là giảng viên nói và sinh viên nghe với công cụ
quen thuộc là bảng đen và phấn trắng. Việc sử dụng và áp dụng các phương
tiện và công nghệ hiện đại trong công tác giảng dạy vẫn còn xa vời đối với
các giảng viên Khoa Thông tin – Thư viện.
Như ở trên đã đề cập, trong những năm gần đây, Khoa Thông tin –
Thư viện đã được tổ chức lại một thư viện thực tập riêng và thư viện thực
hành này đã hỗ trợ khá đắc lực cho công tác đào tạo của khoa nhưng thư
viện đó nhìn chung cũng chưa thật xứng đáng với yêu cầu và tính chất của
nó. Thư viện mới chỉ đơn thuần là một nơi chứa các sách và tài liệu thực
hành phục vụ cho các môn xử lý tài liệu.
Khoa Thông tin thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn Hà Nội cũng là một cơ sở đào tạo lớn ở Việt Nam.
Tiền thân của Bộ môn Thông tin Thư viện học Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn là tổ thư viên thuộc khoa Sử trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội. Năm 1973, theo quyết định của Bộ Đại học và Trung học
chuyên nghiệp việc đào tạo cán bộ thư viện bậc đại học được chuyển giao
từ trường lý luận nghiệp vụ sang Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tổ thư viện
thuộc khoa Sử của trường.
Khoảng trong 10 năm từ 1973 đến 1982 tổ thư viện Trường Đại học
Tổng hợp Hà Nội đã đào tạo được 7 khoá với 250 sinh viên tốt nghiệp ra
trường. Từ năm 1982, việc đào tạo cán bộ thư viện bậc đại học lại được
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trao trả về Trường Đại học Văn hoá Hà Nội. Từ đó cho đến năm 1994 việc
đào tạo cán bộ thư viện bậc đại học bị gián đoạn. Trong thời gian này trung
tâm thông tin của trường có thỉnh thoảng mở các lớp tại chức. Có 117 học
sinh đã tốt nghiệp đại học tại chức tại trung tâm trong 11 năm đó. Năm
1995, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Trường Đại
chưa có một thư viện thực hành riêng nhưng được sự hỗ trợ đắc lực của
trung tâm thông tin tư liệu của trường nên việc thực hành của sinh viên
nhìn chung là đảm bảo.
Quan hệ hợp tác của bộ môn với các bộ phận khác ở trong trường và
các cơ quan trong ngành nhìn chung rất mở rộng. Nhờ vào vị thế và uy tín
của trường nên quan hệ hợp tác của bộ môn với nước ngoài cũng được triển
khai. Việc cử và tạo điều kiện cho cán bộ giảng viên của bộ môn đi học và
tham quan ở nước ngoài để nâng cao trình độ rất dễ dàng và có nhiều thuận
lợi.
Về phương thức đào tạo: nhìn chung Bộ môn Thông tin Thư viện
Trường Đại học Khoa học và Nhân văn cũng không có gì khác xa lắm so
với Trường Đại học Văn hoá Hà Nội. Do thời gian đào tạo không liên tục
nên số lượng các giáo trình đã được biên soạn tại bộ môn cũng không
nhiều. Song vì nhiều lý do khác nhau, một phần do phương tiện vật chất
của trường Đại học Quốc gia Hà Nội tương đối đầy đủ hiện đại và một
phần do bộ môn chú trọng đào tạo công nghệ mới nên khả năng sử dụng
các phương tiện hiện đại và công nghệ thông tin của các sinh viên tốt
nghiệp của bộ môn có phần cao hơn so với các cơ sở đào tạo khác.
Bên cạnh hai cơ sở đào tạo kể trên Khoa thư viện và thông tin học của
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh là
một trong năm cơ sở đào tạo chuyên nghiệp ngành thông tin thư viện lớn ở
nước ta. Khoa được thành lập năm 1984. Đội ngũ cán bộ giảng dạy hiện có
8 người, trong đó chỉ có 1 tiến sĩ, 3 thạc sĩ. Về chương trình đào tạo, hiện
khoa đã xây dựng được một chương trình đào tạo chuyên ngành thư viện
25