TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGƢ̃ VĂN
**********
HOÀNG THỊ THƠ
KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT “BỈ VỎ”
CỦA NGUYÊN HỒNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGƢ̃ VĂN
**********
HOÀNG THỊ THƠ
KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT “BỈ VỎ”
CỦA NGUYÊN HỒNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. THÀNH ĐỨC BẢO THẮNG
HÀ NỘI - 2015
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3
5. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 4
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
7. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 4
8. Cấu trúc của khóa luận .................................................................................. 4
NỘI DUNG....................................................................................................... 5
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .................................................... 5
1.1. Không gian nghệ thuật ............................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm không gian nghệ thuật ........................................................... 5
1.1.2. Các hình thức không gian nghệ thuật trong văn học .............................. 8
1.2. Tác giả Nguyên Hồng và tiểu thuyết Bỉ vỏ .............................................. 11
1.2.1. Tác giả Nguyên Hồng............................................................................ 11
1.2.2. Tiểu thuyết Bỉ vỏ.................................................................................... 13
CHƢƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT BỈ VỎ CỦA NGUYÊN HỒNG ........................................ 14
2.1. Không gian xã hội .................................................................................... 14
2.1.1. Không gian làng quê tù túng, chật hẹp với những hủ tục, định kiến lạc
hậu ................................................................................................................... 15
2.1.2. Không gian thành thị và những kiếp sống giang hồ ............................. 25
2.2. Không gian thiên nhiên ............................................................................ 36
2.3. Không gian tâm tưởng.............................................................................. 46
KẾT LUẬN .................................................................................................... 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
hùng hồn cho đời sống khổ cực của người dân Việt Nam trước Cách mạng
tháng Tám. Bỉ vỏ là cuốn tiểu thuyết đầu tay của nhà văn và là tác phẩm chứa
đựng nhiều giá trị. Với mong muốn được đóng góp thêm một hướng tiếp cận
tác phẩm, đồng thời trang bị cho bản thân những kinh nghiệm trong bước đầu
nghiên cứu khoa học, người viết lựa chọn đề tài “Không gian nghệ thuật
trong tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng”.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyên Hồng là một nhà văn lớn trong trào lưu văn học hiện thực phê
phán 1930 - 1945 nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung. Nguyên
Hồng và tác phẩm của ông là đối tượng nghiên cứu hấp dẫn trong văn học.
Các nhà nghiên cứu đã có nhiều trang viết hay về ông, đã tìm hiểu ông trên
nhiều góc độ: cuộc đời, thế giới quan, phương pháp sáng tác, phong cách
nghệ thuật,… Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu về Nguyên Hồng có
giá trị như:
- Vũ Ngọc Phan, Nguyên Hồng, in trong Nhà văn hiện đại, quyển tư,
tập 3, NXB Vĩnh Thịnh, H.1951.
- Nguyễn Đăng Mạnh, Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng, Báo Nhân
dân, số 16, tháng 5/1982.
- Phan Cự Đệ, Nguyên Hồng, in trong Tuyển tập Nguyên Hồng, tập 1,
NXB Văn học, H.1983.
- Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyên Hồng - Con người và sự nghiệp, in
trong Nguyên Hồng - Thân thế và sự nghiệp, NXB Hải Phòng, 1988.
- Nguyễn Đăng Mạnh, Mấy lần được gặp Nguyên Hồng, in trong
Nguyên Hồng - Thân thế và sự nghiệp, NXB Hải Phòng, 1997.
- Vũ Ngọc Phan, Tác phẩm Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng
Tám, in trong Nguyên Hồng - Thân thế và sự nghiêp, NXB Hải Phòng, 1997.
- Đặc biệt trong cuốn Nguyên Hồng về tác gia và tác phẩm do Hà
Minh Đức giới thiệu, Hữu Nhuận tuyển chọn, NXB Giáo dục, tái bản lần thứ
2
- Làm rõ khái niệm không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học.
- Vận dụng những hiểu biết về lí thuyết trên vào việc tìm hiểu không
gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Bỉ vỏ.
- Tiến hành so sánh không gian nghệ thuật trong Bỉ vỏ với một số tác
phẩm khác dựa trên những nét tương đồng để thấy được sự độc đáo của
Nguyên Hồng trong việc xây dựng không gian nghệ thuật trong tác phẩm.
5. Mục đích nghiên cứu
- Có sự hiểu biết sâu sắc về không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn
học nói chung và trong tiểu thuyết Bỉ vỏ nói riêng.
- Thấy được tài năng của nhà văn Nguyên Hồng trong việc tạo dựng
không gian nghệ thuật trong tác phẩm.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp so sánh.
7. Đóng góp của khóa luận
- Góp thêm một hướng tiếp cận tác phẩm Bỉ vỏ của nhà văn Nguyên
Hồng.
- Giúp người đọc thấy được một phương diện quan trọng trong tài năng
nghệ thuật của nhà văn và là chất liệu cho các hướng nghiên cứu sau về nhà
văn Nguyên Hồng và tác phẩm của ông.
8. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của khóa luận gồm hai chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung.
Chƣơng 2: Biểu hiện của không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Bỉ vỏ
của Nguyên Hồng.
5
thức nghệ thuật nhưng là hình thức mang tính nội dung. Từ điển thuật ngữ
văn học đã đưa ra định nghĩa: Không gian nghệ thuật là “hình thức bên trong
của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự miêu tả, trần
thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong
trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn
bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối,
cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật” [3,160]. Các tác
giả của Từ điển thuật ngữ văn học còn đưa ra các đặc trưng cơ bản của không
gian nghệ thuật.
Thứ nhất, không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên
mang tính chủ quan. Không gian nghệ thuật là không gian được xây dựng
theo quan niệm của người nghệ sĩ, hoàn toàn không đồng nhất với cuộc đời
thực và nó vận động, lưu chuyển linh hoạt để biểu đạt ý đồ của tác giả. Do
vậy, không gian nghệ thuật là không gian mang tính chủ quan để biểu đạt cảm
nhận riêng của nhà văn về con người và thế giới. Mỗi tác giả có một cách xây
dựng và kiến tạo thế giới theo cách riêng của mình, không gian nghệ thuật vì
thế rất phong phú và đa dạng, tùy thuộc vào sở trường cũng như cá tính sáng
tạo của mỗi nhà văn. Đồng thời, mỗi thời đại, mỗi giai đoạn văn học lại có
những quan niệm riêng về thế giới và con người, từ đó dẫn đến tri giác về
không gian nghệ thuật ở mỗi giai đoạn văn học là không giống nhau. Không
gian nghệ thuật là một hình thức, một kiểu tư duy nghệ thuật của nhà văn, qua
đó bộc lộ quan niệm, thái độ của tác giả về hiện thực và đời sống. Đặc điểm
này như một dấu hiệu quan trọng để phân biệt không gian nghệ thuật với
không gian khác chỉ có nghĩa là nơi tồn tại của sự vật chứ không phải là
không gian nghệ thuật. Lẽ dĩ nhiên, khi kể câu chuyện về một số phận, về một
hiện tượng, sự việc xảy ra trong đời sống, nhà văn thường đặt nó trong một
bối cảnh không gian nhất định. Tuy nhiên không phải bất cứ không gian nào
7
sống (cao, thấp, dài, ngắn, tối, sáng,…). Không gian nghệ thuật tập trung vào cái
nhìn, điểm nhìn không gian (xa, gần, cao, thấp,…); điểm nhìn tâm lí, tư tưởng
(nhớ lại, dạo ấy,…). Không gian có thể thể hiện qua kết cấu, sự phân giới nội tại
của tác phẩm, sự liên kết các không gian, mức độ tính liên tục, rời rạc,…
Thứ tư, không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại
của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm
về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học. Nó
cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu
loại hình của các hình tượng nghệ thuật.
Tóm lại, không gian nghệ thuật không phải là không gian vật lí mà là
hình tượng không gian, là hình thức tồn tại của hình tượng con người trong
thế giới nghệ thuật. Nó là mô hình nghệ thuật về cái thế giới mà con người
đang sống, đang cảm thấy vị trí và số phận của mình. GS. Trần Đình Sử đã
khẳng định: “Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm
biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống, do đó
không thể quy nó về sự phản ánh giản đơn không gian địa lí hay không gian
vật lí, vật chất” [18, 108]. Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của sự
sống con người, gắn liền với ý niệm về giá trị và sự cảm nhận về giới hạn giá
trị của con người. Không gian nghệ thuật gắn liền với quan niệm về con người
và góp phần biểu hiện cho quan niệm ấy.
Việc tìm hiểu không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có vai trò
đặc biệt quan trọng. Nó cho phép khám phá phong cách và cá tính sáng tạo
của người nghệ sĩ một cách khoa học, từ đó khẳng định ý nghĩa và giá trị mà
tác phẩm đem lại cho bạn đọc.
1.1.2. Các hình thức không gian nghệ thuật trong văn học
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, không gian nghệ thuật trong văn
đến vô hạn nhưng luôn luôn gắn với hành động của con người. Hành động tới
đâu, không gian mở ra tới đó, nhưng không gian này không có quan hệ với
không gian thực tại, mà đó là một không gian khép kín. Nói khác đi, đó là
miền không gian của mơ ước.
Không gian truyện cổ tích có tính chất ngược với không gian tiểu thuyết.
Nếu tiểu thuyết trong mỗi bước đi đều gây khó khăn cho nhân vật, đòi hỏi nhân
vật phải vượt qua trở ngại, bộc lộ cá tính thì truyện cổ tích ngược lại, luôn có xu
hướng ủng hộ, tạo thuận lợi cho con người. Đặc điểm này làm cho nhân vật
chính diện luôn nhận được sự trợ giúp để vượt qua những khó khăn, trở ngại.
Sự thể hiện của không gian nghệ thuật trong văn học viết trung đại
lại vô cùng đa dạng. Tuy nhiên, do cùng hệ quy chiếu là một thế giới quan
9
(ảnh hưởng của học thuyết Nho, Phật, Lão; bị chi phối bởi nền kinh tế nông
nghiệp chậm phát triển) mà không gian nghệ thuật có nét thống nhất.
Không gian trong văn học trung đại là mô hình của “không gian vũ trụ”,
không gian mang tính bất biến, mang đậm dấu ấn chủ quan vì xây dựng
không gian theo cách lấy con người cảm thụ là trung tâm. Con người trung
đại luôn ý thức về vị trí của mình giữa không gian, tự cảm nhận mình như
một khách thể trong vũ trụ, nhìn mình từ bên ngoài, trên cao hoặc ngoài
xa,... Văn học trung đại cũng xây dựng những không gian đối lập để tạo ấn
tượng cảm xúc đặc biệt (thanh cao - phàm tục, cố hương - tha hương,…).
Không gian có tầng thứ, lớp lang. Theo thời gian, không gian vũ trụ có sự
thay đổi về đặc tính (từ hư vô, thoát tục đến trần tục, thế tục). Sự biến đổi
về mô hình không gian nghệ thuật gắn liền với sư thay đổi xã hội, sự tự ý
thức của con người và tư duy nghệ thuật trong văn học.
Như vậy, tuy có những đặc trưng khác nhau nhưng không gian nghệ
thuật trong các thể loại văn học dân gian và ở văn học trung đại đã biểu hiện
một số những nét chung: không gian thường mang tính khép kín, khuôn gọn
đời tư được xây dựng trong mối quan hệ khăng khít với nhau.
Như vậy, không gian nghệ thuật là hình thức thể hiện quan niệm về thế
giới và con người. Theo sự chảy trôi của dòng thời gian và sự phát triển của lịch
sử, khi con người có nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về xã hội, quan niệm về thế
giới và bản thân trở nên phức tạp hơn, toàn vẹn hơn thì việc tổ chức không gian
nghệ thuật trong tác phẩm cũng có sự biến đổi cả về quy mô và tính chất.
Bỉ vỏ của Nguyên Hồng là cuốn tiểu thuyết ra đời vào giai đoạn văn
học hiện đại Việt Nam đã đạt đến độ trưởng thành về nhiều mặt. Bởi vậy, việc
tổ chức không gian nghệ thuật trong tác phẩm cũng rất đa dạng, thể hiện sâu
sắc nội dung tư tưởng, chủ đề tác phẩm.
1.2. Tác giả Nguyên Hồng và tiểu thuyết Bỉ vỏ
1.2.1. Tác giả Nguyên Hồng
Nhà văn Nguyên Hồng, tên thật là Nguyễn Nguyên Hồng. Ông sinh
ngày 5/11/1918 tại thành phố Nam Định, mất ngày 2/5/1982 tại tỉnh Bắc
11
Giang. Xuất thân từ một gia đình viên chức sa sút rồi rơi xuống tầng lớp dân
nghèo; cha mất sớm, mẹ đi bước nữa, ông phải sống nhờ một bà cô cay
nghiệt. Khi mẹ ông trở về, hai mẹ con rời quê tới sinh sống trong một xóm
nghèo ở Hải Phòng (xóm Cấm). Tại đây, cuộc sống của ông gắn liền với tầng
lớp người dân bần cùng trong xã hội và từ đó hình ảnh của họ đã xuất hiện
trong nhiều tác phẩm của ông.
Với hơn bốn mươi năm cầm bút, Nguyên Hồng đã để lại cho văn học
nước nhà hàng vạn trang sách, với số lượng gần 40 tác phẩm, có đủ các thể
loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, thơ, kịch,... trong đó nhiều tác phẩm có
giá trị lâu dài cho nền văn học dân tộc mà tiểu thuyết Bỉ vỏ là tiêu biểu.
Khác với nhiều cây bút cùng thời, ngay từ tác phẩm đầu tay, Nguyên
Hồng đã chọn cho mình con đường của chủ nghĩa nhân đạo, hướng về những
lớp người cùng khổ nhất trong xã hội cũ. Mục đích cầm bút của ông trước hết
xã hội, làm cho người đọc phải suy nghĩ và cảm động” [15,1048]. Qua cuộc đời
chìm nổi éo le của Tám Bính, một cô gái thôn quê thật thà, hướng thiện, giàu
tình yêu thương và đức hi sinh, tác giả đã phơi bày bộ mặt bất công của trật tự
xã hội đương thời. Từ bọn cường hào với những thành kiến, hủ tục nặng nề ở
nông thôn cho đến bọn nhà giàu ở thành thị bề ngoài lịch sự mà bụng dạ bẩn
thỉu; bọn ma cô, trùm nhà thổ chuyên buôn thịt bán người; bọn cảnh sát, mật
thám, quan tòa vô lương tâm,… tất cả đều được nhà văn phản ánh rõ nét trong
tác phẩm. Hoàn cảnh sống ấy là những nguyên nhân xa gần đẩy nhân vật từ
một cô gái thôn quê trong trắng đến con đường lưu manh, trụy lạc. Không chỉ
vẽ lại hiện thực một cách khách quan, ngòi bút Nguyên Hồng còn biết khơi sâu
vào thế giới bên trong tâm hồn nhân vật, phát hiện ra vẻ đẹp bản chất của tâm
hồn họ ngay cả khi họ bị đẩy vào giữa vũng bùn tội lỗi.
Một trong những khía cạnh quan trọng của tác phẩm được nhà văn kì
công tạo dựng là không gian nghệ thuật. Tìm hiểu không gian nghệ thuật của
Bỉ vỏ chính là một trong những chìa khóa giúp giải mã thành công tác phẩm
và qua đó nhận thức được phong cách sáng tạo của nhà văn.
13
CHƢƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT BỈ VỎ CỦA NGUYÊN HỒNG
2.1. Không gian xã hội
Trong cuốn Những vấn đề thi pháp của truyện, nhà nghiên cứu Nguyễn
Thái Hòa cho rằng: Không gian bối cảnh là “môi trường hoạt động của nhân
vật, một địa điểm có tên riêng hay không có tên riêng, trong đó có đủ cả thiên
nhiên, xã hội, con người. Nó là điều kiện cần thiết cho mọi sự kiện, mọi hoạt
động, mọi phạm vi thế giới không thể thiếu… Bối cảnh xã hội bao gồm cuộc
sống của những tầng lớp người và cá nhân này với cá nhân khác. Có khi đó là
những tập quán, phong tục, luật lệ ở một địa phương; có khi là những quan hệ
“có vấn đề” giữa cá nhân này với cá nhân khác hoặc được biểu hiện cụ thể,
Bướcđường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tất Tố,… chỉ đề
cập đến một khía cạnh, chọn một vấn đề nào đó của hiện thực đời sống hoặc
nông thôn hoặc thành thị để phản ánh hiện thực một cách tập trung thì Bỉ vỏ
của Nguyên Hồng lại khác. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm này đã có
xu hướng mở rộng hơn so với các tiểu thuyết hiện thực của các nhà văn trước
đó. Nhân vật không chỉ sinh sống, hoạt động và nhận thức trong một không
gian sống nhất định mà nhà văn còn đưa bước chân nhân vật vào nhiều không
gian sống khác nhau, qua đó bộc lộ rõ tính cách, tư tưởng, số phận nhân vật.
2.1.1. Không gian làng quê tù túng, chật hẹp với những hủ tục, định kiến
lạc hậu
Trong mối tương quan với các thể loại khác, tiểu thuyết nổi bật lên ở
tính chất gần gũi với đời sống và ở khả năng nhận thức, phản ánh hiện thực
một cách sinh động, toàn vẹn. Là một thể loại tiêu biểu cho phương thức tự sự
nên tiểu thuyết có khả năng bao quát hiện thực trên cả chiều rộng không gian
và chiều dài thời gian. Vì thế, có những tác phẩm được coi là cuốn bách khoa
toàn thư về đời sống bởi hiện thực được phản ánh trong đó vô cùng rộng lớn,
15
phong phú. Những Tấn trò đời của Banzac, Chiến tranh và hòa bình của
L.Tônxtôi, Sông Đông êm đềm của Sôlôkhôp,… là những minh chứng hùng
hồn cho sức chứa của thể loại. Tuy nhiên, trong bản chất sáng tạo loại hình,
tiểu thuyết còn là một thể loại hết sức linh hoạt. Ưu thế của thể loại khiến cho
tiểu thuyết không chỉ có khả năng mở rộng không gian, thời gian, nhân vật, sự
kiện mà còn có khả năng dồn nén nhân vật và sự kiện vào trong một khoảng
không gian hạn hẹp, đi sâu vào khám phá những cảnh ngộ riêng của nhân vật.
Bỉ vỏ của Nguyên Hồng là tác phẩm như thế.
Mở đầu tác phẩm là hình ảnh bữa cơm chiều: “Bữa cơm chiều nay
khác hẳn mọi ngày, buồn bã và uể oải lắm”, không gian miêu tả cảnh sinh
hoạt của một gia đình nông thôn nhưng dường như đã sớm báo hiệu cho
Xá bị quây kín đến nỗi khiến cho “hồi vang của tiếng mõ, tiếng trống bị
những lũy tre ngăn phải lật trở lại” [21, 9]. Đêm đêm, trong bóng tối của rặng
tre làng, người ta chỉ nghe thấy tiếng chó sủa, tiếng thét đâm thét đánh rùng
rợn của bọn cai lệ, cường hào. Không gian ngột ngạt kết hợp với những âm
thanh dồn đuổi, thúc ép đã tạo nên một không khí vô cùng căng thẳng. Tính
chất ngột ngạt, tù túng của không gian trong Tắt đèn còn được toát lên từ hình
ảnh ngôi nhà, môi trường sống cụ thể của nhân vật. Nhà văn đã miêu tả căn
nhà chị Dậu đơn sơ, nhỏ bé một cách thảm hại. Đó là một nếp nhà tranh “thấp
lủn củn”, “lặng lẽ”, “kín đáo náu mình” trong một xóm cuối làng Đông Xá.
Từ xa nhìn lại, người ta dễ lầm tưởng đó là nơi nhốt lợn hay chứa tro. Đến
gần, ngôi nhà càng trở nên thấp, nhỏ với dãy mái hiên cườm cượp “luôn luôn
phạt kẻ ra vào bằng những cái bươu đầu choáng óc” [21, 14]. Khoảng sân hẹp
chỉ bằng “đường bừa” với những lớp rêu xanh điểm những lá tre vàng úa và
những cỏ gấu phất phơ,… cùng hàng loạt những đồ vật trong căn nhà bé nhỏ
của nhân vật được Ngô Tất Tố miêu tả cụ thể, đã cho thấy cuộc sống khốn
cùng của tầng lớp dân nghèo Việt Nam trước Cách mạng.
17
Bỉ vỏ của Nguyên Hồng cũng vậy. Không gian làng Sòi quê Bính tuy
không được nhà văn miêu tả rõ nét qua từng đồ vật, ngõ xóm nhưng chỉ với
vài nét phác họa, nhà văn vẫn cho thấy được một không gian làng quê Việt
Nam trước Cách mạng - nghèo nàn, xơ xác, chật hẹp, tù túng. Theo bước chân
nhân vật, ngôi nhà người dân quê dần hiện ra nhạt nhòa trong buổi chiều tà
vắng lặng: “…cái cổng bằng tre bắt khum chằng chịt những dây bìm điểm hoa
tím”, Bính đi về căn nhà vốn đã bao năm thân thuộc. Nơi đó, có căn buồng
lúc nào cũng tối đen, với cây đèn hoa kỳ vặn nhỏ đặt trên trạn bát ở cuối
buồng mà mẹ Bính đã tắt ngay khi cô vừa bước chân xuống bếp. Trên cái
chõng tre trong buồng, đứa bé đang ngủ bị đàn muỗi vây quanh, nom đến
thảm hại. Đứa bé là con của Bính. Trong phút lầm lỡ, Bính chót buông phó cả
buộc mãi mãi” nếu không tự giải thoát ra được. Không phải chỉ bởi cái nghèo
nàn khiến con người ta khổ cực, mà những thành kiến cổ hủ, lạc hậu của dân
làng đã làm cho những người như Bính phải chịu đựng sự giày vò đau khổ
hơn bao giờ hết.
Không gian quê nhà trong Bỉ vỏ tràn ngập tối tăm, đau xót, ê chề và đặc
biệt là nỗi sợ hãi của nhân vật Bính: “Gian buồng chật hẹp tối tăm thêm.
Không khí càng đè nén vì những tiếng nghẹn ngào. Và Bính chưa hết buồn
sợ, những hình ảnh khác đã đến, khiến Bính càng bối rối”. Đó là hình ảnh
người phụ nữ bị làng phạt vạ đang dần hiện ra trong tâm trí cô. Dạo còn bé,
Bính theo người lớn ra đình xem làng ngả vạ chị Minh - một ả đẻ hoang:
“Một ngày tháng năm, đường sá, sân gạch bỏng rẫy chân”, mẹ con chị Minh
“phải quỳ ở giữa sân đình, nón không có”; đứa bé mới sinh được mười ngày,
còn đỏ hỏn như con Bính bây giờ, đã phải theo mẹ ra đình làng để người ta
phạt vạ giữa trời nắng chang chang. Và rồi hàng loạt những luật lệ, hủ tục hà
khắc từ bao đời để lại được người làng, bọn hương lí chức dịch thực thi.
Người phụ nữ bị làng phạt vạ khổ cực vô cùng: “mặt mày tái mét, đẫm mồ
19
hôi, răng cắn chặt”. Trong tình cảnh thê thảm ấy, có lẽ dù cực khổ đến đâu họ
cũng đành cắn răng chịu đựng. Những thành kiến, luật lệ cổ hủ, hà khắc đã ăn
sâu vào đời sống sinh hoạt của người dân bao năm khó mà thay đổi được:
“Mõ làng đứng gần chị Minh, sau cái án thư bày la liệt những giấy má, bút
mực, tay cầm cặp roi mây son đỏ bịt đồng, ra bộ nghênh ngang vô cùng.
Thỉnh thoảng y hất hàm hỏi chị Minh rồi đột nhiên lại lấy đầu roi, lật tà áo
che mặt đứa bé lên cho mọi người xem giống ai trong làng”. Không chỉ đè
nén con người ở thể xác, luật lệ hà khắc ấy còn xúc phạm đến danh dự, nhân
phẩm con người một cách ghê gớm. Một cộng đồng người mất nhân tính, lấy
việc phạt vạ, xúc phạm nhân phẩm người phụ nữ làm vui. Tất cả đã tiếp tay
cho chế độ phong kiến chèn ép cuộc sống con người.