BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
TRỪƠNG V IẾ T THÀNH
NGHIÊN c ứ ơ ĐẶC
• ĐIỂM THỮC
• v ậ• t v à
THÀNH PHẦN HOÁ HỌC MỘT s ố LOÀI SA
NHÂN MỌC HOANG TẠI XÃ PHỮỚC
BÌNH,
•
HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN.
•
( KỉĩOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược ỖĨ DẠI HỌC KỈIOÁ 1998 - 2003 )
Người hướng dẫn ĩ PGS.TS. NGUYÊN THỊ TẨM
DS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
Nơi thực hiện
:
•
•
Bộ môn Dược liệu
■
PHẨN 3. THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ THựC NGHIỆM-------- 14
3.1. Nghiên cứu về thực v ật........................................ .................................. 14
3.1.1. Nghiên cứu về thực vật loài sa nhân SM1......... ....................... ...... 14
3.1.2. Nghiên cứu về thực vật loài sa nhân SM2...... .................................. 18
3.1.3. Nghiên cứu về thực vật loài sa nhân SM3------------------------------ 20
3.2. Nghiên cứu về hoá h ọ c.......................................................................... 23
3.2.1. Định tính các nhóm chất hoá học có trong vỏ quả sa n h â n -------- 23
3.2.2. Xác định hàm lượng tinh dầu hạt các loài sa n h â n ------------------- 31
3.2.3. Phân tích thành phần hoá học tinh dầu hạt các loài sa n h ân ------- 32
3.3. Bàn lu ậ n -------------------------------------------------------------------------33
3.3.1. Bàn luận về kết quả nghiên cứu thực vật các loài sa nhân---------- 33
3.3.2. Bàn luận về kết quả nghiên cứu hoá học các loài sa nhân---------- 34
PHẨN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT......... ............................................ 36
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
£Ềfo@cÂMƠQl
phát, chưa có sự hướng dẫn của các nhà chuyên môn. Vả lại, số lượng sa nhân
mọc hoang trên núi chưa phải là nhiều, các loài sa nhân chưa được nghiên cứu
về tên khoa học cũng như hàm lượng và thành phần tinh dầu. Nếu họ hiểu
được giá trị lớn về kinh tế, có ý thức và được hướng dẫn về bảo tồn, phát triển,
khai thác nguồn tài nguyên này thì cuộc sống hàng ngày của họ sẽ được cải
thiện nhiều hơn.
1
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi kết hợp với Hội Y học cổ truyền
Ninh Thuận tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm thực vật và thành
phần hoá học một số loài sa nhân mọc hoang tại xã Phước Bình, huyện
Ninh Sơn, tỉnh Ninh T huận ” nằm trong khuôn khổ đề tài cấp tỉnh: “Nghiên
cứu trồng thử nghiệm sa nhân mọc hoang từ vùng núi cao xuống vùng
thấp tại xã Phước Thành, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận ” do Hội Y học
Cổ truyền Ninh Thuận chủ trì, với các mục đích :
- Nghiên cứu đặc điểm thực vật, xác định tên khoa học một số loài sa
nhân mọc hoang.
- Xác định hàm lượng tinh dầu, phân tích thành phần hoá học tinh dầu
hạt các loài sa nhân mọc hoang.
- Xác định sơ bộ các nhóm chất hoá học cố trong vỏ quả sa nhân.
2
PHẦN 1
TỔNG QUAN
Sa nhân là tên gọi một số loài thuộc chi Amomum Roxb., họ
Zingiberaceae. Trên thế giới và ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về sự
Lào Cai
4. Amomum trilobum Gagnep.
Đà Nang, Phước Tân
5. Amomum vespertilio Gagnep.
Núi Ba Vì
6. Amomum unifolium Gagnep.
Bắc Bộ hoặc Nam Bộ
7. Amomum thyrsoideum Gagnep.
Ninh Bình
Trong cuốn Flora of British India, Hooker có thống kê 48 loài thuộc chi
Amomum Roxb. phân bố ở Ấn Độ [36].
Holttum nghiên cứu và thống kê được 18 loài phân bố ở Malaysia [35].
Theo tài liệu [41], các tác giả đã thống kê và mô tả được 24 loài có mặt
ở Trung Quốc.
Số loài thuộc chi Amomum Roxb. được tổng kết đầy đủ nhất trong cuốn
Index kewensis Suplement I-XIX với hơn 250 loài tổng kết các nghiên cứu từ
năm 1886-1990 [37].
Ở Việt Nam, GS. Phạm Hoàng Hộ [14] đã thống kê và mô tả 14 loài sa
nhân phân bố từ các tỉnh phía Bắc như: Ba Vì, Hà Nam Ninh (cũ) tới các tỉnh
thuộc Nam Bộ như Phú Quốc.
Trong cuốn Từ điển cây thuốc Việt Nam [8], GS. Võ Văn Chi đã mô tả
Đặc điểm hình thái thực vật của chi Amomum Roxb. được Gagnepain
[40] mô tả như sau: Cây thân thảo, sống lâu năm, thân rễ mọc ngang mang
nhiều vảy và rễ phụ, bẹ lá xếp sít nhau tạo thành thân giả khí sinh. Lá có lưỡi
nhỏ, phiến lá thuôn tròn phía gốc lá, nhọn ở phần ngọn lá. Lá mọc cách xa
cụm hoa mọc lên từ thân rễ. Cụm hoa hình bông thường dày đặc hoa, đôi khi
hoa thưa. Lá bắc lớn hơn lá bắc con. Hoa thường không cuống. Đài hoa hình
ống có 3 răng. Tràng hoa hình ống có 3 thùy. Cánh môi nguyên, lõm hay chia
3 thùy, hình trái xoan. Bao phấn có mào hình dạng thay đổi theo loài, đôi khi
không có mào. Chỉ nhị ngắn. Vòi nhụy hình chỉ, đầu nhụy hình phễu. Bầu có
3 ô, đính noãn lối trung trụ. Quả nang hình cầu, hình trứng hay hình nón, chứa
khối hạt gồm nhiều hạt nhỏ.
1.2. Kết quả nghiên cứu về thành phần hoá học:
Tinh dầu cất được từ các loài thuộc chi Amomum Roxb. đã được nhiều
nhà khoa học trên thế giới và trong nước chú ý nghiên cứu từ lâu.
Từ năm 1930, một số nhà khoa học đã nghiên cứu thành phần hoá học
tinh dầu quả loài Amomum xanthioides Wall, xác định được các thành phần
chính là: D-camphor, d-bomeol và borayl acetat [23].
Hazarika Ajitk, Nath Subhanc (1995) xác định được thành phần chính
của tinh dầu thân rễ loài Amomum linguiforme Benth. mọc ở M ỹ là methyl
chavicol [31].
Năm 1997, trong một nghiên cứu khác [24], các nhà khoa học thuộc
Viện Y học Phương Đông Hyogo- Nhật Bản đã dùng kỹ thuật GC-MS phân
5
tích thành phần hoá học tinh dầu hạt loài Amomum cardamomum xác định
được 15 thành phần trong đó có các Sesquiterpenoid:
Caryophyllen
Monoterpen oxi hoá 75,2%
Sesquiterpen 6,3%
Trong đó thành phần chủ yếu là: 1,8-cineol (61,3%); a-terpineol; a và
Ị3-pinen; allo-aromadendren.
Trong một nghiên cứu khác [33], từ tinh dầu quả loài Amomum villosum
Lour, và bằng kỹ thuật GC-MS, nhóm nghiên cứu đã phân lập được 38 thành
phần trong đó xác định được 34 thành phần gồm các nhóm:
Monoterpen
Sesquiterpen
Terpen oxid của trans-linalol oxid
Caryophyllen
Hợp chất thơm.
Ở Việt Nam, Nguyễn Xuân Dũng, Đào Lan Phương, Leclercq (1990)
[28] sử dụng phương pháp GC-MS đã xác định được thành phần chính của
tinh dầu lá, thân, rễ loài sa nhân Amomum schmidtii Gagnep. là: Trans-p-(lbutenyl) anisol chiếm 90-95%.
Trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Xuân Dũng, Nguyễn Thị Tâm,
Đào Lan Phương, Leclercq (1993) dùng phương pháp Sắc ký khí mao quản và
GC- MS tách được 20 thành phần, nhận dạng được 14 chất từ tinh dầu quả
một số mẫu sa nhân ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam [11].
Theo Lê Tùng Châu [7], thành phần hoá học chính tinh dầu quả sa nhân
Amomum xanthioides Wall, gồm:
D-camphor 33%
D-Bomeol 19%
Camphen 7%
Limonen 7%
Phellandren 2,3%
7
Nguyễn Thị Tâm và cộng sự (2001) [22] khi nghiên cứu thành phần hoá
học tinh dầu quả và lá 2 loài sa nhân mọc hoang ở Phước Thành- Ninh Thuận
đã đạt được một số kết quả sau:
Bảng 1: Thành phần hoá học chính trong tinh dầu lá và quả 2 loài sa
nhân Phước Thành:
Loài sa nhân
Amomum
thyrsoideum
Tinh dầu quả
Tinh dầu lá
P“ pinen
41,55%
Bomyl acetat 43,25%
Cis- ocimen
39,03%
Camphor
35,77%
Sabinen
7,00%
được thành phần hoá học tinh dầu toàn cây loài sa nhân một lá Amomum
unifolium Gagn. mọc ở Tam Đảo gồm:
Citral 36,7- 39,4%
Geraniol 28,5-29,9%
Linalol 7,7-8,5%
Theo Đào Lan Phương (1995) [21], thành phần chính tinh dầu hạt một
số loài sa nhân mọc ở miền Bắc Việt Nam như sau:
9
Bảng 2: Thành phần chính tinh dầu hạt một số loài sa nhân
miền Bắc Việt Nam
Loài sa nhân
Thành phần
chính
Hàm lượng
(%)
Camphor
47,1%
Bomyl acetat
39,1%
Longiligulare T.L.Wu
Camphor
A.viỉỉosum.var.
Bomyl acetat
Xanthioides (Wall.) T.L.
Camphen
Wu ex Senjen Chen
14,0% /
/
50,8% 1
33,7%
5,0% Ị
Dược điển Việt Nam III [6] quy định hàm lượng tinh dầu trong hạt sa
nhân ít nhất là 1,5%.
Ngoài tinh dầu, theo một số tài liệu, các loài thuộc chi Amomum Roxb.
còn chứa một số nhóm chất hoá học khác: saponin, hợp chất peroxid,
curcuminoid...[27,30].
1.3. Công dụng trong y học:
Trong y học cổ truyền, quả sa nhân thường được sử dụng làm thuốc
chữa bệnh về tiêu hoá.
Theo tài liệu [38], y học dân tộc Thái Lan sử dụng một số bộ phận cây
Amomum krervanh Pierre làm thuốc chữa bệnh: Rễ, lá chữa bệnh nha chu;
PHẦN 2
NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1. Nguyên liệu:
* Đối tượng nghiên cứu: Một số loài sa nhân mọc hoang tại vùng núi
thuộc xã Phước Bình, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận được kí hiệu: SM1,
SM2, SM3.
* Thời gian lấy mẫu: Tháng 7/2002.
* Xử lý và bảo quản mẫu:
Các mẫu cây sa nhân được xử lý ép tiêu bản tại thực địa, kí hiệu: SM1,
SM2, SM3.
Hoa được bảo quản trong cồn 25°.
Quả sa nhân lấy về được xử lý phơi khô ngay và bảo quản trong túi ni
lông kín, kí hiệu: M l, M2, M3, M4, M5.
Tất cả các mẫu được bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh côn trùng.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1. Nghiên cứu về thực vật:
2.2.1.1. Mô tả đặc điểm hình thái và xác định tên khoa học:
- Mô tả đặc điểm hình thái theo phương pháp quan sát, mô tả, chụp ảnh,
làm tiêu bản.
- Xác định tên khoa học dựa trên phương pháp so sánh hình thái.
2.2.1.2. Nghiên cứu đặc điểm vi học:
- Vi phẫu: Cắt vi phẫu gân giữa lá, bảo quản bằng cách ngâm trong cồn
25°, tẩy, nhuộm kép, cố định, quan sát qua kính hiển vi theo tài liệu [3,16].
-
Soi bột: Dược liệu được sấy khô, tán nhỏ thành bột mịn, soi, chụp
ảnh hiển vi.
-Nhiệt độ cuối: 250° c
- Tốc độ tăng nhiệt: 4° c / phút
- Nhiệt độ buồng tiêm mẫu: 250
- Nhiệt độ Detector: 300° c
13
PHẦN 3
THựC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ
3.1. Nghiên cứu về thực vật:
Quá trình nghiên cứu tại thực địa, chúng tôi đã thu thập được mẫu 3 loài
sa nhân mọc hoang, kí hiệu: SMI, SM2, SM3. Sau đây là kết quả nghiên cứu
từng loài.
3.1.1. Nghiên cứu về thực vật loài sa nhân SM1:
3.1.1.1. Hình thái thực vật:
Cây thân cỏ, sống lâu năm, bẹ lá
xếp sít nhau tạo thành thân giả khí sinh
cao l,5-3m.
Thân rễ mọc ngang, có chồi dài,
nhiều vảy và rễ phụ.
Lá mọc so le xếp thành hai dãy,
phiến lá hình chỉ dài 25-35 cm, rộng 3-5
cm, hai mặt nhẵn. Lưỡi lá nhỏ, nguyên,
nhẩn hoặc có ít lông dài 2-3 mm. Cuống
lá dài 3-4 mm.
Cụm hoa hình trái xoan hoặc hình
cầu mọc lên từ thân rễ. Có 5-10 hoa trên
cùng một cụm, hoa màu trắng, cuống
sát biểu bì dưới; hàng 2 gồm các bó libe- gỗ nhỏ hơn, nằm phía trên và xen kẽ
với các bó libe- gỗ lớn trong phần mô mềm; hàng 3 gồm các bó libe- gỗ nhỏ
nằm sát biểu bì trên. Hình dạng bó libe- gỗ giống như một tam giác có đỉnh
quay vào trong, gỗ nằm phía ngoài, libe nằm rải rác phía trong, có mạch gỗ ở
giữa, ngoài cùng là vòng mô cứng hình móng ngựa.
15
1
Ảnh 2: Vi phẫu gân lá cây sa nhân SM1
1- Biểu bì
2- Bó libe- gỗ
3- Mô khuyết
4- Mô mềm
* Đặc điểm bột vỏ quả: (Ảnh 3)
Bột màu tím nâu, mùi thơm, vị cay. Quan sát dưới kính hiển vi thấy các
đặc điểm: Mạch xoắn hình lò xo gồm nhiều sợi chập lại với nhau (1,7). Tế bào
tiết tinh dầu hình đa giác màu vàng nằm trong các mảnh mô mềm (2). Bó sợi
gồm nhiều sợi vách mỏng, thuôn hai đầu (3). Mảnh mang màu nằm trong
mảnh mô mềm, màu vàng đậm (4). Lông che chở đơn bào, dài (5). Mảnh mô
mềm cấu tạo bởi các tế bào hình đa giác, màng mỏng (6). Mảnh biểu bì vỏ
quả cấu tạo bởi nhiều tế bào hình đa giác (8).
16
Ảnh 3: Một số đặc điểm bột vỏ quả cây sa nhân SM1
nhị ngắn, bao phấn hai ô, hình dải dẹp, song song với nhau, dài 1,1 cm. Mào
hình tam giác có đỉnh quay về phía bao phấn, đáy uốn lượn hoặc rách mép
rộng 9-10 mm. Vòi nhụy có lông ở đỉnh. Đầu nhụy hình phễu. Nang hình thoi
dài 23-25 mm, rộng 10-13 mm, chia thành 3 ngăn được bao phủ bởi áo hạt,
chia thành 2-3 đường khía sâu, mỗi ngăn chứa 12-25 hạt nhỏ hình khối đa
diện.
Cụm quả chứa 2-8 quả. Quả hình cầu hay bầu dục.
Cây ưa sống nơi ẩm ướt, có bóng râm, ven suối, ra hoa vào tháng 4-5,
quả có thể thu hoạch được vào tháng 7-8.
Qua quan sát, mô tả hình thái thực vật, có đối chiếu với các tài liệu liên
quan được thực hiện với sự giúp đỡ của Giáo sư Vũ Văn Chuyên, chúng tôi đã
xác định tên khoa học loài sa nhân trên là:
A m om um vespertìlio Gagn., họ Gừng- Zingiberaceae.
3.1.2.2. Đặc điểm vi học:
* Đặc điểm vi phẫu gân lá: (Ảnh 5)
Cắt ngang phần gân giữa lá, tẩy, nhuộm kép, cố định, quan sát qua kính
hiển vi thấy các đặc điểm:
Gân lá lồi ở phần dưới, lõm ở phần trên. Nhìn từ ngoài vào trong, biểu
bì trên và biểu bì dưới cấu tạo bởi một lớp các tế bào hình chữ nhật, kích thước
đều nhau, xếp sít nhau. Có lông che chở nằm trên lớp biểu bì dưới. Mô mềm
gồm các tế bào hình đa giác, màng mỏng, xếp cạnh nhau. Bó libe- gỗ gồm 4
hàng: Hàng 1 gồm các bó libe- gỗ lớn, nằm sát biểu bì dưới; hàng 2 gồm các
bó libe- gỗ nhỏ hơn, nằm phía trên và xen kẽ với các bó libe- gỗ lớn trong
phần mô mềm; hàng 3 gồm các bó libe- gỗ nhỏ; hàng 4 gồm các bó libe- gỗ
nhỏ hơn nằm sát biểu bì trên. Bó libe- gỗ hình tam giác có đỉnh quay vào
trong, gỗ nằm phía ngoài, libe nằm rải rác phía trong, có mạch gỗ ở giữa,
ngoài cùng là vòng mô cứng hình móng ngựa.
dài 3 cm, nhẵn, màu hồng, có một khe từ
trên xẻ xuống giữa đài, có 3 răng nhỏ.
Tràng hoa hình ống dài 4 cm, nhẩn , chia
3 thùy đều nhau dài 18 mm, rộng 6 mm.
Cánh môi dài 25 mm, rộng 20 mm. Trên
lưng có một dải màu vàng đỏ, có lông mịn
phía trong. Gốc cánh môi hẹp ở phía dưới,
6* Cây sa nhan SM3
chiều dài 6 mm. Bộ nhị có chỉ nhị nhẵn, hẹp hơn ở phía dưới. Bao phấn có hai
ô song song, nhẵn ở phía dưới, có chút lông tơ ở đỉnh, chiều dài 4-5 mm tạo
thành bao phấn hình vuông. Mào lõm ở phía dưới, dài gấp2 lần ô phấn. Núm
nhuỵ hơi nghiêng. Noãn sào có một ít lông tơ.. Hạt đính lốitrung trục. Nang 3 ô,
mỗi ô có 8-24 hạt nhỏ, mùi thơm , vị cay.
Cụm quả có 3-6 quả hình cầu màu hồng tím có gai nhọn, 3-5 khía sâu.
Cây ưa sống nơi bóng râm, ẩm ướt, ra hoa vào tháng 5-6, quả chín có
thể thu hái vào tháng 7-8.
Qua quan sát, mô tả đặc điểm hình thái thực vật, có đối chiếu với các tài
liệu liên quan được thực hiện với sự giúp đỡ của Giáo sư Vũ Văn Chuyên,
chúng tôi đã xác định tên khoa học của loài sa nhân trên là:
A m om um unifolium Gagn., họ Gừng- Zingiberaceae.
3.1.3.2. Đặc điểm vi học:
* Đặc điểm vi phẫu gân lá: (Ảnh 7)
21