ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------------------
PHẠM THỊ THU HÀ
ĐỀ XUẤT PHƢƠNG PHÁP MỚI CHO ĐÀO TẠO CỬ
NHÂN BÁO CHÍ CHÍNH QUY Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------------------
PHẠM THỊ THU HÀ
ĐỀ XUẤT PHƢƠNG PHÁP MỚI CHO ĐÀO TẠO CỬ
NHÂN BÁO CHÍ CHÍNH QUY Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số
: 60 32 01 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Quang Hào
4
chí thƣờng đứng lớp
5
Hình 2.3. Bảng so sánh ƣu, nhƣợc điểm của các phƣơng pháp
39
41
đào tạo
6
Hình 2.4. Sơ đồ nhƣ̃ng yế u tố chính tác đô ̣ng đế n phƣơng pháp
50
giảng dạy báo chí
7
8
Hình 3.1. Mô hình phƣơng pháp giảng dạy đƣờng tròn thiên về
thực hành
Hình 3.2. Lớp học báo chí tƣơng lai dành cho 25 sinh viên –
54
của một tờ báo, tạp chí”
13
Hình 3.7. Kế hoạch bài giảng: “Những nguyên tắc và phƣơng
76
pháp thiết kế, trình bày báo, tạp chí & sơ lƣợc phần mềm thiết
kế, trình bày báo in”
14
15
Hình 3.8. Kết quả đánh giá chất lƣợng lớp học thực nghiệm
Hình 3.9. Mức độ quan tâm của ngƣời học khi đến với các
khóa học báo chí
81
86
DANH MỤC VIẾT TẮT
.
BC-TT
: Báo chí – Truyền thông
: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
PPĐT
: Phƣơng pháp đào tạo
PT-TH
: Phát thanh - Truyền hình
THPT
: Trung học Phổ thông
THVN
: Truyền hình Việt Nam
TNVN
: Tiếng nói Việt Nam
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...................................................................................5
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................8
DÀNH CHO CỬ NHÂN BÁO CHÍ CHÍNH QUY Ở VIÊT
̣ NAM HIÊ ̣N NAY ....56
1
3.1. Đề xuất mô hình phƣơng pháp giảng dạy báo chí: Phƣơng pháp đƣờng tròn
thiên về thực hành ..............................................................................................56
3.2. Các điều kiện cơ bản đáp ứng mô hình phƣơng pháp giảng dạy báo chí .... 58
3.3. Dự báo khó khăn, thách thức khi áp dụng phƣơng pháp giảng dạy cho đào
tạo Cử nhân báo chí chính quy ...........................................................................62
3.4. Thực nghiệm phƣơng pháp giảng dạy đặc thù cho sinh viên báo chí chính
quy ......................................................................................................................65
3.4.1. Mục đích thực nghiệm ..........................................................................65
3.4.2. Đối tƣợng, địa điểm, quy mô thực nghiệm ...........................................65
3.4.3. Giả thuyết thực nghiệm .........................................................................66
3.4.4. Nhiệm vụ thực nghiệm..........................................................................66
3.4.5. Quy trình thực nghiệm ..........................................................................66
3.4.6. Đánh giá, xử lý các kết quả thực nghiệm..............................................82
3.5. Một số kiến nghị ..........................................................................................84
3.5.1. Đối với giảng viên báo chí ....................................................................84
3.5.2. Đối với cơ sở đào tạo ............................................................................85
Tiểu kết chƣơng 3 ..................................................................................................... 91
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 95
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
3
Vấn đề đổi mới, đề xuất phƣơng pháp giảng dạy nói chung, phƣơng pháp giảng dạy
báo chí nói riêng ở các cơ sở đào tạo không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Mỗi
một thầy cô giáo trƣớc khi lên lớp đều hình thành cho mình một phƣơng pháp giảng
dạy nhất định để chuyển tải một khối lƣợng kiến thức nào đó cho sinh viên. Tuy
nhiên, phƣơng pháp đào tạo nào phù hợp với tính chất, đặc trƣng, yêu cầu nghề
nghiệp của sinh viên là một vấn đề cần xem xét về mặt lý luận và thực tiễn. Bởi
phần lớn các phƣơng pháp sƣ phạm đƣợc sử dụng trong thực tiễn giảng dạy báo chí
chủ yếu đƣợc hình thành và phát triển một cách tự nhiên, dựa trên những trải
nghiệm của bản thân, học hỏi kinh nghiệm của thế hệ đi trƣớc. Do đó, việc hình
thành phƣơng pháp và rèn luyện phƣơng pháp giảng dạy báo chí ở giảng viên chƣa
thực sự đầy đủ cơ sở khoa học.
Cử nhân Báo chí, hệ Chính quy ở Việt Nam ra trƣờng làm báo chí chiếm 30%
và khoảng 50% trong số đó trụ lại với nghề nhƣng trong tƣơng lai không xa, họ là
lực lƣợng nòng cốt, nếu đƣợc đào tạo bài bản - “cả gốc lẫn ngọn” trong điều kiện lý
tƣởng để làm nghề [48]. Và nói nhƣ GS.TS Eddie C.Y.Kuo, Cựu Hiệu trƣởng
Trƣờng Truyền thông Singapore khi nhận định về tình hình đào tạo truyền thông ở
các nƣớc ASEAN đã khái quát rằng: “Ở khu vực ASEAN hiện nay truyền thông
đang phát triển cực mạnh và kéo theo đó, việc đào tạo truyền thông cũng phát triển
mạnh (…) nhiều vấn đề nhất là đào tạo truyền thông phải đƣợc giải quyết trong 25
năm, thậm chí 50 năm, trong đó có những vấn đề bao gồm cả bình diện lý luận lẫn
thực tiễn”[54, 27]. Có thể thấy đó là mục tiêu, chiến lƣợc lâu dài không loại trừ một
quốc gia nào. Đây là đi ều đáng lƣu tâm, xoay quanh câu chuyện đào tạo Cử nhân
báo chí, hệ Chính quy ở Việt Nam.
Có điều kiện tiếp xúc, thừa hƣởng một nền đào tạo báo chí - truyền thông rất
hiệu quả và chuyên nghiệp của một số nƣớc trên thế giới, nhƣng việc vận dụng nhƣ
thế nào vào đặc thù nền báo chí xã hội chủ nghĩa, điều kiện đào tạo của nƣớc nhà
hiện nay là điều không phải ngày một ngày hai. Chúng ta đang đứng trƣớc 2 câu
nhà nghiên cứu chú ý. Có thể nêu lịch sử các vấn đề đƣợc nghiên cứu nhƣ sau:
Về nội dung chƣơng trình đào tạo: Công trình đáng chú ý đầ u tiên không thể
không kể đế n là: “Đổi mới nội dung chƣơng trình đào tạo cán bộ báo chí trên cơ sở
những kinh nghiệm lịch sử của báo chí thế giới” của PTS Tạ Ngọc Tấn (bảo vệ
thành công năm 1995 tại Phân viện Báo chí & Tuyên truyền). Với sự nghiên cứu
công phu và tỉ mỉ, công trình đã nêu ra những kinh nghiệm đào tạo báo chí của một
5
số nƣớc trên thế giới, đồng thời đề xuất những kiến nghị, giải pháp về đổi mới nội
dung chƣơng trình đào tạo ở Việt Nam. Sau này, một số giới nhà nghiên cứu trẻ
cũng khá quan tâm đến chƣơng trình đào tạo ở một số cơ sở đào tạo. Có thể kể đến
công trình nghiên cứu:“Đổi mới chƣơng trình đào tạo Cao đẳng báo chí (Khảo sát
Trƣờng Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình 1 và Trƣờng Cao đẳng Truyền hình)”
của học viên Lại Huy Thỏa ở Học viện Báo chí &Tuyên truyền; hoặc kỷ yếu Hội
thảo khoa học Đổi mới chƣơng trình và phƣơng pháp giảng dạy chuyên ngành Phát
thanh, Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới chƣơng trình và phƣơng pháp giảng dạy chuyên
ngành Truyền hình lần lƣợt tổ chức năm 2006, 2007 tại Hà Nội.
Về thực trạng và giải pháp nâng cao chất lƣợng đào tạo: Năm 2003, nhà báo
Vũ Đình Hƣơng đã bảo vệ thành công đề tài cấp cơ sở về đào tạo Cử nhân Báo chí
với tiêu đề “Thực trạng và những giải pháp nâng cao chất lƣợng đào tạo Cử nhân
Báo chí”. Qua việc khảo sát mô hình chƣơng trình đào tạo Cử nhân Báo chí ở Phân
viện Báo chí & Tuyên truyền trong 4 năm (2001 - 2003), tác giả đã đề xuất một số
giải pháp khắc phục những hạn chế, phát huy ƣu điểm nhằm nâng cao chất lƣợng
Cử nhân báo chí của Phân viện ở thời điểm đó. Tuy nhiên, những giải pháp mà tác
giả đƣa ra áp dụng với những yêu cầu đào tạo ở thời điểm hiện tại chỉ còn giá trị
lịch sử. Trở lại vấn đề này, năm 2007, các nhà nghiên cứu Hoàng Đình Cúc, Đức
Dũng cũng đã xuất bản một chuyên luận có tựa đề “Những vấn đề của báo chí hiện
đại” và dành hẳn 40 trang (từ tr.134 - 175) để bàn luận về công tác đào tạo, bồi
dƣỡng báo chí và vấn đề bố trí, tuyển dụng sinh viên báo chí sau khi tốt
viê ̣n Báo chí & Tuyên truyề n giai đoạn 2000 - 2005, Đề tài cấ p cơ sở tro ̣ng điể m ,
Viê ̣n nghiên cƣ́u Báo chí & Tuyên truyề n , năm 2012 của tác giả Nguyễn Đức Hạnh
hay đề tài “Đổi mới phƣơng thức đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ phóng viên, biên tập
viên của Đài Truyền hình Việt Nam” của nhà báo Ngô Đức Tùng bảo vệ thành công
năm 2013. Và mới đây nhất , năm 2014, công trình: Sƣ̉ dụng báo chí để dạy báo chí
(Cẩm nang dành cho nhƣ̃ng ng ƣời đào tạo ) đƣơ ̣c dich
̣ sang tiế ng Viê ̣t b ởi tác giả
Clas Thor và các cô ̣ng sƣ̣ . Tuy các phƣơng pháp đào tạo đặc thù của Fojo mới triển
khai đào tạo tại chỗ và đào tạo tập trung ngắn hạn (2 - 8 tuần) ở một số đơn vị báo
chí, truyền hình nhƣng đã giúp các nhà đào tạo hình dung đƣợc mô hình đào tạo báo
chí khá thành công của Fojo (Thụy Điển) tại Việt Nam.
Tuy nhiên, những mô hình và phƣơng pháp đào tạo nêu trên mới áp dụng cho
những khóa học ngắn hạn dành cho cán bộ quản lý, đội ngũ phóng viên đang làm
việc tại các cơ quan báo chí trên cả nƣớc. Bởi vậy, cũng nhƣ một số cán bộ giảng
dạy báo chí có tâm huyết, có tầm nhìn, chúng tôi rất mong muốn đề xuất những
7
phƣơng pháp mới cho đào tạo Cử nhân Báo chí chính quy ở Việt Nam. Tất nhiên,
điều này phải dựa trên những nghiên cứu có cơ sở khoa học, hệ thống và những
bƣớc tính toán lâu dài, phù hợp trong thực tiễn.
Nhƣ vậy, đề tài “Đề xuất phương pháp mới cho đào tạo Cử nhân Báo chí
chính quy ở Việt Nam” sẽ là một cố gắng khi bàn luận, đƣa ra phƣơng pháp đào tạo
báo chí bậc Cử nhân khả thi ở Việt Nam trong thời điểm hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Bƣớc đầu đề xuất phƣơng pháp giảng dạy mới cho đào tạo Cử
nhân Báo chí chính quy ở Việt Nam.
-Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát các phƣơng pháp giảng dạy của giảng viên báo chí ở 5 cơ sở đào tạo báo
chí.
Khoa Báo chí –Truyền
Trƣờng Đại học Khoa học
thông
Xã hội và Nhân văn – Đại
8
1990
học Quốc gia Hà Nội
3
Khoa Báo chí –Truyền
thông
4
5
Trƣờng Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn – Đại
1992
học Quốc gia Hồ Chí Minh
- Phương pháp tham dự: Là phƣơng pháp thu thập thông tin về quá trình giáo
dục - đào tạo trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sƣ phạm, cho ta những tài
liệu sống về thực tiễn giáo dục để có thể khái quát nên những quy luật nhằm chỉ
đạo, tổ chức quá trình giáo dục - đào tạo đƣợc tốt hơn. Cụ thể, đó là quan sát hoạt
động của thầy giáo, ngƣời học, các điều kiện, môi trƣờng và kết quả hoạt động của
họ qua các hình thức: quan sát thăm dò, quan sát phát hiện và quan sát kiểm
nghiệm.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đây là một phƣơng pháp khá quan
trọng khi muốn xây dựng một mô hình giáo dục, nghiên cứu phƣơng pháp đào t ạo
9
cho một đối tƣợng nào đó. Là phƣơng pháp dùng để tìm hiểu bản chất, nguồn gốc,
nguyên nhân và cách giải quyết tình huống giáo dục; tổng kết sáng kiến, thành
công, hạn chế của một đơn vị giáo dục,…
- Phương pháp điều tra giáo dục: Đây là phƣơng pháp thể hiện sự tác động
trực tiếp của ngƣời nghiên cứu vào đối tƣợng nghiên cứu thông qua câu hỏi để có
những thông tin cần thiết cho công việc của mình. Mục đích của phƣơng pháp là thu
nhận số liệu, sự suy nghĩ, quan điểm,…Để có cái nhìn sâu sắc, toàn diện cũng nhƣ
khắc phục những hạn chế về mặt tƣ liệu khi đánh giá phƣơng pháp dạy - học của
các thầy, cô giáo trƣớc đây (do điều kiện lịch sử), chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn
sâu các thầy cô giáo đã về hƣu; các thầy, cô giáo đang giảng dạy trong và ngoài
nƣớc, một số học viên, nhà báo đang nghiên cứu báo chí - truyền thông ở một số
trƣờng đại học trên thế giới.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Là phƣơng pháp thu nhận thông tin về
sự thay đổi số lƣợng, chất lƣợng trong nhận thức và hành vi của các đối tƣợng giáo
dục do nhà khoa học tác động đến chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã
đƣợc kiểm tra. Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng khi nhà khoa học sƣ phạm đề ra một
phƣơng pháp giáo dục, một phƣơng pháp dạy học mới, một nội dung giáo dục
mới,…Cụ thể, trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành tổ chức một
Chƣơng 1: Phƣơng pháp đào tạo báo chí – Những vấn đề lý luận cơ bản
-
Chƣơng 2: Thực trạng vận dụng phƣơng pháp trong đào tạo báo chí ở Việt
Nam hiện nay
-
Chƣơng 3: Đề xuất mô hình phƣơng pháp giảng dạy báo chí dành cho Cử
nhân báo chí chính quy ở Việt Nam hiện nay
11
NỘI DUNG
Chƣơng 1:
PHƢƠNG PHÁP ĐÀ O TẠO BÁO CHÍ - NHƢ̃ NG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1.Khái niệm, thuật ngữ
1.1.1. Các khái niệm: Phƣơng pháp đào tạo, phƣơng pháp đào tạo báo chí
- Phƣơng pháp đào tạo:
Phƣơng pháp có nguồn gốc tiếng Hy Lạp là “methods”, có nghĩa là con
đƣờng, cách thức hoạt động nhằm đạt mục đích. Theo Hêghen (dƣới góc độ triết
học): “Phƣơng pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội
dung”. Định nghĩa này đƣợc hiểu theo nghĩa chung nhất là cách thức đạt tới mục
tiêu, là hoạt động đƣợc sắp xếp theo một trật tự nhất định. Đi tìm nội hàm hay cắt
nghĩa “phƣơng pháp”, tác giả Nguyễn Văn Xô trong Tiếng Việt thông dụng (2001)
của NXB Trẻ cũng đƣa ra cách hiểu: “Phƣơng pháp là cách, lối, cách thức hoặc
phƣơng cách, phƣơng sách, phƣơng thức,…để giải quyết một vấn đề. Nói gọn lại,
phƣơng pháp là cách thức để làm một việc nào đó”.
“phƣơng pháp luận tổng quan”, chi phối toàn bộ hoạt động giáo dục – đào tạo.
Dƣờng nhƣ hợp lý nếu khi lựa chọn ngƣời ta dựa vào một phƣơng pháp luận tổng
quan. Phƣơng pháp luận này phải tính đến những mục đích theo đuổi (mục tiêu đào
tạo), nội dung đào tạo (những kiến thức ngƣời học phải lĩnh hội), đặc điểm của đối
tƣợng đào tạo, quy trình đào tạo, những phƣơng tiện có trong tay và đặc trƣng của
phƣơng pháp đào tạo và giáo dục. Vì những nhân tố này không hề độc lập với nhau,
cần phải bằng một loạt những tác động tƣơng hỗ và những giải pháp liên tiếp tiến
tới một giải pháp tối ƣu [21, 3]. Có thể sơ đồ hóa khái niệm phƣơng pháp đào tạo
bằng sơ đồ sau:
1
Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia.
13
Chú thích:
M: Mục tiêu
đào tạo
M
- Đối
tƣợng đào tạo
N: Nội dung
đào tạo
(Chƣơng trình)
tăng cƣờng các môn học lựa chọn (elective subject) tạo điều kiện thuận lợi cho ngƣời học dễ dàng
đăng ký học theo trình độ, khả năng, tốc độ và nguyện vọng lựa chọn khác nhau.
2
14
pháp đào tạo báo chí chính là phƣơng pháp giảng dạy (khác với phƣơng pháp dạy học: bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học) của giảng viên báo chí dành cho
sinh viên báo chí. Sở dĩ, tác giả chọn tiêu chí này để khảo sát các phƣơng pháp đào
tạo báo chí bởi phƣơng pháp đào tạo này đƣợc quy định bởi tính chất nội dung đào
tạo. Mặt khác, nội dung đào tạo (chƣơng trình) chi phối việc lựa chọn và vận dụng
các phƣơng pháp giảng dạy nhƣng nhờ có sự lựa chọn và vận dụng hợp lý các
phƣơng pháp giảng dạy mà nội dung đào tạo (vốn tồn tại khách quan ngoài ý thức
của ngƣời học) sẽ trở thành một bộ phần hữu cơ trong vốn kinh nghiệm riêng, từ đó
ngƣời học có thể nắm vững hệ thống tri thức cơ bản, tri thức cơ sở và tri thức
chuyên ngành. Bên cạnh đó, phƣơng pháp giảng dạy báo chí cần phải đảm bảo cho
sinh viên phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, đặc biệt là năng lực tƣ duy nghề báo.
Chức năng này phản ánh mặt tích cực của phƣơng pháp giảng dạy.
Không giố ng nhƣ các ngành nghề đào ta ̣o thuô ̣c khoa ho ̣c xã hô ̣i khác , chuyên
ngành báo chí cũng có mô ̣t phƣơng pháp đào ta ̣o riêng nế u không nói là đă ̣c thù
Tính chất này quy định bởi
.
tính chất nội dung đào tạo, bản chất hoạt động nghề
nghiê ̣p, yêu cầ u đă ̣c biê ̣t đố i với sản phẩ m đào ta ̣o .
Một là, nội dung đào tạo báo chí có tính chất đào tạo nghề nên phƣơng pháp
đào tạo cũng phải thể hiện tính chất dạy nghề. Yêu cầu đào tạo báo chí phải thể hiện
rõ tính chất dạy nghề. “Điều này không chỉ đƣợc thể hiện rõ trong các chƣơng trình
dàn trang, tổ chƣ́c talk, dƣ̣ng Clip, sản xuất chƣơng trình; thƣ̣c tâ ̣p 2 - 3 tháng tại cơ
quan báo chí . Mô hiǹ h lớp ho ̣c phải theo lố i da ̣y “bán giảng đƣờng” , lấ y viê ̣c truyề n
thao tá c và kỹ năng cho ngƣời ho ̣c làm tro ̣ng hay “dùng truyề n thông da ̣y truyề n
thông (use media to teach media)”[27].
Nhƣ vậy, với nghề báo, ở trình độ nào thì việc ứng dụng lý thuyết đã đƣợc học
vào công việc thực hành của sinh viên dƣới sự hƣớng dẫn của giảng viên là giai
đoạn đặc biệt quan trọng trong đào tạo. Lúc này, ngƣời học mới có thể hiện đƣợc
bằng những sản phẩm đã học đƣợc. Lúc đó, giáo viên mới có điều kiện phát hiện
những ƣu điểm, tiềm năng của ngƣời học để khích lệ và định hƣớng cho họ phát
triển, giúp họ khắc phục những khiếm khuyết, xác định trách nhiệm xã hội và đạo
đức nghề nghiệp.
Đây là đặc thù bổ trợ thêm cho đặc thù nêu trên, bởi tuy đào tạo bậc Cử nhân
là đào tạo nghề nhƣng không phải là đào tạo nghề thuần túy mà ngƣời học phải
đƣợc trang bị những kiến thức lý luận cơ bản về khoa học báo chí – “nguyên lý” để
sáng tạo nên những tác phẩm báo chí ở các loại hình. Bởi đây là sản phẩm hết sức
16
đặc biệt, mang trên mình “một thiết chế chính trị, xã hội”, là vấn đề nhân sinh quan,
thế giới quan hết sức cụ thể, phong phú, đa dạng và không ngừng vận động và phát
triển. Điều này nó sẽ không giống nhau ở mỗi thể chế chính trị, mỗi quốc gia, mỗi
dân tộc và mỗi thời đại.
Đặc biệt ở góc độ nào đó, con ngƣời ta quá đề cao sự phát triển của khoa học
kỹ thuật, công nghệ hiện đại – “cỗ máy tự động” của những thao tác thực hành mà
quên đi vai trò, vị trí của CON NGƢỜI và chính bản thân CON NGƢỜI thì đó là
một sự sai lầm. Bởi vậy, khi tiếp cận vấn đề và sáng tạo những tác phẩm báo chí truyền thông có dấu ấn và sức nặng với công chúng, với thời gian, công chúng cần
lắm “con mắt” của một nhà báo không chỉ có kỹ năng nghiệp vụ tinh thông mà còn
có một tƣ duy sâu sắc: Anh viết cho ai? Viết để làm gì? Viế t cái gì ? Viế t nhƣ thế
nào? (Hồ Chí Minh). Để làm đƣợc nhƣ vậy, đòi hỏi những phóng viên - nhà báo
phải có kiến thức xã hội chung, kiến thức chuyên môn vững chắc. Đặc biệt, là phải
phẩm chất nghề nghiệp của giảng viên trong quá trình tổ chức, thực hiện (phƣơng
pháp giảng dạy) các môn thuộc chuyên ngành báo chí. Bởi không phải cứ có một
quy trình đào tạo tốt là tự nó có thể tạo ra phƣơng pháp đào tạo theo ý muốn. Bởi có
một phƣơng thức tối ƣu nhƣng thực ra đó là hình thức, còn chất lƣợng thực sự nó lại
phụ thuộc trực tiếp vào năng lực của đội ngũ giảng viên. Do đó, phƣơng pháp đào
tạo báo chí chính là phƣơng pháp giảng dạy của giảng viên báo chí đối với sinh viên
báo chí.
Đặc biệt, phƣơng pháp giảng dạy từng bộ môn cần quán triệt: nội dung tri thức
vừa là mục tiêu, vừa là phƣơng tiện để rèn luyện bộ óc cho sinh viên báo chí nhƣng
việc giúp ngƣời học chiếm lĩnh tri thức lại quan trọng hơn rất nhiều. Có nhƣ vậy,
khi ra trƣờng ngƣời học mới có một công cụ phƣơng pháp để tiếp tục học tập suốt
đời.
1.1.2. Các thuật ngữ liên quan: Chƣơng trình đào tạo, Mô hình đào tạo, Quy trình
đào tạo, Sản phẩm đào tạo, Chất lƣợng đào tạo, Công nghệ đào tạo
- Chƣơng trình đào tạo (Curriculum): Trong bảng từ vựng về giáo dục của
tiếng Anh, chƣơng trình đào tạo có nghĩa là “curriculum”: Là một văn bản quy định
mục đích và các mục tiêu cụ thể đặt ra đối với một ngành đào tạo, các khối kiến
thức và các môn học, tổng thời lƣợng cùng thời lƣợng dành cho mỗi môn mà nhà
18
trƣờng tổ chức giảng dạy để trang bị các kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết cho
sinh viên theo học một ngành nào đó 3.
Quan niệm hiện đại về chƣơng trình đào tạo là sự trình bày có hệ thống một kế
hoạch tổng thể các hoạt động đào tạo trong một khoảng thời gian xác định, trong đó
nêu lên các mục tiêu học tập mà ngƣời học cần đạt đƣợc, đồng thời xác định rõ
phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phƣơng pháp, phƣơng tiện, cách thức tổ
chức học tập, cách thức đánh giá kết quả học tập,…nhằm đạt đƣợc mục tiêu học tập
đã đề ra. Trong đó, cần lƣu ý, một chƣơng trình hiện đại cần đƣợc thiết kế cho
đào tạo là kế hoạch phải thực hiện trong năm 1,2,3,4. Điều này thể hiện rõ số đơn vị
học phần hoặc tín chỉ cần tích lũy của ngƣời học trong chƣơng trình đào tạo của
từng năm, học kỳ. Ví dụ đối với chƣơng trình đào tạo báo chí bậc đại học hệ chính
quy Chấ t lƣơ ̣ng cao của Trƣờng ĐH KHXH & NV TP Hồ Chí Minh có 4 năm 8 học
kỳ tƣơng ứng với 149 tín chỉ cần tích lũy. Xét theo nội dung thực hiện quy trình đào
tạo, ở Việt Nam có các bƣớc sau: tuyển sinh, tổ chức đào tạo, tổng kết và đánh giá
quy trình đào tạo. Cách thực hiện này khác với quy trình đào tạo của một số nƣớc
trên thế giới: Xác định nhu cầu đào tạo, lập kế hoạch đào tạo, xác định hình thức
đào tạo, tổ chức đào tạo, tổ chức tổng kết và đánh giá quy trình đào tạo. Mới đây,
trong chƣơng trình đào tạo, dựa vào chuẩn đầu ra nhằm đổi mới nội dung, phƣơng
pháp và công nghệ đào tạo. Quy trình trên đƣợc cụ thể hóa 4 bƣớc:
- Hình thành mục tiêu, điều tra nhu cầu và xây dựng chuẩn đầu ra.
- Thiết kế chƣơng trình đào tạo, đáp ứng chuẩn đầu ra.
- Thực hiện đào tạo thí điểm, điều chỉnh chƣơng trình đào tạo.
- Triển khai đào tạo đại trà.
- Công nghệ đào tạo: Trong thực tế, hầu hết ở các nơi trên thế giới đều tồn tại
những mâu thuẫn khách quan giữa yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ
thuật, cán bộ quản lý, nghiệp vụ có trình độ cao với một bên là sự trì trệ, bế tắc về
phƣơng thức giáo dục, đào tạo. Bởi lẽ, giáo dục - đào tạo thƣờng kém linh hoạt và
năng động hơn nhiều so với sự phát triển của sản xuất, sự bùng nổ thông tin, khoa
học, kỹ thuật [32, 149]. Để giải quyết mâu thuẫn trên, cần có một quá trình đổi mới
về mục tiêu và phƣơng thức đào tạo, cần có những cải cách về nội dung, phƣơng
pháp và hình thức đào tạo theo hƣớng cá biệt hóa, tích cực hóa quá trình đào tạo,
đáp ứng những yêu cầu mà thực tiễn đã đề ra. Do đó, trong lý luận dạy học hiện đại
đã xuất hiện thuật ngữ công nghệ đào tạo (viết tắt CNĐT).
20