TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
--------------------------
NGUYỄN THỊ NGA
GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
THƠ CHU VĂN AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ NHÀN
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình và chu đáo của TS. Nguyễn Thị Nhàn và các thầy cô trong tổ văn
học Việt Nam cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ văn – Trường ĐHSP
Hà Nội 2.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Thị Nhàn cùng toàn thể các
thầy cô trong khoa đã giúp em hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Nga
LỜI CAM ĐOAN
2.1.1. Thiên nhiên trong thơ Chu Văn An là khách thể thẩm mỹ. ............ 20
2.1.2. Thiên nhiên trong thơ Chu Văn An còn giúp tác giả gửi gắm tâm
trạng “cái tôi” nhà thơ ............................................................................. 30
2.2. Đề tài về đời sống nhà thơ nơi ẩn dật ................................................... 33
2.2.1. Tâm hồn nhà thơ giao hòa cùng thiên nhiên, cảnh vật .................. 33
2.2.2. Những khoảnh khắc quên tục lụy ưu phiền .................................... 34
2.2.3. Một tâm sự về nỗi niềm thế cuộc .................................................... 36
CHƯƠNG 3. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT THƠ CHU VĂN AN ...................... 40
3.1. Thể thơ và cấu trúc bài thơ ................................................................... 40
3.1.1. Thể thơ ............................................................................................ 40
3.1.2. Cấu trúc bài thơ .............................................................................. 41
3.2. Hình ảnh thơ.......................................................................................... 44
3.2.1. Hình ảnh con người ........................................................................ 45
3.2.2. Hình ảnh thiên nhiên cảnh vật ........................................................ 47
3.3. Ngôn ngữ thơ ........................................................................................ 51
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Văn học trung đại Việt Nam trải qua hành trình mười thế kỉ.
Những thăng trầm, biến động của lịch sử thường để lại dấu ấn lớn, sâu sắc
qua những sáng tác văn học mỗi thời. Văn học giai đoạn thế kỉ X – XIV là
chặng đầu tiên. Những cảm hứng chính, những sáng tác tiêu biểu đã làm nên
diện mạo văn học thời đó. Cảm hứng yêu nước hào hùng, cảm hứng tôn giáo,
cảm hứng về thiên nhiên là những sắc thái riêng biệt trong dòng văn học của
Sáng tác của Chu Văn An còn lại số lượng không nhiều. Mặc dù theo
một số thư tịch cũ, ông sáng tác hai tập thơ chữ Hán và chữ Nôm là Tiều Ẩn
thi tập và Quốc ngữ thi tập, nhưng đã bị thất lạc, hiện chỉ còn một số bài thơ
chữ Hán được các học giả đời sau sưu tập để lại.
Cuốn sách sớm nhất lưu giữ các bài thơ của ông là Việt âm thi tập,
trong đó Phan Phu Tiên ghi lại được 12 bài thơ, gồm hai bài ngũ ngôn (1 bài
thuộc cổ thể), 4 bài thất ngôn tứ tuyệt, 6 bài thất ngôn bát cú. Đó là các bài:
1. Nguyệt tịch bộ Tiên Du sơn tùng kính
2. Đề Dương Công Thủy Hoa đình
3. Linh Sơn tạp hứng
4. Thôn Nam Sơn tiểu khệ
5. Cung họa ngự chế động chương
6. Thanh Lương giang
7. Thứ vận tặng Thủy Vân đạo nhân
8. Xuân đán
9 .Miết trì
10. Giang đình tác
11. Sơ hạ
12. Vọng Thái lăng
2
Bộ sách đồ sộ hơn là công trình Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn.
Trong đó, bản A.1262 chép 10 bài. Ở đây không thấy có bài Thứ vận tặng
Thủy Vân đạo nhân và bài Giang đình tác; bản A.132 chép 11 bài, trong đó
không có bài Thứ vận tặng Thủy Vân đạo nhân.
Ngoài ra, sách Trích diễm thi tập và Hoàng Việt thi tuyển chỉ tuyển
chọn một số bài của Chu Văn An.
Trước tình hình văn bản quá ít của tác giả Chu Văn An, nhà nghiên cứu
mộng của Nam Ông. Hồ Nguyên Trừng viết về Chu Văn An với nhan đề: Văn
Trinh ngạnh trực (Khí cốt cứng cỏi và cương trực của Văn Trinh). Chính
nhan đề trong sáng tác này đã cho thấy khá rõ cách nhìn, sự ngưỡng mộ của
Hồ Nguyên Trừng về nhân vật Chu Văn An [11, tr.695 – 696].
Nhà bác học Phan Huy Chú sống cách chúng ta gần một thế kỉ từng nhận
xét về Chu Văn An: “…học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, được thời
ấy suy tôn, thời sau ngưỡng mộ, tìm trong nhà Nho nước Việt ta, từ trước đến
nay chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được” [Theo 12, tr.44].
Trong phần “Văn tịch chí”, Phan Huy Chú có mấy lời ngắn gọn, khái
quát phong cách thơ Chu Văn An: “Lời thơ rất trong sáng u nhàn” [3, tr.424].
Nguyễn Huệ Chi, trong bài viết “Chu Văn An ngạnh trực”, có những
nhận xét khái quát về sáng tác thơ chữ Hán của tác giả. Nhà nghiên cứu viết:
“Mười hai bài thơ còn lại của Chu Văn An không đủ để nhận diện một Chu
An nhà thơ, tuy nhiên cũng góp phần soi vào một thế giới khác trong tâm hồn
còn chứa nhiều bí ẩn của ông […]. Ở đây là một Chu Văn An tìm vui trong lẽ
sống ẩn dật – sự thanh thản của chữ nhàn [2, tr.364].
Ý kiến nhận định của hậu thế về nhân cách cao đẹp của Chu Văn An
khá nhất trí nhưng một số điểm chính trong cuộc đời ông thì ngày nay chúng
ta vẫn không có cách gì để làm sáng tỏ hơn nữa. Ngay số lượng thơ ít ỏi của
ông còn truyền lại có thể bị sai lạc, nhưng cũng chưa thống nhất ở sách này
hay sách khác.
4
Tóm lại, những ý kiến đánh giá, nhận xét về giá trị thơ Chu Văn An
phần nhiều lẻ tẻ, hoặc mang tính khái quát gợi mở, chưa hệ thống, chưa đầy
đủ. Như vậy, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật
những sáng tác của Chu Văn An một cách hệ thống, toàn diện hơn.
3. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu bối cảnh lịch sử xã hội thời vãn Trần.
- Tìm hiểu về cuộc đời nhà thơ, những yếu tố thời đại có ảnh hưởng
đến phong cách, tâm hồn thơ Chu Văn An.
- Khảo sát những sáng tác thơ Chu Văn An trên phương diện Giá trị
nội dung và nghệ thuật.
6. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp chủ yếu
sau:
+ Phương pháp thống kê.
+ Phương pháp hệ thống.
+ Phương pháp so sánh.
Ngoài ra, để hoàn thành tốt khóa luận, người viết còn kết hợp các thao
tác như: phân tích, bình giảng, chứng minh, miêu tả…
7. Đóng góp của khóa luận
- Khóa luận tìm hiểu, phân tích Giá trị nội dung và nghệ thuật thơ Chu
Văn An một cách hệ thống, toàn diện. Từ đó, có cái nhìn sâu sắc hơn về con
người và sự nghiệp của nhà thơ.
- Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn
giảng dạy ở trường phổ thông, giúp người giáo viên Ngữ Văn có kiến thức bổ
trợ khi nghiên cứu, giảng dạy sâu sắc hơn một tác giả văn học trung đại của
dân tộc.
- Bài học giáo dục từ nhân cách Chu Văn An với lớp trẻ hôm nay.
6
8. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội
dung của luận văn được cấu trúc theo ba chương:
Chương 1: Tác giả Chu Văn An
tuổi và tội trạng của những tên nịnh thần có thế lực nhất lúc bấy giờ. Chúng
lại được vua sủng ái. Thất trảm sớ của thầy Chu Văn An nêu rõ tên tuổi 7 tên
quan sau:
8
1. Mai Thọ Đức – hoạn hoan chi hậu cục
2. Trâu Canh – ngự y
3. Bùi Khoan – chính trưởng phụng ngự
4. Văn Hiến Hầu
5. Nguyễn Thanh Lương – hành khiển tả ty lang trung
6. Tâm Đức Ngưu – hành khiển hữu ty, hữu bộc xạ
7. Đoàn Nhữ Cẩu – đồng bình chương sự
Viết về thời Trần Dụ Tông, sử gia bàn như sau: “Thời mà dân thường
bị cướp là thời loạn, còn như thời mà cả Hoàng đế cũng bị cướp thì phải gọi là
đại đại loạn. Nịnh thần lũng đoạn, Chu Văn An dâng Thất trảm sớ mà Dụ
Tông vẫn làm ngơ để Chu Văn An ôm thất vọng ê chề xuống suối vàng. Ôi,
triều đình bất ổn, bảo sơn hà yên làm sao được” [14, tr.67].
Vua như vậy nên quan lại càng hoành hành. “Quan lại nhân đó thả sức
bắt dân xây dựng dinh thự, chùa chiền, nuôi con hát chơi bời. Xuất hiện hang
loạt tên nịnh thần và triều chính bị chúng lũng đoạn” [15, tr.247]. Triều đình
hỗn loạn, quan lại kéo bè cánh, hãm hại, giết hại lẫn nhau. Năm 1369 Dụ
Tông chết, Dương Nhật Lễ là con của một nhà phường hát được Minh Tông
đưa lên ngai vị. Lúc này, ngai vàng nhà Trần, thành của họ Dương. Rồi,
Dương Nhật Lễ cũng bị giết, nhà Trần lấy được ngai vị nhưng từ đó triều
Trần suy vong không thể chống đỡ được tình thế.
Về tình hình đối ngoại, các nước láng giềng như nước Ai Lao, nước
Chiêm Thành nhân đó không thuần phục. Các vua nhà Trần lại đi chinh phạt
họ để lấy lại uy quyền. Vua Duệ Tông phải tử nạn trong đám loạn quân bại
Liệt, huyện Thanh Đàm, nay là huyệnThanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Ngay từ
nhỏ, tuy xuất thân trong gia đình bình thường nhưng Chu Văn An đã được mẹ
lo cho ăn học chu đáo. Vốn có lòng hiếu học, coi việc học làm đầu nhưng
không cầu danh lợi, thú vui lớn nhất của Chu Văn An ngay từ nhỏ là ở nhà
đọc sách. Chu Văn An rất giỏi, “học vấn tinh thuần, tiếng đồn gần xa”. Sách
10
Đại Việt sử ký toàn thư đã nêu: “Khi đỗ Thái học sinh (học vị tiến sĩ thời nhà
Trần), ông không ra làm quan mà mở trường dạy học ở quê nhà, mong mỏi
đào tạo nên những thế hệ học trò có đủ tài đức để đóng góp cho đất nước”.
Cuộc đời và con người Chu Văn An vừa được chính sử ghi chép vừa
được lưu truyền bằng các giai thoại. Chính vì vậy cho đến nay, giới nghiên
cứu vẫn chưa có kết luận thống nhất, chính xác về cuộc đời ông. Năm sinh,
năm mất của ông cũng chỉ là ước đoán theo phương pháp loại trừ hay so sánh
với một số tác giả, một số sự việc đương thời.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Chu Văn An mất ngày 26 tháng 11 năm
Canh Tuất (1370). Thọ 78 tuổi (1292 – 1370). Về năm mất của ông, các tài
liệu xưa nay vẫn dựa theo cuốn chính sử đó.
Ở bài “Chu Văn An cuộc đời và sự nghiệp” trong sách Chu Văn An với
di tích Phượng Hoàng, cho biết: Chu Văn An nguyên có tên là Chu An tự là
Linh Triệt. Sinh tại quê mẹ ngày 25 tháng 8 năm Nhâm Thìn niên hiệu Trùng
Hưng thứ 2 (1292) tại thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Trì (nay thuộc
thành phố Hà Nội). Cha là Chu Công Thiện, mẹ là Lê Thị Chiêm.
Trong bài “Chu Văn An - thầy dạy học và nhà trí thức nổi tiếng đời
Trần” (Danh nhân Hà Nội), ông vũ Tuấn Sán cho biết, bản thân Thần tích ở
Thanh Liệt chép Chu Văn An mất ngày 28/11 năm Canh Tuất, nghĩa là chênh 2
ngày so với Toàn Thư chép. Lý do của ông nêu ra là: “Theo sử, ngày 15/11 âm
lịch năm 1370, Nghệ Tông lên Ngôi vua ở phủ Kiến Hưng (tức huyện Nghĩa
Sư Mạnh. Ngày nay, khu di tích Phượng Hoàng còn tôn thờ người thầy mẫu
mực đó. Mộ của thầy Chu Văn An cũng ở giữa thiên nhiên núi rừng có thông
reo vi vút. Bao lớp học trò vẫn tìm về nơi ấy kính cẩn trước anh linh con
người cao khiết, bản lĩnh thuở xưa.
1.2.2. Sự nghiệp
Cuộc đời và sự nghiệp Chu Văn An là cuộc đời một nhà giáo, một thầy
thuốc, một đại quan nhà Trần trong lịch sử Việt Nam là một danh nhân được
suy tôn là người thầy của muôn đời:
12
Trần vãn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc
Phượng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong.
(Cuối Trần đó là thời nào, ngâm vịnh rong chơi đâu phải thú vui hiền giả.
Non phượng còn dấu nơi ẩn, núi sông mãi mãi ngắm nhìn phong cách triết nhân).
Đó là đôi câu đối mà người đời mãi mãi còn truyền tụng để tỏ lòng mến
phục đối với Chu Văn An – nhà Nho, nhà hiền triết, nhà sư phạm mẫu mực
cuối thời Trần.
1.2.2.1. Sự nghiệp làm quan của Chu Văn An
Chu Văn An là một người có hoài bão lớn lao. Ông xuất thân trong một
gia đình bình thường, nhưng ông đã được mẹ lo cho ăn học chu đáo. Ngay từ
nhỏ ông đã chuyên cần học tập và học rất giỏi. Chu Văn An còn hiếu thảo với
cha mẹ và rất lễ độ với mọi người xung quanh, nghiêm khắc sửa mình, cương
trực thẳng thắn. Chu An từng nói: “Làm người, chữ “Hiếu” là gốc của tất cả
đức hạnh, hiếu thảo với cha mẹ và tôn kính anh em là thuận với đạo đức”.
“Hiếu là cái đức cao nhất mà vua, tôi, kẻ sĩ, thứ dân đều phải đề cao và thi
hành”. Khi trưởng thành, Chu Văn An đạt đến mức thông kinh, bác sử, tài
năng, đức độ hơn hẳn các nho sĩ đương thời. Chu Văn An đã từng đi thi và đỗ
Tiến sĩ. Mặc dù đỗ đạt cao nhưng ông không ra làm quan mà ở nhà đọc sách
trực, phải nói ra sự thật, phải giúp ích cho dân. Làm quan nhỏ mà có ích cho
dân, cho đất nước thì càng đáng quý hơn chức tước lớn nhưng không làm
được gì. Như vậy, chúng ta thấy Chu Văn An là một vị quan liêm khiết,
cương trực và đầy bản lĩnh.
Như thế, quãng đời làm quan ngắn ngủi của Chu Văn An đã không
thuận lợi. Mặc dù vậy, khi ông mất, vua Nghệ Tông được tin liền cho quan
đến dụ tế, đặt tên Thụy là Văn Trinh và cho thờ tại Văn Miếu. Ngoài ra, vua
còn ban tiền làm đền thờ ở 27 xã có học trò của thầy Chu thời ấy. Sau này, tại
nơi thầy làm nhà dạy học và sống những năm tháng thoái triều đã được dựng
14
ngôi đền thờ thầy gọi là đền Phượng Hoàng nay là đền Chu Văn An, thuộc địa
phận phường Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
1.2.2.2. Sự nghiệp trước tác của Chu Văn An
Theo thư tịch cũ thì Chu Văn An viết nhiều sách. Chu Văn An đã để lại
cho đời sau những tác phẩm có giá trị.
Về văn học có hai tập thơ Quốc ngữ thi tập bằng chữ Nôm và Tiều Ẩn
thi tập bằng chữ Hán. Thất trảm sớ dâng lên vua là một văn kiện để đời.
Ông còn viết một cuốn sách biện luận giản ước về Tứ thư nhan đề Tứ thư
thuyết ước.
Theo một tài liệu nghiên cứu gần đây thì Chu Văn An còn là một nhà
đông y đã biên soạn quyển Y học yếu giải tập Chu di biên gồm những lý luận
cơ bản về chữa trị bệnh bằng đông y.
Như vậy, theo thư tịch xưa, Chu Văn An đã viết ở nhiều lĩnh vực khác
nhau như: Y học, Nho học, Văn chương… nay phần lớn đã bị thất lạc. Người
ta chỉ thấy 12 bài thơ chữ Hán và tập Y học yểu giải của ông.
1.2.2.3. Sự nghiệp làm thầy của Chu Văn An
Cả một đời, Chu Văn An chỉ mong đào tạo được những người tài đức,
Chu thường nói với các học trò rằng: “Ta chỉ dạy cho các học trò làm người
chứ không dạy cho các trò làm quan”. Tính nghiêm nghị, tư cách thanh cao
và học vấn uyên bác của thầy được gần xa ngợi ca và trở thành huyền thoại
nên cả vua Thủy tề cũng cho con trai mình hóa thân người phàm đến học.
Thầy Chu Văn An đã xem vấn đề giáo dục là cốt lõi để đào tạo nhân tài
cho đất nước. Trường Huỳnh Cung đã đào tạo lên rất nhiều trò giỏi. Khoa thi
năm 1314, dưới thời vua Trần Minh Tông, trường có hai học trò đỗ Thái học
sinh là Lê Quát và Phạm Sư Mạnh. Cả hai đều làm quan dưới triều Trần (Lê
Quát được thăng lên chức Thượng Thư).
Một trong những nguyên tắc cốt yếu để cảm hóa học trò của thầy Chu
Văn An chính là: Muốn dạy bảo trò tốt thì thầy phải nghiêm, phải luôn là tấm
16
gương đạo đức cho học trò. Những môn sinh do thầy Chu Văn An đào tạo, dù
làm quan to hay vinh hiển đến mức độ nào cũng luôn dành cho thầy một sự
tôn kính và lễ độ. Sách Đại Việt sử ký toàn thư đã chép lại việc các đại quan
trong triều là học trò của thầy vẫn giữ lễ, khi đến thăm thầy thì lạy, được tiếp
chuyện với thầy thì lấy làm vui mừng. Suốt cuộc đời, thầy Chu Văn An luôn
là người thầy giáo lỗi lạc, ông xứng đáng là bậc “Vạn thế sư biểu”, như cách
gọi của các sử gia Việt Nam.
Lịch sử dân tộc tôn vinh Chu Văn An là nhà nho có đức nghiệp lớn
nhất. Sử thần Ngô Sĩ Liên có lời bàn: “Văn Trinh Công thờ vua thì nói thẳng
trước mặt; việc xuất hay xử đều có lí lẽ, rèn đúc nhân tài thành cônh khanh;
cao thượng, tiết tháo, thiên tử cũng không bắt nổi làm tôi, nét mặt nghiêm
nghị mà đạo làm thầy được tôn; lời nói lẫm liệt mà kẻ nịnh phải sợ. Đáng là
bậc tôn sư của nhà nho nước Nam ta”.
Trong cuộc đời làm thầy, Chu Văn An có vinh dự lớn là thầy dạy của
hai vị vua. Làm thầy dạy cho Thái tử - người kế vị ngai vàng, Chu Văn An
ham chơi bời, rượu chè, suốt ngày cờ bạc trong cung thất, mở tiệc bắt các
quan thi nhau uống rượu…
Chu Văn An làm thầy dạy cho xã hội ông thành công, nhưng làm thầy
của vua ông thất bại. Bởi vì, vua ham chơi không chịu học hành. Theo sử sách
Dụ Tông không chịu học, lúc cáo ốm, lúc chơi. Cho nên, khi dạy thầy Chu
Văn An thất bại. Dụ Tông chỉ mải chơi không lo học hành điều này khiến Chu
Văn An rất buồn.
Sinh thời Chu Văn An luôn luôn được dân chúng ngợi ca về phẩm chất
thanh cao tuyệt vời của ông. Chu Văn An được tôn là Vạn thế sư biểu - người
thầy của muôn đời. Chính vì vậy ông được tôn thờ trong Văn Miếu.
Trần Nguyên Đán đánh giá về những đóng góp của ông, nhận xét như
sau: Nhờ có ông mà “bể học xoay làn sóng, phong tục trở lại thuần hậu”.
Nhà sử học Ngô Sĩ Liên đời Lê Thánh Tông đã phải khen: “… Những
nhà Nho ở nước Việt ta được dùng ở đời không phải không nhiều, có kể chỉ
18
nghĩ đến công danh, kẻ thì chuyên lo về phú quý, kẻ lại a dua với đời, có kẻ
chỉ biết ăn lộc giữ thân. Người chịu để tâm đến đại đức, suy nghĩ đến việc
giúp Vua nêu đức tốt cho dân được nhờ ơn, Chu Văn An ở đời Trần có lẽ gần
được như thế…”.
Người dân vùng quê Thanh Đàm thờ ông làm Thành hoàng và gọi là
đức Thánh Chu. Việt Nam có những thánh võ như Thánh Trần, Thánh Gióng,
thì cũng phải có cả Thánh văn. Thánh văn là nhà giáo, là thầy Chu Văn An.
Những di tích có liên quan đến ông đều gắn với uy danh người thầy giáo: Đền
Thanh Liệt, Đền Huỳnh Cung, Đền Văn Điển, Đền Phượng Sơn, Linh Đàm…
Vị trí của ông trong lịch sử giáo dục Việt Nam hoàn toàn được khẳng định.
Tấm gương người Thầy thanh cao, mẫu mực chở bao thế hệ qua sông
làm giàu có nền văn hiến của một dân tộc, đáng được tôn vinh đến muôn đời.
Viết về thiên nhiên, Chu Văn An đã tập trung miêu tả cảnh vật thông
qua các hình tượng như: cỏ, cây, hoa, lá, núi, sông, trăng…
Theo giới nghiên cứu và thực tế sáng tác, có thể thấy, 12 bài thơ có thể
được Chu Văn An viết trong thời gian ông ở ẩn tại Chí Linh với biệt danh
Tiều Ẩn. Chính ở nơi đây Chu Văn An đã có dịp để hưởng cuộc sống nơi núi
rừng hùng vĩ, với những vẻ đẹp của thiên nhiên mà tạo hóa đã ban tặng cho
mảnh đất này. Cũng chính tại nơi đây, những bài thơ ông sáng tác phần nào
đã nói hộ ông những tâm tư tình cảm sâu kín của bản thân trước cảnh đất
nước rối ren.
2.1.1. Thiên nhiên trong thơ Chu Văn An là khách thể thẩm mỹ
Nhà thơ đã miêu tả cảnh vật với vẻ đẹp của chính nó, đang hiện hữu.
Đó là vẻ đẹp của núi non, sông nước, cỏ cây, hoa lá, vẻ đẹp của thiên nhiên
mùa xuân, mùa hạ, của buổi chiều của ban đêm…
Trong thơ ông, ta thấy cảnh núi non hùng vĩ đã xuất hiện khá nhiều.
Mỗi lần xuất hiện lại mang các sắc thái khác nhau.
20