TRƯỜNG ĐẠI HỌC su' PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUY ÊN THỊ NGA
GIÁ TRỊ• NỘI
• DUNG VÀ NGHỆ• THUẬT
•
THƠ CHU VĂN AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
•
•
C huyên ngành: V ăn học V iệt Nam
Ngưòi hướng dẫn khoa học
TS. N G UY ỄN THỊ NHÀN
HÀ NỘI - 2015
LỜ I CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình và chu đảo của TS. Nguyên Thị Nhàn và cấc thầy cô trong tô vãn
8. Cấu trúc của khóa luận................................................................................... 7
NỘI DUNG............................................................................................................ 8
CHƯƠNG 1. TÁC GIẢ CHƯ VĂN A N ............................................................. 8
1.1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội thời vãn Trần..................................................... 8
1.2. Tác giả Chu Văn An...................................................................................10
7.2.7. Cuộc đời............................................................................................... 10
1.2.2. Sự nghiệp............................................................................................. 12
1.2.2.1. Sự nghiệp làm quan của Chu Văn A n .........................................13
1.2.2.2. Sự nghiệp trước tác của Chu Văn A n..........................................15
1.2.2.3. Sự nghiệp làm thầy của Chu Văn A n...........................................15
CHƯƠNG 2. GIÁ TRỊ NỘI DƯNG THƠ CHƯ VĂN AN..............................20
2.1. Đề tài về thiên nhiên................................................................................. 20
2.1.1. Thiên nhiên trong thơ Chu Văn An ỉà khách thế thấm m ỹ ..............20
2.7.2. Thiên nhiên trong thơ Chu Vãn An còn giúp tác giả gửi gắm tâm
trạng “cải tôi ” nhà thơ................................................................................. 30
2.2. Đe tài về đời sống nhà thơ nơi ấn d ậ t......................................................33
2.2.1. Tâm hôn nhà thơ giao hòa cùng thiên nhiên, cảnh vậ t................... 33
2.2.2. Những khoảnh khắc quên tục lụy mi p h iề n ...................................... 34
2.2.3. Một tâm sự về nôi niêm thê cuộc....................................................... 36
CHƯƠNG 3. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT THƠ CHƯ VĂN AN ........................40
3.1. Thế thơ và cấu trúc bài th ơ .......................................................................40
3.1.1. Thể th ơ ................................................................................................. 40
3.1.2. Cấu trúc bài thơ................................................................................... 41
3.2. Hình ảnh thơ............................................................................................... 44
3.2.1. Hình ảnh con người............................................................................ 45
3.2.2. Hình ảnh thiên nhiên cảnh vật........................................................... 47
3.3. Ngôn ngữ th ơ ............................................................................................. 51
KẾT LUẬN...........................................................................................................55
hóa dân tộc, xúng đáng được tìm hiếu sâu sắc hon về con người và sự nghiệp.
Đó là sự nghiệp của một nhà giáo mẫu mực của muôn đòi, là tấm gương sáng
cho hậu thế noi theo.
1.3 Bên cạnh nhũng công trình nghiên cún về cuộc đời và sự nghiệp
Chu Văn An, việc sưu tầm và nghiên cún các bài thơ còn lại của ông cũng
được quan tâm. Tuy nhiên sự quan tâm ấy phần nhiều là giới thiệu văn bản.
Giá trị nội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán Chu Văn An chưa được đề cập hệ
1
thống, toàn diện. Đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu nào khám phá mảng
thơ ca này của thi nhân. Đó là lý do khích lệ tác giả luận văn lựa chọn đề tài
Giá trị nội dung và nghệ thuật thơ Chu Văn Án. Qua luận văn giúp chúng ta có
cái nhìn toàn diện hon về con người, sự nghiệp sáng tác của Chu Văn An đồng
thời khẳng định vị trí, vai trò, đóng góp của tác giả với nền văn học dân tộc.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Văn bản thơ Chu Văn An
Sáng tác của Chu Văn An còn lại số lượng không nhiều. Mặc dù theo
một số thư tịch cũ, ông sáng tác hai tập thơ chữ Hán và chữ Nôm là Tiều Ẩn
thi tập và Quốc ngữ thi tập, nhưng đã bị thất lạc, hiện chỉ còn một số bài thơ
chữ Hán được các học giả đời sau sưu tập để lại.
Cuốn sách sớm nhất lun giữ các bài thơ của ông là Việt âm thi tập,
trong đó Phan Phu Tiên ghi lại được 12 bài thơ, gồm hai bài ngũ ngôn (1 bài
thuộc cổ thể), 4 bài thất ngôn tứ tuyệt, 6 bài thất ngôn bát cú. Đó là các bài:
1. Nguyệt tịch bộ Tiên Du sơn tùng kính
2. Đe Dương Công Thủy Hoa đình
3. Linh Sơn tạp hứng
4. Thôn Nam Sơn tiêu khê
5. Cung họa ngự chế động chirơng
Như vậy, qua các tài liệu cũng như các ý kiến nhận định về Chu Văn
An, chúng ta thấy được số lượng tác phẩm của ông hiện còn lại rất ít. Chúng
ta chỉ biết đến sự nghiệp của ông qua 12 bài thơ chữ Hán. Đe tìm hiếu và
đánh giá về cuộc đời cũng như sự nghiệp của Chu Văn An qua tư liệu ít ỏi
vậy cũng là một khó khăn của tác giả luận văn.
2.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lâu nay, nghiên cứu về Chu Văn An, người đời biết đến ông với tư
cách là danh nhân văn hóa, tư cách là người thầy - “vạn thế sư biếu” nhiều
hơn là một nhà thơ.
3
Tuy vậy, khi nghiên cứu về con người, cuộc đời, sự nghiệp Chu Văn
An lại thường liên quan đến thơ văn của tác giả này.
Qua sự tìm hiểu hạn hẹp, trong phần lịch sử vấn đề này chúng tôi xin
nêu ra một số tiểu luận, ý kiến của một số tác giả có liên quan đến đề tài:
Tác giả Hồ Nguyên Trừng trong Nam ông mộng lục đã ghi lại giấc
mộng của Nam Ông. Hồ Nguyên Trừng viết về Chu Văn An với nhan đề: Văn
Trinh ngạnh trực (Khí cốt címg cỏi và cương trực của Văn Trinh). Chính
nhan đề trong sáng tác này đã cho thấy khá rõ cách nhìn, sự ngưỡng mộ của
Hồ Nguyên Trừng về nhân vật Chu Văn An [11, tr.695 - 696].
Nhà bác học Phan Huy Chú sống cách chúng ta gần một thế kỉ từng nhận
xét về Chu Văn An: “...học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, được thời
ấy suy tôn, thời sau ngưỡng mộ, tìm trong nhà Nho nước Việt ta, từ trước đến
nay chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được” [Theo 12, tr.44].
Trong phần “Văn tịch chí”, Phan Huy Chú có mấy lời ngắn gọn, khái
quát phong cách thơ Chu Văn An: “Lời thơ rất trong sáng u nhàn” [3, tr.424].
Nguyễn Huệ Chi, trong bài viết “Chu Văn An ngạnh trực”, có những
nhận xét khái quát về sáng tác thơ chữ Hán của tác giả. Nhà nghiên cứu viết:
đường thông ở núi Tiên Du).
2. Đe Dương Công Thủy Hoa đình (Đe đình thủy hoa của Dương
Công).
3. Linh Sơn tạp hứng (Tạp hứng ở Linh Sơn).
4. Thôn Nam Sơn tiêu khệ (Tạm nghỉ ở núi thôn Nam).
5. Cung họa ngự chế động chương (Kính họa thơ vua).
6. Thanh Lương giang (Sông Thanh Lương).
7. Thứ vận tặng Thủy Vân đạo nhân (Họa vân tặng Thủy Vân đạo nhân)
8. Xuân đán (Sáng mùa xuân).
9. Miết trì (Miết trì).
10. Giang đình tác (Làm thơ ở Giang Đình).
11. Sơ hạ (Đầu mùa hè).
12. Vọng Thải lăng (Trông về Thải lảng).
5
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tìm hiêu, nhận diện Giá trị nội dung và nghệ thuật thơ Chu
Vãn An qua những sáng tác được khảo sát.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiếu bối cảnh lịch sử xã hội thời vãn Trần.
- Tìm hiểu về cuộc đời nhà thơ, những yếu tố thời đại có ảnh hưởng
đến phong cách, tâm hồn thơ Chu Văn An.
- Khảo sát những sáng tác thơ Chu Văn An trên phương diện Giá trị
nội dung và nghệ thuật.
6. Phương pháp nghiên cứu
NỘI DƯNG
CHƯƠNG 1. TAC g i ả c h u
văn an
1.1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội thời vãn Trần
Chu Văn An (?- 1370) sống vào nhũng năm nửa cuối thế kỉ XIV. Sử
thường gọi đó là thời vãn Trần. Thời đại Chu Văn An sống là thời đại triều
đình quá độ trong bước từ thịnh đến suy của vương triều nhà Trần, một thời
đại “bể dâu”, nhiều biến động để lại dấu ấn trong lịch sử. Lúc này, triều chính
rối ren, nhiễu loạn. Người đứng đầu triều đình là vua nhu nhược như Trần
Nghệ Tông, có ông vua lại ăn chơi phá phách như Trần Dụ Tông. Bọn gian
thần thừa cơ khuynh loát triều đình, khiến trăm họ lầm than điêu đứng.
Xã hội Đại Việt cuối thế kỉ XIV thời ấy, giai cấp quý tộc củng cố địa vị
thống trị. Họ tăng thêm số lượng nông nô, nô tỳ, mở rộng thêm nhiều điền
trang thái ấp lớn.
Hãy dừng lại đôi chút đế quay về quá khứ, để nhìn vào bức tranh xã hội
nhà Trần những năm cuối thế kỉ XIV. Sử sách nói nhiều nhất đến cái tên Trần
Dụ Tông. Đấy là ông vua nhà Trần cầm quyền từ năm 1341 đến năm 1369.
Vua Dụ Tông nối danh bởi ăn chơi sa đọa: “Có lần Dụ Tông đi chơi
đêm ở xa đến canh ba mới trở về bị kẻ cướp chặn đường lấy mất cả gươm báu
lẫn ấn báu. Nhà vua cho đó là sự chang lành, khó mà sống lâu hơn nữa nên lại
càng thả sức chơi bời...” [14, tr67]. Lúc này, Quốc tử giám tư nghiệp Chu
Văn An đã khẳng khái viết sớ lên cho Dụ Tông, nêu đích danh 7 tên nịnh thần
phải đáng trị tội chém đầu đế chấn hưng đất nước. Việc dâng sớ của Chu Văn
An làm chấn động dư luận đương thời. Đó là một việc làm động trời mà
không phải nhà Nho nào cũng dám làm. Bởi vì ông đã nêu ra đích danh tên
tuồi và tội trạng của những tên nịnh thần có thế lực nhất lúc bấy giờ. Chúng
lại được vua sủng ái. Thất trảm sớ của thầy Chu Văn An nêu rõ tên tuối 7 tên
quan sau:
kém, do chiến tranh xảy ra liên miên. Người dân còn phải chịu nhiều tầng áp
9
bức, xã hội rối ren, nhiễu loạn. Nhà nước không quan tâm đến sản xuất của
nhân dân, thiên tai phá hoại đê điều, thủy lợi. Nửa cuối thế kỉ XIV có 9 lần vỡ
đê, lụt lớn, có nhũng năm vừa hạn hán vừa lũ lụt. Người dân còn khô cực do
bị bọn địa chủ, quý tộc bóc lột. Họ khố cực do chiến tranh xảy ra, xã hội rối
ren, loạn lạc càng rối ren loạn lạc. Đó là các năm 1348, năm 1355, năm 1393.
Chỉ tính trong khoảng từ đầu thế kỉ XIV đến năm 1379 có 10 nạn đói lớn.
Ngân khố nhà nước trống rỗng.
Nguyên nhân trên, đã dẫn đến các cuộc khởi nghĩa của nông dân và nô
tỳ nố ra. Tiêu biểu phải kể đến các cuộc khởi nghĩa sau: Năm 1343, nhân dân
khắp nơi nổi dậy khởi nghĩa, năm 1344 khởi nghĩa Ngô Bệ ở Hải Dương, năm
1354 khởi nghĩa của Tề ở Hải Dương, năm 1379 nổ ra cuộc khởi nghĩa của
Nguyễn Thang ở Thanh Hóa, năm 1399 nố ra cuộc khởi nghĩa của Nguyễn
Nhữ Cái ở Son Tây.
Như vậy, nhìn vào hoàn cảnh lịch sử nước nhà thời bấy giờ, chúng ta
có thế thấy Chu Văn An đã sống trọn trong khoảng thời gian cuối thế kỉ XIV.
Việc ông trực tiếp sống và chứng kiến cảnh nhà Trần đang trên đường đi
xuống đã có ảnh hưởng lớn đến tâm sự, cảm hứng và sự nghiệp sáng tác văn
học của ông.
1.2.Tác giả Chu Văn An.
1.2.1. Cuộc đời
Chu Văn An (?- 1370) hiệu là Tiều Ẩn tên chữ là Linh Triệt, tên thụy
là Văn Trinh, sinh năm nào chưa rõ. Ông người làng Văn Thôn, xã Quang
Liệt, huyện Thanh Đàm, nay là huyệnThanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Ngay từ
nhỏ, tuy xuất thân trong gia đình bình thường nhưng Chu Văn An đã được mẹ
lo cho ăn học chu đáo. vốn có lòng hiếu học, coi việc học làm đầu nhung
Song, theo giả thiết của Trần Lê Sáng, thì Chu Văn An sinh năml292
mất 1370, sinh tại xóm Văn, làng Quang (xưa gọi là làng Voi), huyện Thanh
Đàm, nay là làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Gia đình
11
ông nghèo, thân phụ ông tên là gì, người ở đâu, hiện nay chưa biết. Mẹ ông là
bà Lê Thị Chiêm chính gốc làng Quang.
Trong cuốn Những nghĩ suy từ văn học trung đại [12, tr.44] của nhà
nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh, bà cũng bỏ trống phần năm sinh của ông.
Hay trong cuốn Thơ vãn Lý Trần [13, tr.52] cũng bỏ trống phần năm
sinh của ông và chỉ cho biết ông mất năm 1370.
Căn cứ vào các tài liệu và những sáng tác của Chu Văn An, có thể nhận
thấy, ông sống ở cuối thời Trần. Đó là một giai đoạn lịch sử có nhiều biến
động.
Chu Văn An mất năm Thiệu Khánh thứ nhất đời Trần Nghệ Tông
(1370), được vua làm lễ tế và đặt tên thụy là Văn Trinh.
Tóm lại, cuộc đời Chu Văn An khá gắn bó với các sáng tác của mình.
Thơ ông là đòi, là cá tính, lá số phận của ông. Ông là con người của một thời
đại rối ren, nhiễu loạn. Ớ đó có sự tàn phai thật nhiều của hào quang quân chủ
nhà Trần. Ông xuất thân trong một gia đình nghèo, nhưng bản thân Chu Văn
An là một người thông minh, có cá tính, nghị lực nhưng ông không gặp được
minh quân. Mặc dù vậy, ông vẫn luôn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, thể
hiện một Chu Văn An bản lĩnh cứng cỏi, mạnh mẽ.
về cuối đời, Nhà giáo Chu Văn An đã dồn tâm lực đào tạo các học trò.
Nhiều danh sĩ tài danh sau này xuất môn nơi Chu Văn An như Lê Quát, Phạm
Sư Mạnh. Ngày nay, khu di tích Phượng Hoàng còn tôn thò’ người thầy mẫu
mực đó. Mộ của thầy Chu Văn An cũng ở giữa thiên nhiên núi rùng có thông
Tiến sĩ. Mặc dù đỗ đạt cao nhưng ông không ra làm quan mà ở nhà đọc sách
và dạy học ở quê nhà. Sự nghiệp làm quan của Chu Văn An bắt đầu khi vua
Minh Tông mời ông ra kinh đô nhận chức Tư Nghiệp Quốc tử dám, dạy dỗ
các Thái tử và phò giúp nhà vua khi triều đình rối ren.
Chu Văn An còn là một nhân cách củng cỏi, là một con người cương
trực, bản lĩnh. Điều này thể hiện rõ trong những ngày ông ở triều đình. Bằng
chứng chính là sự kiện ông dâng Thất trảm sớ. Dưới thời Trần Dụ Tông trị vì
từ 1341 đến 1369. Vua Trần Dụ Tông lơ là, bỏ bê việc triều chính, Việt Nam
sử lược có chép về vua Dụ Tông: “suốt ngày lo rượu chè, chơi bời, xây cung
điện, đào hồ, đắp núi, rồi lại cho người giàu vào cung đánh bạc”.
13
Giữa buối loạn lạc ấy, Thất trảm sớ đã trở thành sự kiện chấn động cả
Đại Việt mà không phải nhà nho nào cũng dám làm, vì lúc bấy giờ chỉ có
những bậc đại quan mới có quyền can gián vua. Chu Văn An đã nêu đích
danh tên tuổi và tội trạng của những tên nịnh thần có thế lực nhất lúc bấy giờ
và bọn chúng lại được vua yêu quỹ.
Chu Văn An còn là một người bất đắc chí, sớ dâng nhưng vua không
chấp thuận, Chu Văn An đã treo mũ tại cửa Huyền Vũ và tìm về núi Phượng
Hoàng - Chí Linh ở ẩn. Không còn ai thúc ép, Dụ Tông càng đi sâu vào con
đường sa đọa, cơ đồ nhà Trần dần suy sụp. Vua tin dùng bọn quan lại chuyên
đục khoét, bòn rút của dân lành. Chúng đã đặt ra vô vàn các loại tô thuế vô lý,
đắp đê, xây hào, xây cất cung điện làm chết hàng vạn người. Giờ đây cung
điện đã trở thành nơi vui chơi của vua quan. Lúc này, quân đội của triều đình
trở nên nhút nhát, biên cương dường như bỏ trống khiến vua nước Chiêm
Thành nhỏ bé phía nam là Chế Bồng Nga đã hai lần mang quân vào tận kinh
thành Thăng Long đốt phá, cướp của hoành hành như vào chỗ không người.
Thất trảm sớ của Chu Văn An cho thấy việc làm của thầy Chu đã nói
Cả một đời, Chu Văn An chỉ mong đào tạo được những người tài đức,
cống hiến cho đất nước. Trong sự nghiệp làm thầy, Chu Văn An vừa là bậc
thầy của xã hội, vừa là thầy dạy vua và là người thầy của muôn đời.
Trước hết, Chu Vãn An là người thầy của xã hội. Nơi khởi đầu sự
nghiệp dạy học của Chu Văn An, là ở làng Huỳnh Cung giáp với làng Quang
quê mẹ. Tuy là trường ở làng quê nhưng cũng có thư viện, thầy Chu dạy học
trò từ bậc vỡ lòng, tiểu học, trung học và đại học, tùy theo mỗi bậc mà thầy có
cách dạy khác nhau. Tài liệu cơ bản vẫn là những sách kinh điển của Nho gia:
Tứ thư, Ngũ Kinh.
Chu Văn An một lòng tin vào giáo lỷ đạo Nho của Khổng Tử, song
cũng là người tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo. Ông đã soạn Tứ thư thuyết ước
15
gồm 10 quyển. Đây là cuốn sách biện luận giản ước về Tứ thư, sách kinh điển
của đạo Nho: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử, đế làm tài liệu
giảng dạy. Sách này đến nay không còn. Với tấm lòng trong sáng của một nhà
nho chân chính, Chu Văn An cho rằng: Đất nước thanh bình và thịnh trị điều
cơ bản là phải có minh quân; muốn trở thành minh quân thì phải có học vấn;
mà phải học theo đạo Nho để có đạo đức và hiêu biết trị quốc, bình thiên hạ.
Ông được giới sĩ phu đương thời ngưỡng mộ.
Nghe danh thầy Chu tài năng và đức độ, học trò khắp nơi tìm về trường
Huỳnh Cung theo học rất đông. Thầy Chu rất nghiêm khắc trong việc dạy bảo
môn sinh, ngoài việc giảng dạy về kiến thức, thầy còn chú trọng rèn luyện học
trò về đạo lý sống, nhân cách làm người và hơn cả là giúp môn sinh thấy được
trách nhiệm của mình với dân, với nước.
về phương pháp dạy học của thầy Chu, ông có một phong cách dạy đặc
biệt hấp dẫn, khiến cho mọi người đều phải kính nể và tôn phục.
Trong cuộc đời làm thầy, Chu Vãn An có vinh dự lón là thây dạy của
hai vị vua. Làm thầy dạy cho Thái tử - người kế vị ngai vàng, Chu Văn An
thấy rõ trọng trách của mình, ông đã đem tinh hoa tích lũy được từ mấy chục
năm trong đời cùng học vấn thông tuệ và nhân cách cao đẹp đế truyền dạy
cho Thái tử. Thượng hoàng Trần Minh Tông rất coi trọng Chu Văn An. Nhà
vua còn hay hỏi ông việc chính sự. Chu Văn An lấy nghĩa trả ơn vua, đem hết
tâm lực dạy Thái tử học tập.
Người học trò đầu tiên trong cung thất của Chu Văn An là Thái tử Trần
Vượng (tức là Trần Hiến Tông), con vua Trần Minh Tông. Hiến Tông học giỏi,
lại biết kính thầy, song vì còn nhỏ tuổi đã bị bọn quan lại gian thần lôi kéo.
Trần Hiên Tông là một vị vua “tư tròi tinh anh sáng suốt, vận nước thái bình,
nhưng hưỏng thọ không dài” của thời Trần. Trong cái tinh anh sáng suốt đó,
không thể thiếu sự dạy dỗ của thầy Chu Văn An. Chỉ tiếc rằng người học trò đó
chỉ trị vì được 12 năm, đến năm 1341 đã rời ngôi báu, tạ thế khi mới 23 tuổi.
17
Người học trò thứ hai là Trần Hạo (tức là Trần Dụ Tông sau này), là
người con trai thứ mười của vua Trần Minh Tông, lúc đó mới 6 tuổi lên ngôi.
Những năm đầu trị vì do có thượng hoàng và thầy Chu rèn cặp nên chính sự
tốt đẹp. Năm 1357, thượng hoàng Minh Tông qua đời, không còn người điều
khiển chính sự, không còn áp lực từ phía vua Minh Tông. Nhân khi nắm
quyền lực trong tay, Dụ Tông thỏa sức thể hiện cái độc lập của người đứng
đầu nhà nước. Ông vua trẻ tuổi ngày càng mải mê chơi bời, nghe theo bọn
gian thần ăn chơi sa đọa, bỏ quên việc học hành và triều chính của mình.
Thầy Chu vẫn gạn chắt những lời vàng, ý ngọc trong kinh sử đế dạy vua, thầy
đặt vào lòng tay Dụ Tông những viên ngọc quỷ nhưng vua đế tuột mất.
Những lời tâu bày thẳng thắn, cương trục của thầy Chu không lay chuyển
được lối sống sa đọa của nhà vua nhung lại khiến không ít kẻ gian thần ghen
Người dân vùng quê Thanh Đàm thờ ông làm Thành hoàng và gọi là
đức Thánh Chu. Việt Nam có nhũng thánh võ như Thánh Trần, Thánh Gióng,
thì cũng phải có cả Thánh văn. Thánh văn là nhà giáo, là thầy Chu Văn An.
Những di tích có liên quan đến ông đều gắn với uy danh người thầy giáo: Đen
Thanh Liệt, Đen Huỳnh Cung, Đen Văn Điển, Đen Phượng Sơn, Linh Đàm...
Vị trí của ông trong lịch sử giáo dục Việt Nam hoàn toàn được khẳng định.
Tấm gương người Thầy thanh cao, mẫu mực chở bao thế hệ qua sông
làm giàu có nền văn hiến của một dân tộc, đáng được tôn vinh đến muôn đời.
Sự liêm khiết, chính trực và công tâm của thầy giáo Chu Văn An cũng nhắc
nhở những thế hệ nhà giáo luôn vì sự tiến bộ của giáo dục, sự nâng cao dân trí
mà không ngừng phấn đấu đế làm phong phú và dồi dào nguồn nguyên khí
quốc gia. Không phải chỉ 6 thế kỉ qua, mà hàng thiên nhiên kỷ sau có lẽ người
ta vẫn không thôi nhớ đến vị Thánh văn suốt đời chở đạo này bởi những công
lao và tiếng thơm về ông đã khắc sâu trong tâm tưởng mỗi con dân Việt từ
thủa ấu thơ. Tên tuôi của thầy Chu Văn An đã đi vào lịch sử, giáo dục Việt
Nam như một bậc danh sư, hậu thế luôn nhắc đến ông bằng niềm tôn kính và
sự trìu mến thân thuộc qua tên trường, tên phố phường, tên địa danh lịch sử.
Tiểu kết chương 1
Xã hội vãn Trần chứng kiến sự suy sụp của một trong các triều đại
lừng danh trong lịch sử. Là nhân chứng của thời đại đó, Chu Văn An trải
nghiệm những bi kịch thời đại, bi kịch của kẻ sĩ chân chính. Làm quan bất đắc
chí, làm thầy tận tâm nhưng cũng chưa trọn hoài bão lớn lao, Chu Văn An
chọn con đường từ quan. Chu Văn An là một nhân cách vĩ đại thế kỉ XIV.
19
CHƯƠNG 2. GIÁ TRỊ NỘI DƯNG THƠ CHU VĂN AN
Những sáng tác còn lại của Chu Văn An, phần nào đã tái hiện chân
dung nhà thơ. Ớ đó, ta có thể thấy một Chu Văn An tự do tự tại giữa thiên