NGHIÊN cứu về một số BIỆN PHÁP KỸTHUẬT CHĂM sóc mía gốc BAN đầu CHO cây mía ở ĐÔNG NAM bộ - Pdf 31

NGHIÊN CỨU VỀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CHĂM SÓC MÍA
GỐC BAN ĐẦU CHO CÂY MÍA Ở ĐÔNG NAM BỘ
TS. Đỗ Ngọc Diệp, ThS. Lê Văn Sự, ThS. Phạm Văn Tùng
Viện Nghiên cứu Mía Đường Bến Cát

ĐẶT VẤN ĐỀ
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng mía được trồng trên những vùng đất
bán khô hạn Việt Nam nói chung và miền Đông Nam bộ nói riêng, trong nhiều năm
qua cho năng suất thu hoạch khá thấp, chưa khai thác hết tiềm năng năng suất của các
giống mía. Một trong những nguyên nhân hạn chế chủ yếu là trong các tháng mùa khô,
cây mía bị thiếu hụt nước trầm trọng.
Mía vụ gốc chiếm hơn 70% diện tích canh tác mía. Trong khi đó, nguồn ngọn,
lá mía hầu như không được sử dụng lại mà hoàn toàn bị đốt bỏ sau khi thu hoạch mía
vụ trước. Biện pháp này không những làm mất đi một lượng hữu cơ đáng kể bồi dưỡng
độ phì đất, mà còn góp phần làm cho canh tác mía ở những vùng khô hạn trở nên thiếu
tính bền vững.
Vùi, tủ ngọn, lá mía là biện pháp kỹ thuật được áp dụng rộng rãi ở các vùng
trồng mía trên thế giới. So với đốt lá, tủ lá làm tăng năng suất mía trung bình 5 - 10
tấn/ha. Đối với những vùng có điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt, nguồn nước tưới
khan hiếm, ruộng mía được tủ lá, chu kỳ tưới có thể được kéo dài đến 15 - 20 ngày so
với 8 - 10 ngày ở ruộng không tủ lá (Mohan Naidu và Arulraj, 1987). Ngoài ra, ngọn
lá mía khô có chứa 1,0 - 1,5% N; 0,005 - 0,02% P2O5 và 1,5 - 1,8% K2O cũng là
nguồn cung cấp dinh dưỡng cho mía (Singh, 1987). Vùi lá kết hợp với các biện pháp
canh tác tối thiểu, giá thành sản xuất mía thấp hơn so với hệ thống canh tác thông
thường (Smith và cộng sự, 1985). Điều này đã mở ra một hướng chiến lược mới trong
việc quản lý và sử dụng nguồn ngọn, lá mía sau thu hoạch vụ mía trước. Việc sử dụng
hợp lý nguồn ngọn, lá mía sau thu hoạch vụ mía trước đang trở nên hết sức cấp thiết,
nhất là những vùng mía canh tác hoàn toàn nhờ nước trời. Tuy nhiên, diện tích mía
hàng năm ở nước ta phân bố chủ yếu ở những vùng bán khô hạn (trên 75% diện tích
trồng mía cả nước) hiện thời đang được canh tác manh mún, diện tích lô thửa nhỏ lẻ,
địa hình phức tạp, dốc nhiều chiều, nguy cơ cháy lan trong mùa khô là rất lớn. Giải

kinh tế. Số liệu phân tích bằng phần mền thống kê chuyên dụng: Excel, Stagraphics
7.0.
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1. Kết quả phân tích đất
Kết quả phân tích đất trước và sau khi bố trí khảo nghiệm cho thấy, không có sự
khác biệt đáng kể. Nhìn chung, đất xám bạc màu trên nền phù sa cổ Haplic Acrisols là
loại đất chua đến rất chua, nghèo hữu cơ, dung tích hấp thu thấp, các chất tổng số
nghèo, các chất dễ tiêu từ trung bình đến khá; hậu quả của kết cấu đất kém (tỷ lệ cát
chiếm đa số) dẫn đến hiện tượng trực di nước, sét và dinh dưỡng xuống tầng đất dưới
(tầng đất 20 - 40cm) diễn ra mạnh mẽ nhất ở mùa mưa: thời điểm tập trung chăm sóc,
bón phân cho cây mía.
Bảng 1. Kết quả phân tích đất trước và sau khi thí nghiệm
Trước khi bố trí thí nghiệm (tầng canh tác 0 - 25cm)
Địa điểm

Tỷ lệ cấp hạt (%)

pH
(H2O)

Chất tổng số (%)

CEC
cmol/
kg

Chất dễ tiêu
(ppm
/1000g đất)
P

4,71

1,76 0,10 0,040 0,036

15

30,7

64,2

3) Phủ lá hàng cách hàng

4,54

1,62 0,12 0,035 0,036

14

31,7

49,2

Nguồn: Phòng phân tích tổng hợp - Viện Nghiên Cứu Mía Đường.
190


Giữa các hình thức che phủ mặt đất sau thu hoạch mía vụ trước (che phủ ngọn,
lá mía hoàn toàn và che phủ ngọn, lá mía hàng cách hàng) không khác biệt về kết quả
phân tích đất so với ở hình thức đốt ngọn, lá mía hoàn toàn. Điều này cho thấy mặc dù
lượng ngọn, lá mía để lại sau khi thu hoạch là khá lớn, khoảng 5 - 15 tấn (chất khô)/ha;


CCS (%)

Tỷ lệ cây bị
sâu hại (%)

1.

Đốt ngọn, lá hoàn toàn (Đ/C)

61,4 b

12,55

34,2

2.

Phủ ngọn, lá hoàn toàn

72,2 a

12,85

28,6

3.

Phủ ngọn, lá hàng cách hàng


60
50
40
30
y = 7,2x + 55,417
R = 0,9124; P
Hình thức
Năng suất qui
Tổng thu Tổng chi Lợi nhuận
Tỉ suất
canh tác
Loại
chuẩn (tấn
(1.000đ) (1.000đ) (1.000đ/ha) lợi nhuận
sau thu
mía
10CCS/ha)
hoạch
Đốt ngọn,
Mía
77,1
29.298 11.741,4
17.556,6
1,50
lá hoàn
gốc 1
toàn
Phủ ngọn,
Mía
92,8
35.264 12.238,0
23.026
1,88
lá hoàn
gốc 1
toàn

hạn nói chung chủ yếu là đốt lá hoàn toàn ngay sau khi thu hoạch vụ mía trước. Như
vậy biện pháp kỹ thuật chăm sóc mía để gốc ngay sau khi thu hoạch mía vụ trước được
đề xuất như sau:
- Vén lá xen kẻ hàng cách hàng kết hợp xới xáo (có thể bón thúc sớm ngay
trước khi xới xáo bằng các loại phân chậm tan như DAP, NPK, …) đối với các trà mía
thu hoạch đầu vụ (tháng 10, 11) và cuối vụ (tháng 4, 5) khi đất đủ ẩm, thuận lợi cho
mía hấp thu dưỡng chất từ phân bón.
193


- Để lá hoàn toàn kết hợp vệ sinh xung quanh ruộng để phòng chống cháy đối
với các ruộng mía thu hoạch vào các tháng mùa khô (tháng 12; 1; 2; 3 và đầu tháng 4)
khi độ ẩm trong đất không đảm bảo, kết hợp xới xáo chăm sóc bằng dàn xới băm lá
giữa hàng từ thời điểm sau thu hoạch khoảng 1 tháng trở đi (có thể xới 2 lần/vụ mía
gốc).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Đình Dinh (1995). Yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất cây trồng và chiến lược quản
lý dinh dưỡng để phát triển nền nông nghiệp bền vững, Đề tài KN-01-01, Viện Thổ
nhưỡng - Nông hoá, Nhà xuất bản Nông nghiệp - Hà Nội, trang 5-32.
2. Lê Văn Dũ (2002). Một số kinh nghiệm canh tác mía không tưới ở Úc, Bộ môn Nông hóa
Thổ nhưỡng - Khoa Nông học - Đại học Nông Lâm - TP. HCM.
3. Trần Công Hạnh (1999). Nghiên cứu chế độ phân bón cho mía đồi vùng Lam Sơn Thanh
Hóa, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông Nghiệp I - Hà Nội.
4. Phan Gia Tân (1983). Cây mía và kỹ thuật trồng mía ở miền Nam, Nhà xuất bản Nông
nghiệp, TP. Hồ Chí Minh.
5. Nguyễn Huy Ước (1999). Cây mía và kỹ thuật trồng, Nhà xuất bản Nông nghiệp - TP. Hồ
Chí Minh.
6. De Gues J.G (1983). Hướng dẫn bón phân cho cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới. Tập II.
Cây công nghiệp. Nhà xuất bản nông nghiệp - Hà Nội, trang 3-50.
7. Mohan N., Arulraj S. (1987). Sugarcane technology, Sugarcane Breeding Institute,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status